ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
ĐỖ TIẾN THÀNH
XÂY DỰNG CHƢƠNG TRÌNH TRUYỀN THÔNG
MÔI TRƢỜNG CHO CỘNG ĐỒNG PHẬT GIÁO
TỈNH VĨNH PHÚC LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƢỜNG
Hà Nội - Năm 2012
Luận văn Thạc sĩ Khoa học môi trƣờng * Đỗ Tiến Thành – lớp
CHMTK18
Đề tài: XD chương trình truyền thông môi trường cho cộng đồng Phật tử tỉnh Vĩnh Phúc
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC HÌNH
DANH MỤC BIỂU
DANH MỤC BẢNG
MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN 3
1.1. Tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tỉnh Vĩnh Phúc 3
1.1.1. Điều kiện tự nhiên 3
1.1.2. Tình hình tăng trưởng kinh tế xã hội 5
1.1.3. Vai trò và tác động của tăng trưởng kinh tế đến đời sống xã hội và môi
trường 8
1.2. Tổng quan về Phật giáo Việt Nam 10
1.2.1. Sơ lược lịch sử phật giáo Việt Nam 10
1.2.2. Đặc điểm, cơ cấu tổ chức và phương châm hoạt động của Phật
giáo Việt Nam 12
1.3. Một số nét về truyền thông môi trƣờng. 15
1.3.1. Khái niệm về truyền thông, truyền thông môi trường 15
1.3.2. Mục tiêu, yêu cầu của truyền thông môi trường 18
thông 39
3.3. Đánh giá nhu cầu đào tạo truyền thông môi trường trong phật giáo 40
3.3.1. Xác định các nhóm đối tượng 40
3.3.2. Các nhu cầu từ các nhóm đối tượng liên quan 40
3.3.3. Xác định mục tiêu đào tạo 41
3.3.4. Nhu cầu đào tạo 41
3.4. Kết quả xây dựng chƣơng trình truyền thông môi trƣờng cho cộng
đồng Phật giáo Vĩnh Phúc 45
3.4.1. Nội dung truyền thông môi trường cho cộng đồng phật giáo Vĩnh Phúc 45
Luận văn Thạc sĩ Khoa học môi trƣờng * Đỗ Tiến Thành – lớp
CHMTK18
Đề tài: XD chương trình truyền thông môi trường cho cộng đồng Phật tử tỉnh Vĩnh Phúc
3.4.2. Phương pháp truyền thông môi trường cho cộng đồng Phật giáo Vĩnh phúc. . 74
3.5. Phương pháp đánh giá một chương trình truyền thông môi trường. 78
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 80
1. Kết luận 80
2. Khuyến nghị 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
HĐND:
Hội đồng nhân dân
ĐDSH
Đa dạng sinh học
Luận văn Thạc sĩ Khoa học môi trƣờng * Đỗ Tiến Thành – lớp
CHMTK18
Đề tài: XD chương trình truyền thông môi trường cho cộng đồng Phật tử tỉnh Vĩnh Phúc
DANH MỤC HÌNH
Hình 1. Vĩnh Phúc trong vành đai kinh tế 3
Hình 2. Mô hình truyền thông đơn giản 16
Hình 3. Bản đồ hành chính tỉnh Vĩnh Phúc 30
Hình 4. Cơm chay 50
Hình 5. Cánh đồng đang khát 51
Hình 6. Một số hình ảnh ô nhiễm môi trƣờng không khí 62
Hình 7. Cá Cóc Tam Đảo 65
Hình 8. Ảnh ngập úng do thiên tai tại tỉnh Vĩnh Phúc năm 2008 72
Hình 9. Vùng thiệt hại ngập lút trong trận lũ tháng 10/2008 72
Hình 10. Buổi thuyết pháp tại Thiền viện Trúc lâm Tây Thiên 75
Hình 11. Rừng thiền tại Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên 76
Hình 12. Thiền viện Trúc lâm Tây Thiên 77 DANH MỤC BIỂU
Biểu đồ 1. Tăng trƣởng kinh tế tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2001-2010 6
Biểu đồ 2 . GDP/ngƣời tỉnh Vĩnh Phúc so với cả nƣớc và Vùng ĐBSH 7
Biểu đồ 3. Nhu cầu tập huấn kiến thức môi trƣờng cho cộng đồng Phật giáo 42
Biểu đồ 4. Thời gian tập huấn kiến thức môi trƣờng 43
MỞ ĐẦU
Suy thoái môi trƣờng và biến đổi khí hậu đã và đang gây ra nhiều thảm họa,
tai biến trên toàn cầu. Khi đó, tính mạng của con ngƣời trên trái đất bị đe dọa bất
chấp không gian, giai cấp, tôn giáo cũng nhƣ đạo đức luân lý nào. Trách nhiệm đối
với môi trƣờng chính là nền tảng đạo lý của con ngƣời, nhằm hƣớng con ngƣời
quan tâm tới môi trƣờng mình đang sống và có ý thức trách nhiệm đối với sự sinh
tồn của hành tinh đang nuôi dƣỡng và bao bọc con ngƣời. Bảo vệ môi trƣờng chỉ có
thể đạt đƣợc hiệu quả khi thay đổi ý thức của con ngƣời.
