Nghiên cứu tách chiết dầu vỏ hạt điều và ứng dụng làm nhiên liệu sinh học - Pdf 25


BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
VIỆN CÔNG NGHỆ SINH HỌC VÀ MÔI TRƯỜNG
o0o NGUYỄN THỊ THANH HIẾU

NGHIÊN CỨU TÁCH CHIẾT DẦU VỎ HẠT ĐIỀU VÀ
ỨNG DỤNG LÀM NHIÊN LIỆU SINH HỌC
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: CÔNG NGHỆ KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG GVHD: PGS.TS NGÔ ĐĂNG NGHĨA Nha Trang, tháng 06 năm 2014
i

LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian thực tập ở phòng thí nghiệm, được sự hướng dẫn và giúp
đỡ tận tình của thầy cô, gia đình và bạn bè, cùng với những kiến thức tích lũy được
trong 4 năm học đến nay em đã hoàn thành đề tái tốt nghiệp của mình.
Với lòng biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn:
Thầy PGS.TS Ngô Đăng Nghĩa, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, tạo
điều kiện tốt nhất cho em trong quá trình hoàn thành đề tài này.
Quý thầy cô Viện Công nghệ sinh học và Môi trường, trường Đại học Nha
Trang đã dạy bảo em trong suốt thời gian học tại trường, và nhiệt tình chỉ bảo em
trong thời gian làm đề tài.
Cán bộ phụ trách phòng thí nghiệm công nghệ môi trường, phòng công nghệ
sinh học, phòng hóa – vi sinh, phòng sắc ký đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho em
trong thí nghiệm nghiên cứu.

1.2.2.1. Phương pháp dùng nhiệt 14
1.2.2.2. Các phương pháp chế biến khác 15
1.2.3. Vấn đề môi trường trong sản xuất hạt điều 15
1.3. Tổng quan về vỏ và dầu vỏ hạt điều 17
1.3.1. Vỏ hạt điều và hướng sử dụng vỏ hạt điều 17
1.3.2. Thành phần, tính chất dầu vỏ hạt điều 18
1.3.3. Ứng dụng dầu vỏ hạt điều 22
1.3.4. Tình hình sản xuất, tiềm năng và triển vọng của dầu vỏ hạt điều ở nước
ta. 23
1.4. Tổng quan về quá trình tách dầu điều 25
1.4.1. Giới thiệu về phương pháp ép 25
1.5. Tổng quan về nhiên liệu sinh học 27
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1. Đối tượng nghiên cứu: 30
2.2. Hóa chất và dụng cụ thí nghiệm 30
iii

2.3. Quy trình thí nghiệm 31
2.4. Phương pháp tiến hành 34
2.4.1. Chuẩn bị nguyên liệu 34
2.4.2. Chiết tách dầu vỏ hạt điều bằng phương pháp ép cơ học 34
2.4.3. Trích ly dầu vỏ hạt điều bằng phương pháp chiết Soxhlet 36
2.4.4. Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình chiết. 38
2.4.5. Xác định các chỉ số hóa - lý của dầu vỏ hạt điều. 40
2.4.6. Phương pháp xử lý số liệu 41
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 42
3.1. Kết quả khảo sát độ ẩm nguyên liệu 42
3.2. Kết quả tách chiết dầu vỏ hạt điều 42
3.2.1. Kết quả hàm lượng CNSL thu được từ phương pháp ép. 42
3.2.2. Chiết dầu vỏ hạt điều bằng dung môi 44
v

DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1. 1 Thị trường xuất khẩu hạt điều của Việt Nam 11 tháng đầu năm 2012
(ĐVT: USD). 8
Bảng 1. 2 Đặc tính một số loại dầu vỏ hạt điều thương phẩm 19
Bảng 1. 3 Thành phần các chất có trong DVHĐ 21
Bảng 1. 4 Các nghiên cứu và các ứng dụng chính của DVHĐ 23
Bảng 1. 5 Sử dụng dầu thực vật các loại trên thế giới, năm 2011 29

