BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
KHOA CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM
o0o VÕ THỊ HỒNG KHẢO SÁT TÌNH HÌNH NHIỄM
CHLORAMPHENICOL TRÊN HẢI SẢN KHAI THÁC
TẠI KHÁNH HÒA ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM
GVHD:TS. NGUYỄN THUẦN ANH
KHÁNH HÒA - 2014
i MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN 3
1.1 Tìm hiểu về hoạt động cung cấp hải sản khai thác tại khánh hòa 3
1.1.1. Tổng quan về các loại hình khai thác hải sản tại Khánh Hòa 3
1.1.2. Hoạt động cung cấp hải sản ở Khánh Hòa 8
1.1.3. Thực trạng bảo quản hải sản khai thác hiện nay 22
1.2. Tổng quan về kháng sinh chloramphenicol 26
1.2.1. Nguồn gốc 26
1.2.2. Tính chất 26
1.2.3. Cơ chế kháng khuẩn 27
1.2.4. Tác dụng và tác hại 28
1.2.5. Các quy định có liên quan 30
1.2.6. Tình hình nhiễm Chloramphenicol trong hải sản khai thác 31
1.2.7. Phương pháp xác định Chloramphenicol trong thủy sản 35
1.3. Quản lý chất lượng bằng biểu đồ xương cá 42
1.3.1. Định nghĩa 42
1.3.2. Mục đích 43
1.3.3. Cách thức xây dựng biểu đồ xương cá 44
1.3.4. Ứng dụng của biểu đồ xương cá 45
CHƢƠNG 2
ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 47
3.3. Đề xuất biện pháp bảo đảm ATVSTP tại Khánh Hòa 83
3.3.1. Trang thiết bị bảo quản 83
3.3.2. Những người tham gia cung cấp hải sản 83
3.3.3. Môi trường 84
iii 3.3.4. Kỹ thuật khai thác 84
3.3.5. Công tác quản lý 84
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 86
Kết Luận 86
Đề xuất 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
PHỤ LỤC
Nghị Định
NN & PTNT
Nông nghiệp và Phát Triển nông thôn
QCVN
Quy chuẩn Việt Nam
QĐ
Quyết định
QLCL – ATVS &TY
TS
Quản lý chất lượng – An toàn vệ sinh và Thú y Thủy
sản
KT&BVNL
Khai thác và bảo vệ nguồn lợi
QLCLNLTS
Quản lý chất lượng nông lâm thủy sản
TT
Thông tư
TTXVN
Thông tấn xã Việt Nam
UBND
Ủy ban nhân dân vii DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1. Đặc điểm của từng loại hình khai thác 4
Bảng 1.2. Số lượng tàu thuyền hoạt động đánh bắt xa bờ 9
Hình 1.2. Cấu trúc phân tử của CAP 27
Hình 2.1. Sơ đồ nội dung thực hiên của đề tài 48
Hình 3.1. Tỷ lệ mẫu nhiễm CAP trong hải sản khai thác được lấy mẫu tại cảng, chợ,
cơ sở thu mua 53
Hình 3.2. Hàm lượng CAP trung bình (µg/kg) trong hải sản khai thác được lấy mẫu
tại cảng, chợ, cơ sở thu mua. 54
Hình 3.3. Tỷ lệ mẫu nhiễm CAP trong các loài hải sản khác nhau (cá Nục, cá Ngừ,
cá Đổng, Mực, cá Cờ, cá Nục) tại Khánh Hòa. 56
Hình 3.4 Hàm lượng CAP trung bình của các hải sản (cá Nục, cá Ngừ, cá Đổng,
Mực, cá Cờ, cá Nục) tại Khánh Hòa. 57
Hình 3.5. Sơ đồ khung xương cá xác định chi tiết các nguyên nhân hải sản khai thác
tại Khánh Hòa bị nhiễm Chloramphenicol. 62
1 MỞ ĐẦU
Dư lượng kháng sinh trong thực phẩm hiện là vấn đề quan ngại của hầu hết
các cơ quan kiểm soát thực phẩm trên thế giới bởi những tác hại mà nó gây ra trong
đó có Chloramphenicol. Chloramphenicol là một kháng sinh được liệt vào danh
sách cấm sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh thủy sản do các tác hại mãn
tính của nó đối với sức khỏe của con người. Tuy nhiên, cũng cần phải thấy rằng ở
Việt Nam quy định này chỉ khắt khe cho sản phẩm thủy sản nuôi. Đối với nguyên
liệu nguồn như từ khâu khai thác, thu mua và bảo quản thì việc kiểm tra vẫn còn bỏ
ngỏ. Hải sản có nguy cơ bị nhiễm kháng sinh Chloramphenicol từ khâu khai thác,
thu mua và bảo quản là rất cao.