Truyền thông môi trƣờng là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong các
nhiệm vụ quản lý, bảo vệ môi trƣờng. Truyền thông giúp nâng cao nhận thức về các
vấn đề môi trƣờng từ đó hƣớng hành vi của ngƣời đƣợc truyền thông có những hành
động thân thiện với môi trƣờng trong sinh hoạt, sản xuất. Ở tỉnh Vĩnh Phúc cộng
đồng phật tử chiếm số lƣợng rất lớn, hầu nhƣ làng, thôn nào cũng có nhà Chùa thu
hút nhiều phật tử tới dâng hƣơng, tụng kinh niệm phật. Đặc biệt còn có hai Thiền
viện lớn là: Thiền viện Trúc lâm Tây Thiên và Thiền viện Trúc lâm Tuệ Đức thu
hút nhiều phật tử thập phƣơng về tu thiền và du lịch tâm linh.
Trong quan điểm của đạo Phật, môi trƣờng là một trong những yếu tố bất
khả phân ly đối với sự sống, giữa môi trƣờng và sự sống của con ngƣời luôn có
mối quan hệ gắn bó khăng khít, bền chặt, cái này sinh cái kia. Do đó, đạo Phật
quan niệm bảo vệ môi trƣờng là trách nhiệm của tất cả mọi ngƣời, vì môi trƣờng
chính là sự sống của tất cả mọi ngƣời.
Chính vì thế, lồng ghép các hoạt động bảo vệ môi trƣờng trong các sinh hoạt
của cộng đồng phật giáo tỉnh Vĩnh Phúc là một trong những giải pháp quan trọng
nhằm tạo sự chuyển biến tích cực từ nhận thức tới hành động của cộng đồng về bảo
vệ môi trƣờng. Mặt khác với vai trò của đời sống phật giáo sự lan tỏa của các hoạt
động bảo vệ môi trƣờng từ hạt nhân các hoạt động sinh hoạt phật giáo chắc chắn sẽ
tạo ra những thay đổi tích cực và mang tính bền vững trong cộng đồng.
Luận văn Thạc sĩ Khoa học môi trƣờng * Đỗ Tiến Thành – lớp
CHMTK18
CHMTK18
Đề tài: XD chương trình truyền thông môi trường cho cộng đồng Phật tử tỉnh Vĩnh Phúc
3
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1. Tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tỉnh Vĩnh Phúc
1.1.1. Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý:
Vĩnh Phúc nằm trong khu vực châu thổ sông Hồng thuộc vùng trung du và
miền núi phía Bắc. Tính đến tháng 12/2009, tỉnh Vĩnh Phúc có diện tích tự nhiên
123.176,43 ha, gồm 9 đơn vị hành chính: thành phố Vĩnh Yên, thị xã Phúc Yên và 7
huyện: Lập Thạch, Sông Lô, Tam Dƣơng, Bình Xuyên, Tam Đảo, Vĩnh Tƣờng, Yên
Lạc với 112 xã, 12 thị trấn, 13 phƣờng.