Bảng 3. 1 Độ ẩm nguyên liệu vỏ hạt điều 42
Bảng 3. 2 Kết quả hàm lượng dầu trong vỏ hạt điều bằng phương pháp ép 42
Bảng 3. 3 Kết quả hàm lượng dầu trong vỏ hạt điều thu được bằng phương pháp
chiết dung môi 44
Bảng 3. 4 Hàm lượng dầu vỏ hạt điều thu được khi chiết bằng n-hexan theo tỷ lệ
nguyên liệu/dung môi (g/ml) 47
Bảng 3. 5. Hàm lượng CNSL khi chiết trong n-hexan theo thời gian 49
Bảng 3. 6. Một số chỉ tiêu hóa lý của CNSL 50
Bảng 3. 7. Kết quả đo độ nhớt ở các tốc độ quay 53
Bảng 3. 8 Bảng so sánh các chỉ tiêu của một số loại dầu thực vật được ứng dụng
làm nhiên liệu sinh học. 55

vi DANH MỤC HÌNH
Hình 1. 1 Cây điều và quả điều 4
Hình 1. 2 Cấu tạo quả điều 6

trong cơ cấu kinh tế Việt Nam. Một trong số đó, nhân hạt điều với kim ngạch xuất
khẩu đứng đầu thế giới và không ngừng tăng lên hằng năm.
Năm 2013, Việt Nam xuất khẩu hạt điều đạt 261,0 nghìn tấn với kim ngạch gần
1,7 tỷ USD, tăng 17,9 % về lượng và tăng 12,0 % về kim ngạch so với năm 2012. Giá
xuất khẩu bình quân năm 2013 của hạt điều đạt 6.305 USD/tấn, tăng 31,9 % so với
năm 2012. Nếu tính cả mặt hàng dầu vỏ hạt điều và các sản phẩm hạt điều chế biến
sâu thì cả năm 2013, kim ngạch xuất khẩu của ngành điều vào khoảng 1,8 - 1,9 tỷ
USD.Riêng trong tháng 2/2014, xuất khẩu hạt điều cả nước ước đạt 9.000 tấn, với
kim ngạch là 57 triệu USD. Tính chung 2 tháng đầu năm nay, khối lượng xuất khẩu
đạt 28.000 tấn với giá trị 169 triệu USD, giảm 0,1 % về khối lượng, nhưng tăng hơn 2
% về giá trị so với cùng kỳ năm 2013. Khối lượng hạt điều xuất khẩu tháng 5/2014
ước đạt 23 nghìn tấn với giá trị đạt 151 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu năm
tháng đầu năm 2014 đạt 98 nghìn tấn với 618 triệu USD. Nhờ đó, Việt Nam tiếp tục
là nước xuất khẩu nhân điều số một thế giới và đóng góp không nhỏ vào GDP quốc
gia, cây điều trở thành một trong nhưng cây công nghiệp trọng điểm [3].
Với một lượng lớn nhân điều được xuất khẩu hằng năm, một vấn đề tồn tại
song song là lượng vỏ hạt điều phế thải rất lớn, gây ô nhiễm môi trường nếu
không xử lý đúng cách. Hiện nay, việc khai thác tiềm năng của vỏ hạt điều là
chưa triệt để, bởi cho đến thời điểm này vỏ hạt điều chỉ được dùng để đốt, ép lấy
dầu hay thu lấy dịch hạt điều (CNSL) sử dụng làm nguyên liệu trong sản xuất
sơn cao cấp, sơn phủ bề mặt, vecni… Một số cơ sở đốt bỏ vỏ hạt điều gây nên
một số vấn đề môi trường nghiêm trọng.
Thực tế hàm lượng vỏ hạt chiếm khoảng 60% toàn bộ hạt thu hoạch,
tương ứng lượng vỏ thải ra hàng năm rất lớn vào khoảng 330.000 tấn/năm.
Trong khi đó, vấn đề năng lượng đang là vấn đề cấp bách của toàn cầu. Việc
tìm ra những nguồn nguyên nhiên liệu xanh, sạch, thay thế cho nguồn nhiên
2 liệu hóa thạch gây ô nhiễm môi trường, đang dần cạn kiệt không chỉ là mục