Hải sản bị nhiễm hóa chất kháng sinh cấm sử dụng không chỉ ảnh hưởng tới
sức khỏe người tiêu dùng mà còn gây thiệt hại lớn cho ngành thủy sản xuất khẩu
của đất nước. Thực trạng hải sản bị nhiễm hóa chất kháng sinh cấm sử dụng đang là
mối quan tâm lo lắng của nhiều cấp, nhiều ngành và của người dân trong cả nước
nói chung và tỉnh Khánh Hòa nói riêng.
3 CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1. Tìm hiểu về hoạt động cung cấp hải sản khai thác tại khánh hòa
1.1.1. Tổng quan về các loại hình khai thác hải sản tại Khánh Hòa
Nghề khai thác hải sản ở nước ta rất đa dạng và phong phú về quy mô cũng
như tên gọi. Hiện có 40 loại nghề khác nhau, được xếp vào 7 họ nghề chủ yếu: nghề
lưới kéo, nghề lưới vây, nghề lưới rê, nghề câu, nghề lưới vó, mành và nghề cố
định. Tính đến năm 2010, nghề lưới kéo chiếm 17% cơ cấu nghề khai thác ở nước
ta, nghề lưới rê 36%, nghề câu 17%, nghề lưới vây trên 4%, nghề cố định 3% và
các nghề khác chiếm trên 12% (BNN & PTNT, 2012).
Trong những năm qua, Khánh Hòa là một tỉnh có năng lực nghề khai thác
đứng trong nhóm 5 tỉnh có nghề khai thác phát triển mạnh trong cả nước. Nghề khai
Tàu 45
≤250 CV.
Có dàn đèn
thu hút mực
được lắp đặt
ở hai bên
mạn trái và
phải ca bin
của tàu.
Mực ống và
một số loài
cá nổi khác.
Đánh bắt xa
bờ.
Tàu sử dụng các bóng đèn cao
áp lôi cuốn mực đến gần tàu,
sau đó tắt dần hết các bóng, chỉ
sử dụng đèn gom mực để lôi
cuốn mực lên mặt nước và tập
trung ở vùng dưới thân tàu và
tiến hành tháo các liên kết góc
lưới, lưới tự động xuống bao
phủ không gian nước chứa dàn
mực. Khi thu lưới, miệng lưới
thắt lại nhờ hệ thống vòng
khuyên và mực dồn vào đụt
lưới.
Bảo quản chủ yếu bằng khay
nhựa, có trang bị dự phòng túi
PE để sử dụng khi thiếu khay
tầng đáy và
gần như cá
bơn, cá
lượng, mực,
cá ngừ, cá
trích, cá nục
…
Từ vùng ven
biển đến vùng
khơi nơi có
nền đáy biển
tương đối bằng
phẳng, độ sâu
thường từ 20-
100m.
Lưới có dạng hình côn. Miệng
lưới được mở bằng 2 tấm ván
phẳng, ván mở được cột chặt
bằng dây vào 2 bên miệng
lưới, giữa viền phao và viền
đáy. Lưới được kéo dọc dưới
đáy biển, miệng lưới mở ra
trong suốt quá trình hoạt động.
Sử dụng khay nhựa kết hợp
với túi PE để đựng cá trong
hầm bảo quản. Khay
nhựa chủ yếu được sử dụng
để bảo quản các đối tượng
khai thác có giá trị kinh tế
cao, các đối tượng có giá trị
Hòa - Ninh
Thuận, vùng
biển Đông -
Tây Nam bộ.