Tỉnh Vĩnh Phúc tiếp giáp với các tỉnh:
- Phía tây bắc giáp với tỉnh Tuyên Quang
- Phía đông bắc giáp
với tỉnh Thái Nguyên
- Phía đông nam - nam
giáp với Thành phố Hà Nội
- Phía tây giáp với
tỉnh Phú Thọ
Vĩnh Phúc là tỉnh
thuộc vùng kinh tế trọng
điểm phía bắc, vành đai
thành phố vệ tinh của thủ đô
Hà Nội, là nơi thuận tiện cho
giao lƣu, buôn bán, vận
chuyển hàng hoá và hành
khách với nhiều tuyến đƣờng quan trọng chạy qua nhƣ: Quốc lộ 2A, đƣờng sắt Hà
Số giờ nắng trung bình năm từ 1.194 giờ đến 1.450 giờ, phân bố không đồng
đều trong năm, cao nhất vào tháng 7, tháng 8 và thấp nhất vào tháng 2.
Lƣợng mƣa từ 1.563 mm đến 2.218 mm, phân bố không đồng đều theo
không gian và thời gian. Về thời gian, mƣa tập trung chủ yếu từ tháng 5 đến tháng
10 (chiếm 80 % tổng lƣợng mƣa của cả năm). Về không gian, ở miền núi lƣợng
mƣa thƣờng lớn hơn ở đồng bằng và trung du. Lƣợng mƣa đạt mức kỷ lục năm
2008 với kết quả đo tại trạm Vĩnh Yên là 2.386,8 mm, tại trạm Tam Đảo là 2.838,2
mm. Độ ẩm trung bình trên địa bàn tỉnh khoảng 80,3% - 88,5%.
Có hai hƣớng gió chính: Đông Bắc và Đông Nam. Gió Đông Bắc thịnh hành
từ tháng 10 năm trƣớc đến tháng 3 năm sau thƣờng kèm theo sƣơng muối ảnh
hƣởng đến sản xuất nông nghiệp. Gió Đông Nam từ tháng 4 đến tháng 9 mang theo
nhiều hơi nƣớc và gây mƣa.
Luận văn Thạc sĩ Khoa học môi trƣờng * Đỗ Tiến Thành – lớp
CHMTK18
Đề tài: XD chương trình truyền thông môi trường cho cộng đồng Phật tử tỉnh Vĩnh Phúc
5
Vùng núi Tam Đảo có kiểu khí hậu quanh năm mát mẻ (nhiệt độ trung bình
18,5
o
C) cùng phong cảnh núi rừng xanh quanh năm, phù hợp cho phát triển các hoạt
động du lịch, nghỉ dƣỡng.
Mặc dù với lƣợng mƣa khá lớn nhƣng do phân bố không đều vào các tháng
trong năm, tập trung khoảng 85% vào các tháng mùa mƣa (từ tháng 4 đến tháng 11).
Vào mùa khô, đặc biệt là tháng 12, lƣợng mƣa trong tháng chỉ chiếm 1% lƣợng mƣa
cả năm.
1.1.2. Tình hình tăng trưởng kinh tế xã hội
Trong thời gian qua, mặc dù tình hình kinh tế toàn cầu bị suy giảm do khủng
hoảng tài chính, thiên tai, dịch bệnh diễn ra phức tạp làm ảnh hƣởng đến sản xuất và
Đề tài: XD chương trình truyền thông môi trường cho cộng đồng Phật tử tỉnh Vĩnh Phúc
7
Cùng với tốc độ tăng trƣởng nhanh của nền kinh tế, GDP bình quân đầu
ngƣời trong tỉnh cũng tăng khá nhanh. Năm 2000, GDP/ngƣời của tỉnh (giá thực tế)
mới chỉ đạt 3,83 triệu đồng, bằng 78,2% GDP vùng Đồng bằng sông Hồng và
67,2% so với cả nƣớc. Nhƣng đến năm 2007, GDP/ngƣời của tỉnh đã đạt 15,74 triệu
đồng, cao hơn so mức trung bình đồng bằng Sông Hồng (14,5 triệu đồng) và cao
hơn nhiều so với mức bình quân cả nƣớc (13,421 triệu đồng). Năm 2008, GDP bình
quân đầu ngƣời (theo giá thực tế) đạt 22,2 triệu đồng (tương đương khoảng 1.300
USD), cao gấp 1,29 lần so với mức bình quân chung cả nƣớc (17,2 triệu đồng). Năm
2010, dự kiến chỉ tiêu này đạt 29,1 triệu đồng, cao hơn nhiều so với dự kiến bình
quân cả nƣớc là 22,5 triệu đồng và mức bình quân các tỉnh ĐBSH là 25,5 triệu đồng.