nhau, như: Anacardio (Ý), Caju (Bồ Đào Nha), Cajou (Pháp), Acajuban (Đức),
Kasoy (Philippines), Kaju (Ấn Độ), Jambumente (Indonesia). Ở Việt Nam có tên là
cây điều hay đào lộn hột. Căn cứ vào màu sắc của quả thịt khi chín người ta phân
biệt thành hai giống là điều đỏ và điều vàng.
Cây điều có nguồn gốc từ vùng đảo Ăngti, miền Đông Bắc Brazil và lưu vực
sông Amazon ở Nam Mỹ, dần dần cây điều được phân tán đến Châu Phi, Châu Á, Châu
Úc. Người đầu tiên đã mô tả cây điều trong một chuyên khảo có tựa đề “The oddities of
Antarctic France otherwise known as America and of many lands and islands
discovered in outtimes” (1958) là tu sĩ kiêm nhà tự nhiên học người Pháp tên Thevet.
Người Bồ Đào Nha là những người đầu tiên đưa cây điều từ Brazil đến châu Á và châu
Phi. Ở châu Á, điều được đưa tới Goa (Ấn Độ) vào năm 1550 và tới Cochin 1578.
Cây điều chịu được điều kiện khí hậu đa dạng và khắc nghiệt, là cây ưa nhiệt
độ cao nhạy cảm với giá lạnh, khí hậu nhiệt đới một mùa khô rõ rệt là điều kiện
thích hợp để cây phát triển tốt. Theo FAO, có 32 nước xuất khẩu điều thương mại,
nhưng chỉ có 10 nước trồng điều nhiều nhất thế giới hiện nay là: Ấn Độ, Việt Nam,
Brazil, Nigenia, Tanzania, Indonesia, Guinea Bissau, Cotolvore, Monzambique và
Benin.
Ở các tỉnh miền bắc và miền Trung nước ta, cây điều còn có tên là đào lộn hột.
Điều du nhập vào nước ta từ thế kỷ 18, nhưng mãi đến năm 1975 mới chính thức là
loại cây trồng có trong danh mục, khắc phục những rừng đồi bị phá hoại do chiến tranh
gây nên. Diện tích điều từ đó tăng lên đến đầu năm 1990, cây điều trở thành loại cây
4 công ngiệp cho kinh tế cao, vừa phủ xanh đất trống đồi trọc vừa là cây xóa đói giảm
nghèo. Hiện nay, Việt Nam được coi là nước xuất khẩu hạt điều lớn trên thế giới. [4].
1.1.2. Đặc điểm thực vật

Hình 1. 1 Cây điều và quả điều
Cây điều sinh trưởng và phát triển từ vĩ độ 25

Cây điều có tuổi thọ lên tới 30-40 năm, thuộc lớp cây hai lá mầm, thân mộc,
gỗ tương đối mềm và nhẹ.
Rễ cọc, bộ rễ phát triển có thể đâm sâu tới 5m, rễ ngang ăn rộng đến 6m, nhờ
vậy cây điều vẫn ra hoa kết quả trong suốt mùa khô kéo dài 5 – 6 tháng.
Thân cao từ 8-12 m, trồng nơi đất tốt có thể đạt chiều cao tới 20m còn đất khô
hạn, đất cát không chăm sóc cây cao không quá 6m. Thân phân cành sớm, cành mọc
ngang ngay từ gốc với cả cành sơ cấp và thứ cấp, cành phát triển đầy đặn và tạo
thành một tán hình ô xòe rộng tới 12 -15 m. Vỏ thân và vỏ nhánh có nhiều nhựa.
Lá đơn nguyên, mọc so le, thường tập trung ở đầu cành, lá hình trứng đuôi lá
nhọn, dài 15-20cm, rộng 8-12cm. Khi non, lá có màu xanh nhạt hoặc màu đỏ, già có
màu xanh sậm.
Hoa nhỏ màu vàng, mọc thành từng chùm. Trong một chùm có đến hàng ngàn
hoa gồm hoa đực, hoa lưỡng tính và hoa cái thoái hóa, trong đó phần lớn là hoa
đực, hoa lưỡng tính chiếm khoảng 14%, tỷ lệ này thay đổi theo điều kiện ngoại
cảnh. Bao hoa có 5 cánh đều nhau, các nhị đực thẳng đứng trong đó chỉ có 1 – 2
nhị lớn là có khả năng thụ phấn. Nhụy cái là bầu đơn. Thời gian cây trổ hoa thường
kéo dài trung bình 85,2 ngày. Hoa thụ phấn chéo nhờ gió và côn trùng, thời gian ra
hoa kết trái là từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau. Ngay sau khi được thụ phấn hoa
điều có những biến đổi: noãn biến đổi thành hạt (nhân), bầu chuyển thành vỏ bao
bọc quanh nhân để bảo vệ hạt. Nhân và vỏ quả tạo ra quả thật (hạt lộn ra ngoài) của
cây điều, cuống và đế bông phồng lên phát triển thành quả giả [7].
Quả giả có hình trái lê, nặng 45 – 60 g, màu đỏ hồng hay vàng, cơm mềm và
nhiều nước, vị thơm, ngọt, hơi chua và chát, ăn gắt cổ. Loại điều vàng thường có
quả lớn hơn, nhiều nước và vị ngọt hơn giống điều đỏ. Hạt điều hình quả thận, khi
còn tươi có màu xanh, khi khô chuyển thành màu nâu xám; có chiều dài trung bình
6 2,5 – 3,5 cm, rộng 2 cm, dày 1 – 1,5 cm, trọng lượng 5 – 6 g, gồm vỏ và nhân điều.
Trong đó:

với 2007. Tuy giảm đáng kể trong năm 2008, nhưng xét trong vòng 10 năm trở lại
đây, diện tích gieo trồng Điều ở Việt Nam vẫn tăng, trung bình khoảng 23.000
ha/năm, tốc độ tăng trưởng đạt 8 % năm [1].
Sự thay đổi diện tích trồng điều ở nước ta trong giai đoạn 2000 – 2013 thể
hiện ở hình 1.3. (Bảng số liệu Phụ lục 4).

Hình 1. 3 Sự thay đổi diện tích trồng điều ở nước ta giai đoạn 2000-2013.
Theo thống kê của Cục Trồng trọt thuộc Bộ NN & PTNT cho thấy diện tích
trồng điều giảm mạnh gần 107.392 ha trong vòng 7 năm qua xuống còn 326.037 ha
100
150
200
250
300
350
400
450
500
2000 2002 2004 2006 2008 2010 2012 2014
Diện tích
(×1000 ha)
Năm
8 năm 2012. Kết quả là nguồn cung cấp trong nước chỉ đáp ứng 30m% khả năng chế
biến và hiện đang giảm. Nguyên nhân là do nông dân đang có xu hướng chặt bỏ cây
điều để trồng rừng, hoặc trồng những cây công nghiệp khác như cao su, hồ
tiêu…Điều này đòi hỏi cần có một chiến lược phát triển để ngành điều
Việt Nam phát triển một cách bền vững trong những năm tới.

Hoa Kỳ 31.739.040

376.446.462

+18,58

+0,87

Trung quốc 32.466.162

260.294.320

-8,61

+4,34

Hà Lan 15.957.259

161.674.353

-34,92

-20,14

Australia 7.219.326

96.574.579

-30,70


+50,78

+38,10

Đức 1.025.383

26.736.447

-50,48

+43,89

Israel 1.814.421

23.277.213

-19,35

+65,96

9

Italia 708.274

18.889.961

-59,80

+86,97



-43,93

+8,09

Tây Ban Nha 533.211

10.130.437

-44,10

+1,32

Hồng Kông 1.100.590

9.397.787

-16,37

+11,14

Pháp 540.999

8.586.539

-58,71

+14,02

Nhật Bản 849.506


Nauy 441.680

4.941.354

+150,54

-26,68

Singapore 444.542

3.961.912

-46,88

-47,65

Pakistan 1.063.785

3.405.592

+20,17

-19,22

Bỉ 133.392

3.150.749

-53,75

phòng trừ sâu bệnh góp phần tăng năng suất cây trồng. Đồng thời tăng thêm các
chương trình khuyến nông từ Trung ương đến địa phương với các biện pháp tập
huấn, chyển giao kỹ thuật và đầu tư hỗ trợ vốn các mô hình đầu tư thâm canh, cải
tạo diện tích điều giống cũ và trồng mới giống điều cao sản.
Với những ưu thế và kết quả đạt được trong những năm qua, cây điều đã hoàn
toàn khẳng định được tiềm năng và triển vọng tốt trong hệ thống giống cây trồng
Việt Nam.
1.2. Nhân hạt điều