Lưới có cỡ mắt lưới phù hợp
với loại cá muốn bắt, được đặt
ở các độ sâu khác nhau. Khi cá
lội ngang qua, mang của chúng
sẽ bị vướng mắc vào lưới
Dụng cụ chủ yếu để đựng cá
là khay nhựa. Đối với các cá
thể cá có kích thước lớn và
giá trị kinh tế cao (chủ yếu cá
là cá thu), ngư dân sử dụng túi
PE để bọc cá, còn các đối
tượng khác ngư dân sử dụng
phương thức muối xá.
Tháng 1 đến
tháng 5
hàng năm.
6
Nghề
lƣới
vây
Tàu: ≤
155CV
to, cá không bị đóng vào lưới
mà chỉ bị nhốt trong chảo.
Người ta kéo lưới áp mạng tàu,
dồn cá tập trung về một chỗ, cá
được đặt vào vị trí khoang tàu.
- Nghề lưới vây cá cơm đều
trang bị khay, giỏ và thùng
chứa cá.
- Khay nhựa chủ yếu được sử
dụng để chứa đựng các loài cá
lớn và mực.
Mùa vụ
đánh bắt
chính từ
tháng 2 đến
tháng 5
hàng năm,
lưới vây cá
cơm có thể
đánh bắt đến
tháng 9.
7 Nghề
câu
Tàu công
suất ≤
155CV,
kết cấu
cá thu, cá
kiếm
Ngư trường
hoạt động
phần lớn là
vùng biển
khơi, có khi
cách xa bờ
hàng trăm hải
lý.
Hệ thống dây câu được trải dài
dưới đáy biển, với nhiều lưỡi
câu và mồi được mắc vào lưỡi
có thể kéo dài hàng km.
- Túi PE hoặc túi vải để bọc cá,
tránh sự tiếp xúc trực tiếp
giữa đá và cá nhằm tránh trầy
xước cá.
- Nghề câu mực đại dương chủ
yếu sử dụng túi PE để bảo
quản sản phẩm.
- Nghề câu cá vàng đáy sử dụng
dụng cụ bảo quản chủ yếu là
bao PE.
Từ tháng 1
đến tháng 7
âm lịch
8
Siêu
thị
Nhà hàng
Cơ sở chế
biến hải sản
Người tiêu dùng
Tàu cá
Cơ sở thu
mua/bán hải sản
Cảng cá
Chợ
Siêu thị
Nhà hàng
Cơ sở chế biến
hải sản
Người tiêu dùng
Tàu cá
Cơ sở thu mua/bán
Cảng cá
9 Khánh Hòa, có quan hệ mua hàng trực tiếp với ngư dân, sau đó phân phối cho tất cả
mắt xích khác gồm chợ cá, cơ sở chế biến, nhà hàng, siêu thị và các đối tượng mua
hàng nhỏ, lẻ khác. Người buôn bán quy mô nhỏ sẽ thu mua và bày bán tại chợ cá
đây là địa điểm thông dụng nhất cho người tiêu dùng Khánh Hòa nói riêng và trong
cả nước nói chung lựa chọn để mua hải sản. Mỗi mắt xích đều có chức năng và hoạt
động cung cấp hải sản đến người tiêu dùng cuối cùng. Trong phạm vi đề tài chỉ tìm
xét đến các mắt xích cung ứng hải sản chính đó là: Tàu cá, cảng cá, chợ cá và cơ sở
9.703
9.782
9818
( Nguồn: Chi cục KT&BVNL thủy sản Khánh Hòa, năm 2013)
Số lượng tàu khai thác hải sản ở Khánh Hòa khá lớn nhưng chủ yếu công
suất nhỏ; có tới hơn 80% phương tiện không đủ điều kiện đánh bắt xa bờ. Khánh
Hòa vẫn đang đứng trước những thử thách lớn do số lượng phương tiện không đủ
điều kiện đánh bắt xa bờ (dưới 20CV) là 5593.932 chiếc chiếm 42,60 %. Dưới đây
là năng lực tàu thuyền theo nhóm công suất và nghề được thể hiện qua bảng 1.3 :
10 Bảng 1.3. Năng lực tàu thuyền theo nhóm công suất và nghề năm 2013
Nghề
Công suất
Tổng
0-
<20
20-
<50
50-
<90
90-
<250
250-<400
400-<4000
Câu
767
253
25
407
26
8
0
0
2141
Lưới quét
2
39
49
3
0
0
93
Mành
720
732
37
12
9
1
1511
Nghề khác
1840
157
9
5
1
1
2013
444
232
9818
Tỷ lệ (%)
56.31
25.75
11.83
5.1
4.5
2.3
∑ số tàu thuyền
trong tỉnh
∑= 9818 chiếc
( Nguồn: Chi cục KT& BVNL thủy sản Khánh Hòa, năm 2013)
Đa số các tàu cá ở Đông Nam Á hiện nay, việc bảo quản thủy sản trên tàu
chủ yếu vẫn bằng cách ướp đá lạnh. Với biện pháp này nhiệt độ của cá dao động
trong khoảng 0-5
o
C thời gian bảo quản cho phép 5-10 ngày (Nguyễn Hữu Khánh, 2012).