Biểu đồ 2 . GDP/người tỉnh Vĩnh Phúc so với cả nước và Vùng ĐBSH
Nguồn: Vụ Kinh tế địa phương và lãnh thổ - Bộ KH & ĐT, 2009
Nhƣ vậy, xét về GDP/ngƣời Vĩnh Phúc có điểm xuất phát khá thuận lợi so với
nhiều tỉnh trong cả nƣớc, GDP bình quân đầu ngƣời của tỉnh năm 2007 xếp thứ 11 và
năm 2008 xếp thứ 6 trong tổng số 63 tỉnh, thành phố của cả nƣớc (chỉ thấp hơn các
tỉnh, thành phố: HCM, Hà Nội, Bình Dƣơng, Bà Rịa – Vùng Tàu và Cần Thơ).
Bảng 1. Một số chỉ tiêu so sánh tỉnh Vĩnh Phúc so với các tỉnh vùng KTTĐ Bắc Bộ
năm 2008
Luận văn Thạc sĩ Khoa học môi trƣờng * Đỗ Tiến Thành – lớp
CHMTK18
Đề tài: XD chương trình truyền thông môi trường cho cộng đồng Phật tử tỉnh Vĩnh Phúc
8
Tỉnh, thành phố
GDP/ngƣời (Tr.đ,
16,4
34,3
8,1
Hƣng Yên
12,9
11,20
35,0
8,0
Quảng Ninh
19,9
44,6
42,5
22,2
Cả nƣớc
17,2
28,1
37,5
12,8
Vùng KTTĐ Bắc Bộ
20,7
33,2
42,0
6,4
Nguồn: Viện Chiến lược phát triển
1.1.3. Vai trò và tác động của tăng trưởng kinh tế đến đời sống xã hội và môi trường
Tăng trưởng kinh tế tạo công ăn việc làm và tăng mức sống người dân:
Trong thời gian qua, số lao động đƣợc sắp xếp việc làm năm sau luôn cao
hơn năm trƣớc. Năm 2007 có 17,8 ngàn lao động đƣợc sắp xếp việc làm, năm 2010
ƣớc tính có khoảng 21 ngàn lao động đƣợc sắp xếp việc làm, trong đó số đƣợc sắp
xếp chỗ làm ổn định là 16 ngàn ngƣời. Tỷ lệ lao động thất nghiệp ở khu vực thành
Do nhiều diện tích đất sản xuất nông nghiệp bị chuyển đổi nên tại một số địa
phƣơng nhân nhân không còn đất sản xuất, một số ngƣời dân bị thất nghiệp do
không đƣợc chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp hợp lý; chính sách đền bù có nhiều
vƣớng mắc, một số dự án treo trong thời gian dài dẫn đến tình trạng khiếu nại tố cáo
đông ngƣời tại một số địa phƣơng.
Phát triển kinh tế nhanh nhƣng không đồng đều tại các khu vực làm gia tăng
khoảng cách giàu nghèo giữa khu vực thành thị và nông thôn. Vĩnh Phúc hiện vẫn
còn có 17 xã thuộc vùng khó khăn trong đó có 3 xã đặc biệt khó khăn. Chênh lệch
giàu nghèo ngày càng tăng, có sự chênh lệch lớn về thu nhập giữa ngƣời dân thành
Luận văn Thạc sĩ Khoa học môi trƣờng * Đỗ Tiến Thành – lớp
CHMTK18
Đề tài: XD chương trình truyền thông môi trường cho cộng đồng Phật tử tỉnh Vĩnh Phúc
10
thị và ngƣời dân nông thôn, theo ƣớc tính, thu nhập bình quân của một nhân khẩu ở
nông thôn chỉ bằng khoảng 60% so với một nhân khẩu ở thành thị.