Các tàu thuyền khai thác xa bờ ở Khánh Hòa đều đóng bằng gỗ, 87% tàu thuyền sử
dụng sơn để xử lý mặt ngoài vỏ tàu và mặt boong. Trong đó: tàu lưới kéo: 85%; tàu
lưới vây cá cơm: 70%, tàu lưới vây thưa: 99,5%; tàu câu cá ngừ đại dương: 87%;
tàu lưới rê thu ngừ: 57%, tàu lưới rê khác: 60,9%; tàu chụp mực: 98%, chỉ có 13%
11 tàu thuyền sử dụng Compozit để trát lớp xử lý mặt ngoài. Đặc điểm của tàu vỏ gỗ là
nhẹ, nguyên vật liệu dễ kiếm, dễ thi công phù hợp với mọi loại nghề khai thác hiện
thuyền và hoạt động của ngư dân trong vùng. Đặc biệt là chợ Thủy sản Nam Trung bộ
tại Nha Trang đã và đang thu hút một lượng lớn thủy sản về Khánh Hòa.
Toàn tỉnh hiện có 5 cảng cá gồm: Hòn Rớ, Vĩnh Lương, Vĩnh Trường, Đá
Bạc, Đại Lãnh. Trong số này, chỉ có cảng Hòn Rớ đạt tiêu chuẩn cảng cá loại 1. Các
cảng còn lại đều thuộc loại 2, 3. Ngoài Cảng cá Vĩnh Trường nằm trong diện quy
hoạch không thể đầu tư, Cảng cá Vĩnh Lương, Đá Bạc, Đại Lãnh chưa đạt tiêu
chuẩn của ngành. Trong đó, hầu như các cảng chưa được đầu tư xây dựng kho lạnh,
nhà điều hành, nhà phân loại cá, hệ thống cấp thoát nước, xử lý nước thải (Anh
Tuấn, 2012). Hiện nay Khánh Hòa đang tiếp tục đầu tư xây dựng, nâng cấp một số
cảng cá (như: Vĩnh Lương, Hòn Rớ) góp phần cải thiện, nâng cao chất lượng hoạt
động của các cảng cá, đáp ứng đầy đủ nhu cầu dịch vụ thủy sản thông qua việc quản
lý tàu thuyền, cung ứng nhiên liệu, giải phóng tàu nhanh, giảm thời gian nằm bờ,
tăng thời gian khai thác trên biển (Nguyễn Trang, 2013).
a. Cảng cá Hòn Rớ
Cảng cá Hòn Rớ - Chợ Thủy sản Nam Trung Bộ tại đường Nguyễn Xí, TP
Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Cảng thành lập theo Quyết định số 4706/QĐ – UBND
ngày 30/11/1999 của UBND tình Khánh Hòa. Năm 2000, cảng được xây dựng cơ
sở vật chất kết cấu hạ tầng và chính thức đưa vào sử dụng từ ngày 26/11/2003 cho
đến nay với Cảng cá Hòn Rớ - chợ Thủy sản Nam Trung Bộ có tổng diện tích
8200m
2
và chia làm 3 khu cực chính. Diện tích trong chợ là 4860m
2
, diện tích văn
phòng là 3340m
2
, công suất 500 tấn thủy sản 1 ngày, quy mô cầu tàu dài 200x7m
đảm bảo cho tàu có công suất 500CV ra vào, bốc dỡ hàng thủy sản, là một trong ba
cảng cá lớn nhất của Khánh Hòa.