Suy giảm chất lượng môi trường, hệ sinh thái và tài nguyên thiên nhiên:
Ô nhiễm môi trƣờng ở cả 3 khu vực công nghiệp, đô thị và nông thôn đều
đang có chiều hƣớng gia tăng về quy mô và mức độ; lƣợng chất thải phát sinh ngày
càng lớn trong khi năng lực xử lý (hạ tầng kỹ thuật và công nghệ) chƣa đáp ứng
đƣợc yêu cầu thực tế (đặc biệt là với chất thải phát sinh ở các cơ sở công nghiệp,
làng nghề; chất thải sinh hoạt và chăn nuôi ở khu vực nông thôn). Ô nhiễm môi
trƣờng đang làm ảnh hƣởng xấu đến đời sống sinh hoạt, sản xuất của ngƣời dân,
đang trở thành vấn đề hết sức bức xúc trong cộng đồng ở nhiều địa phƣơng.
Cùng với quá trình phát triển, một lƣợng lớn diện tích đất nông nghiệp bị
chuyển đổi thành đất công nghiệp, đô thị; trong sản xuất nông nghiệp, việc sử dụng
không hợp lý phân bón hoá học và thuốc bảo vệ thực vật, vì vậy tài nguyên đất bị suy
giảm đáng kể. Bên cạnh đó, tài nguyên nƣớc cũng đang bị suy giảm do tiếp nhận một
lƣợng lớn chất thải chăn nuôi, công nghiệp, sinh hoạt và diện tích nƣớc mặt bị giảm
âm trực tiếp sang tiếng việt là: “Bụt”. Dân gian coi Bụt nhƣ một vị thần tiên hay
xuất hiện để giúp đỡ ngƣời ngèo khổ, hiền lành. Nhiều nghiên cứu xác nhận Phật
đƣợc truyền trực tiếp từ Ấn Độ và Việt Nam (thời đó gồm Giao Chỉ ở phía bắc và
Chăm Pa ở phía Nam) theo đƣờng Biển chức không phải từ Trung Hoa nhƣ một số
quan niệm trƣớc đây (Phật giáo Việt Nam. http://vi.wikipedia).
Một số mốc thời gian quan trọng trong lịch sử Phật giáo Viêt Nam
- Thế kỷ thứ III- thế kỷ thứ II TCN: đạo Phật nguyên thủy đƣợc truyền vào
Giao Chỉ và Chăm Pa.
- Năm 189 CN: Lý Hoặc Luận, tác phẩm về đạo Phật bằng chữ Hán đầu tiên
đƣợc Mậu Tử viết tại Giao Chỉ.
- Năm 247 CN: Khƣơng Tăng Hội thiền sƣ ngƣời Việt đầu tiên sang Đông
Ngô truyền đạo
- Năm 580: thành lập Thiền phái Tì-ni-đa-lƣu-chi (Chùa Dâu, Thuận Thành,
Bắc Ninh).
- Năm 820: thành lập thiền phái Vô Ngôn Tông (Chùa Kiến Sơ, làng Phù
Đổng, Gia Lâm, Hà Nội).
- Năm 1009: Nhà Lý ra đời, mở đầu cho thời kỳ cực thịnh của đạo Phật tại
Việt Nam kéo dài 400 năm.
Luận văn Thạc sĩ Khoa học môi trƣờng * Đỗ Tiến Thành – lớp
CHMTK18
Đề tài: XD chương trình truyền thông môi trường cho cộng đồng Phật tử tỉnh Vĩnh Phúc
12
- Năm 1069: Thành lập Thiền Phái Thảo Đƣờng do ba vua nhà Lý kiêm thiền
sƣ là Lý Thánh Tông, Lý Anh Tông và Lý Cao Tông.
- Năm 1299: Thành lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử Thiền phái Phật giáo
của Việt Nam đầu tiên của Việt Nam theo hƣớng nhập thế do Phật Hoàng Trần
Nhân Tông khởi xƣớng.