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động nghề cá trong khu vực Nam
đích thu mua, cá được vận chuyển đi bởi các xe bảo ôn lớn, nhỏ khác nhau về công
ty, nhà máy chế biến các sản phẩm đông lạnh hay phân loại, sắp xếp vào các xịa,
giỏ cá lớn rồi bày bán ngay tại chợ cảng cùng các tiểu thương. Tại cảng Hòn Rớ
_chợ thủy sản Nam Trung Bộ có tất cả 14 cơ sở thu mua lớn: Vựa cá Mười Hạnh,
vựa cá Thanh Trang, Hoàng Long Nhị, vựa cá Tám Đuộng, vựa cá Thái Thủy, vựa
cá Phước Sanh, vựa cá Phúc Diệp, vựa cá Phúc Hai, vựa cá A9, vựa cá Bích Tèo,
14 vựa cá B9, vựa cá Tèo Công, Công ty TNHH Bền Vững, Công ty TNHH Long Hải
đăng kí hoạt động thu mua.
b. Cảng cá Vĩnh Lƣơng
Cảng cá Vĩnh Lương ở Thôn Lương Sơn, xã Vĩnh Lương, đầu tư xây dựng
giai đoạn 1 vào năm 2006 với tổng vốn hơn 8 tỷ đồng. Đến năm 2009, cảng được
giao về UBND tỉnh, do Sở NN & PTNT trực tiếp quản lý và chính thức đi vào hoạt
động năm 2010. Cầu cảng được xây dưng có chiều dài 105×8m, cầu phụ dài
40×3m.
Ngày cao điểm, cảng đón 36 lượt tàu, sản lượng khai thác hơn 150 tấn hải
sản các loại. Tuy nhiên, cầu tàu chỉ có tổng chiều dài 100m, bề rộng 9m nên mỗi
lượt, cảng chỉ có thể cho phép chừng 10 - 15 tàu cập bến. Chính vì thế, vào vụ cao
điểm, các tàu cá thường phải chờ từ 3 - 4 tiếng đồng hồ để xuống hàng. Mọi hoạt
động mua bán hải sản diễn ra ở đây khá nhếch nhác. Do không có nhà phân loại nên
việc phân loại cá, lấy nguyên liệu… đều diễn ra ngay tại khu vực cầu tàu chật
hẹp. Hiện nay cảng đang được đầu tư nâng cấp, mở rộng với tổng số vốn 1,2 triệu
USD (khoảng 26 tỷ đồng) từ nguồn vốn vay của Ngân hàng Thế giới. Dự án này
đang được Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông tỉnh Khánh Hòa làm chủ đầu tư
(Đình Lâm, 2014). Tại cảng không có hệ thống làm nước đá, chủ yếu được lấy từ
các cơ sở trong huyện, thành phố Nha Trang. Do đó các chủ tàu thuyền, cơ sở thu
mua, thương lái luôn trong tình trạng thiếu nước đá. Và tại cảng cũng không có kho
bảo quản đông để bảo quản nguyên liệu, tất cả được bảo quản bằng đá.
Thủy, Bùi Thị Nhớ, Nguyễn Thị Tâm và Nguyễn Thị Điểm, Trần Thị Chín và
Nguyễn Ngọc Dân, Nguyễn Văn Hải, Nguyễn Thị Cảnh và Nguyễn Thị Nào, Trần
Văn Thụy, Nguyễn Thị Sai.
d. Cảng Đá Bạc
Cảng Đá Bạc nằm trên đường Nguyễn Trãi, Ba Ngòi, Thành phố Cam Ranh.
Bến cập tàu theo kiểu bến nhô, có chiều rộng 15m; chiều dài 60 m. Cảng hiện là nơi
neo đậu, làm hàng cho tàu thuyền đánh bắt thủy sản trong vùng và đi lại, giao thông
giữa các tuyến đảo. Phạm vi hấp dẫn của cảng chủ yếu là khu vực Nam Khánh Hòa
và Bắc Ninh Thuận, có nhiệm vụ quản lý, nâng cao chất lượng dịch vụ cảng cá và
hậu cần nghề cá nhằm tạo điều kiện khai thác, lưu thông các sản phẩm đánh bắt,
16 cung ứng kịp thời nhiên liệu, nhu yếu phẩm cho tàu thuyền và giao nhận hàng tại
cảng. Tuy nhiên, do được xây dựng từ thời Pháp thuộc, sau một thời gian khai thác
quá mức, cảng cá Đá Bạc đã xuống cấp trầm trọng. Sản lượng hàng hóa, tàu thuyền
lưu thông qua cảng đạt thấp.
Hiện nay, nhu cầu sử dụng cảng cá của ngư dân rất lớn. Nhằm tạo điều kiện
cho khai thác, lưu thông các sản phẩm đánh bắt, cung ứng kịp thời nhiên liệu, nhu
yếu phẩm cho tàu thuyền đánh bắt thủy sản, Ngành Nông nghiệp Khánh Hòa đã
không ngừng đầu tư xây dựng, nâng cao chất lượng dịch vụ cảng cá và dịch vụ hậu
cần nghề cá ở các địa phương trong tỉnh. Ngoài sự hỗ trợ của ngành Nông nghiệp và
địa phương về đầu tư cơ sở hạ tầng cảng theo hướng hiện đại, tiên tiến, Ban quản lý
cảng còn tập trung đổi mới thiết bị, công nghệ, nâng cao năng suất và chất lượng
dịch vụ hậu cần tại cảng như: hệ thống dịch vụ cung cấp nhiên liệu, điện, nước,
trang thiết bị nghề cá và an toàn hàng hải. Cùng với cảng cá Vĩnh Trường, Hòn Rớ,
Vĩnh Lương, Cảng cá Đá Bạc đã và đang phát huy hiệu quả, tạo đòn bẩy cho ngành
thủy sản Khánh Hòa tăng trưởng mạnh mẽ.
Số lượng tàu ra vào cảng Đá Bạc trong năm là rất lớn. Khi có bão thì trong
khu vực neo đậu của cảng có thể chứa 120 tàu thuyền với công suất >90CV. Ngoài
Lãnh thuộc cảng cá loại 2 nhưng đang bị quá tải, thường xuyên diễn ra tình trạng rất
nhiều tàu phải xếp hàng chờ nhiều giờ liền mới cập cảng được, gây không ít khó
khăn và trở ngại cho ngư dân.
Cơ sở hạ tầng của cảng cá còn yếu, không có hệ thống kho lạnh, cũng như
các phương tiện phục vụ bốc dỡ hiện đại. Cảng cá còn thể hiện nhiều điểm bất tiện
trong quá trình hoạt động như thiếu hệ thống bậc thang để thuận tiện cho việc vận
chuyển nguyên liệu lên cảng khi thủy triều xuống, không có hệ thống rãnh dẫn nước
gây ứ đọng nước làm ô nhiễm môi trường.
Các tàu thuyền cập cảng của không ổn định, buổi sáng thường khoảng 2h-3h
sáng, buổi chiều 14h -15h. Đa số các tàu thường khai thác vào các ngày tối trời, trừ
các ngày trăng khoảng 12-18 âm lịch hàng tháng. Riêng đối với giã cào thì có thể
khai thác vào tất cả các ngày.
Hình thức khai thác của các tàu thuyền chủ yếu là gần bờ, với nhiều loại hình
khai thác khác nhau như: trũ, giã cào, lướt rút, lưới cản, mành sản lượng khai
thác mỗi ngày của các tàu thuyền tại cảng ước tính khoảng 26tấn/ngày, gồm nhiều
loại như: cá ồ, cá nục, cá ngừ, cá hố, mực…Còn một số tàu có công suất lớn thường
là đánh bắt xa bờ, khai thác các loại hải sản có giá trị như: cá ngừ, cá thu…, nhưng
số lượng tàu đánh bắt xa bờ thường cập cảng Đại Lãnh là rất ít. Hiện có 18 cơ sở thu
mua hải sản hoạt động tại cảng cá Đại Lãnh: Công ty TNHH thủy sản Thịnh Tiến,
Công ty TNHH Thủy sản Kim Cương, Lê Minh Hà, Trương Thị Hồng Nhi, Võ Thị