- Năm 1400: Nhà Trần mất; Nhà Hậu Lê tôn Nho học làm quốc giáo; Phật
Phƣơng châm hoạt động của Giáo hội là: "Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã
hội". Mục đích của Giáo hội là điều hoà hợp nhất các hệ phái Phật giáo Việt Nam
trong cả nƣớc để hộ trì hoằng dƣơng Phật pháp; tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc, phục vụ Dân tộc, góp phần xây dựng hoà bình, an lạc cho thế giới. Giáo hội
Phật giáo Việt Nam là tổ chức Giáo hội duy nhất đại diện cho tăng ni, phật tử Việt
Nam trong và ngoài nƣớc, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật của
nƣớc Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trụ sở của Giáo hội đặt tại chùa Quán
Sứ, số 73 phố Quán Sứ, Hà Nội.
Hệ thống tổ chức của Giáo hội Phật giáo Việt Nam hiện tại có 3 cấp: Cấp
Trung ƣơng gồm có Hội đồng Chứng minh (HĐCM) và Hội đồng trị sự (HĐTS);
cấp tỉnh, thành phố có Ban Trị sự Tỉnh, Thành hội Phật giáo với số lƣợng không
quá 47 thành viên. Ở các quận, huyện có Ban Đại diện Phật giáo với số lƣợng
không quá 15 thành viên. Những xã phƣờng, thị trấn có nhiều tự viện, tịnh xá, tịnh
thất, niệm phật đƣờng và tăng ni, cƣ sĩ, phật tử thì Ban Đại diện Phật giáo giới thiệu
để Ban Trị sự Tỉnh, Thành hội bổ nhiệm một vị đại diện xã, phƣờng, thị trấn hay
liên phƣờng, xã, thị trấn tại địa phƣơng để giúp Ban Đại diện Phật giáo quận,
huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh liên hệ với các cơ sở của Giáo hội về mặt sinh
hoạt tín ngƣỡng. Hội đồng Chứng minh (HĐCM) gồm các vị hoà thƣợng tiêu biểu
của các hệ phái Phật giáo Việt Nam, có 70 tuổi đời, 50 tuổi đạo trở lên, không giới
hạn số lƣợng, do Hội đồng Trị sự giới thiệu và đƣợc Đại hội Phật giáo toàn quốc
suy tôn. Các vị hoà thƣợng trong HĐCM tại vị trọn đời, trƣờng hợp đặc biệt mới
phải phế vị do quyết định của HĐCM với đa số quá bán biểu quyết tán thành.
HĐCM suy cử một Ban Thƣờng trực gồm có Đức Pháp chủ, các vị phó Pháp chủ,
các vị Giám luật, một vị Chánh Thƣ ký, các vị phó Thƣ ký. HĐCM có nhiệm vụ:
Luận văn Thạc sĩ Khoa học môi trƣờng * Đỗ Tiến Thành – lớp
CHMTK18
Đề tài: XD chương trình truyền thông môi trường cho cộng đồng Phật tử tỉnh Vĩnh Phúc
14
Đề tài: XD chương trình truyền thông môi trường cho cộng đồng Phật tử tỉnh Vĩnh Phúc
15
có 126 Tuệ Tĩnh đƣờng, hơn 1000 lớp học tình thƣơng và nhiều cơ sở từ thiện xã
hội khác.
Quan hệ quốc tế của Giáo hội tiếp tục đƣợc mở rộng với hàng trăm hoạt
động thăm viếng, hội thảo khoa học, giao lƣu trao đổi về Phật sự và văn hoá, từ
thiện xã hội với các nƣớc trong khu vực và trên thế giới Đặc biệt, với sự đăng
cai của Chính phủ, Giáo hội đã phối hợp với Ủy ban Tổ chức quốc tế (IOC) tổ chức
thành công rực rỡ Đại lễ Vesak năm 2008 tại Việt Nam. Các hoạt động đó đã góp
phần nâng cao vị thế, hình ảnh tốt đẹp của Việt Nam với bạn bè quốc tế.
(Ban Tôn giáo Chính phủ, Tôn giáo và Chính sách Tôn giáo ở Việt Nam
(2006), Hà Nội)
1.3. Một số nét về truyền thông môi trƣờng.
1.3.1. Khái niệm về truyền thông, truyền thông môi trường
* Khái niệm về truyền thông
Truyền thông tồn tại từ khi có con ngƣời, nhƣng chỉ gần đây mới đƣợc
nghiên cứu về mặt khoa học. Lý luận thông tin đóng vai trò quan trọng trong nghiên
cứu truyền thông. Truyền thông đƣợc nghiên cứu theo lý luận ngôn ngữ học tâm lý,
việc hiểu ngôn ngữ gắn liền với cơ chế tri giác. Xã hội học quan tâm tới tác động
của cấu trúc xã hội, quan hệ xã hội trong quá trình truyền đạt, tiếp nhận thông tin.
Truyền thông (communication) là quá trình chia sẻ thông tin. Truyền thông
là một kiểu tƣơng tác xã hội trong đó ít nhất có hai tác nhân tƣơng tác lẫn nhau, chia
sẻ các qui tắc và tín hiệu chung. Ở dạng đơn giản, thông tin đƣợc truyền từ ngƣời
gửi tới ngƣời nhận. Ở dạng phức tạp hơn, các thông tin trao đổi liên kết ngƣời gửi
và ngƣời nhận. Phát triển truyền thông là phát triển các quá trình tạo khả năng để
một ngƣời hiểu những gì ngƣời khác nói (ra hiệu, hay viết), nắm bắt ý nghĩa của các
thanh âm và biểu tƣợng, và học đƣợc cú pháp của ngôn ngữ.
Luận văn Thạc sĩ Khoa học môi trƣờng * Đỗ Tiến Thành – lớp
quan hệ phụ thuộc lẫn nhau của chúng và cách tác động vào các vấn đề có liên quan
một cách thích hợp để giải quyết các vấn đề về môi trƣờng.
Luận văn Thạc sĩ Khoa học môi trƣờng * Đỗ Tiến Thành – lớp
CHMTK18
Đề tài: XD chương trình truyền thông môi trường cho cộng đồng Phật tử tỉnh Vĩnh Phúc
17
Nhƣ vậy, truyền thông môi trƣờng không nhằm quá nhiều vào việc phổ biến
thông tin mà nhằm vào việc chia sẻ nhận thức về một phƣơng thức sống bền vững và
nhằm giải quyết các vấn đề môi trƣờng cho các nhóm ngƣời trong cộng đồng xã hội.
Tuy nhiên, truyền thông môi trƣờng rất đặc biệt vì:
- Môi trƣờng là một hệ thống phức tạp.
- Tác động và hậu quả của các hành vi không phù hợp với môi trƣờng không
thể dễ dàng thấy đƣợc ngay.
- Nhiều ngƣời đang gây tác động đến môi trƣờng bởi các hành vi thƣờng
xuyên đã trở thành thói quen, tập quán trong xã hội.
- Những hành vi phù hợp với môi trƣờng thƣờng không mang lại lợi nhuận
trực tiếp.
- Đối tƣợng truyền thông là những ngƣời có trình độ học vấn, chuyên môn,
kinh nghiệm sống, vị trí xã hội rất khác nhau.
- Ngƣời làm truyền thông môi trƣờng có thể công tác ở các lĩnh vực khác nhau.
- Do đó, mục tiêu của truyền thông môi trƣờng phải gắn liền với cộng đồng
qua các nội dung cụ thể sau:
+ Thông tin cho ngƣời bị tác động bởi các vấn đề môi trƣờng biết tình trạng
của họ, từ đó làm họ quan tâm đến việc tìm kiếm các giải pháp khắc phục.
+ Huy động các kinh nghiệm, kỹ năng, bí quyết địa phƣơng tham gia vào các
chƣơng trình, kế hoạch bảo vệ môi trƣờng.
+ Thƣơng lƣợng, hoà giải các xung đột, khiếu nại, tranh chấp về môi trƣờng
giữa các cơ quan trong nhân dân .