Hình 1. 4 Nhân hạt điều
Thành phần của nhân hạt điều bao gồm:
- Các chất khoáng như: P (0,88 %), K (0,57 %), Ca (0,04 %), Mg (0,28 %),
Fe, Na, Zn, Cu, Mn
- Các chất đạm: chứa trên 20 % các chất đạm thực vật, về số lượng tương
đương đậu nành và đậu phộng nhưng về chất thì tương đương với thịt, trứng
sữa. Bao gồm nhiều loại acid amin như: glutamic acid (20,0 %), leucine
(11,93 %), arginine (10,30 %), tyrosine (3,2%), lysine (3,32 %), threonine
(2,78 %), …
- Chất béo: các acid béo hỗ trợ việc điều chỉnh sự cân bằng của các chất béo
bão hòa và cholesterol trong các tế bào EFAs , gồm các acid béo của nhân
11

điều như: acid oleic (73,3 %), acid linoleic (7,67 %), acid palmitic (0,89
%), stearic acid (11,24 %), Lignoseric acid (0,15 %).
- Cacbohydrat : hàm lượng đường khử từ 1 - 3 %, các loại đường không
khử từ 2,4 – 8,7 %. Hàm lượng tinh bột 23,49 %.
- Vitamin: chứa nhiều vitamin, đặc biệt là vitamin B
1
, vitamin E.
Năng lượng nhân điều cung cấp là 6000 calo/1kg thực phẩm.

i

Ngâm

, h

p

C

t tách

Phân c


nhân đi

u

S

y

Bóc v


l

a


.
13

Thuyết minh quy trình sản xuất:
Tiếp nhận nguyên liệu: Mục đích tiếp nhận những lô nguyên liệu đạt yêu cầu
cho sản xuất đó là những lô hạt điều không sâu mọt, màu sắc đạt yêu cầu, không lẫn
cát sạn…Tiến hành đánh giá theo phương pháp cảm quan và phương pháp đo độ ẩm
sao cho không có màu sắc và mùi lạ, tỷ lệ sâu mọt và nấm mốc cho phép, kiểm tra
độ ẩm, đếm số lượng hạt/kg.
Sàng phân loại: Mục đích nhằm phân cỡ hạt điều phù hợp cho công đoạn
ngâm ủ, hấp, cắt tách, loại bỏ các tạp chất cơ học. Dung thiết bị kiểu sang lồng quay
hình lục giác có lưới để phân loại.
Ngâm ủ, hấp: Mục đích làm cho khối lượng đạt độ ẩm 15 – 16 % tạo điều kiện cho
quá trình hấp đồng thời tiêu diệt vi sinh vật, làm sạch bụi bám trên bề mặt hạt. Nguyên
liệu được chuyển lên bồn chứa nhờ gầu tải, nước ấm có nhiệt độ 40 – 45
0
C được phun
thành tia đều lên lớp nguyên liệu với tần suất 10 phút/lần sau 15 phút lại phun. Tổng thời
gian ủ từ 12 – 15 giờ. Sau đó đưa nguyên liệu lên thiết bị hấp nhờ vít tải.
Cắt tách: Mục đích lấy vỏ ra khỏi nhân để thu lại nhân điều mang lại giá trị
kinh tế cao hơn. Công đoạn này được thực hiện nhờ sử dụng máy cắt tách vỏ, mỗi
công nhân điều khiển một máy cắt tách vỏ thủ công.
Phân cỡ nhân điều: được thực hiện nhờ máy phân cỡ kiểu trục để tạo điều kiện
cho công đoạn sấy sau này.
Sấy: Mục đích làm bay hơi nước để sản phẩm đạt đến độ khô theo yêu cầu,
thuận tiện cho quá trình bảo quản và lưu kho, tạo điều kiện cho quá trình bóc vỏ lụa
và tiêu diệt vi sinh vật. Sử dụng không khí nóng để sấy thường nhiệt độ là 75
0
C.
Bóc vỏ lụa: Mục đích loại bỏ lớp vỏ lụa bên ngoài vì lớp ngày chứa nhiều chất

Xử lý nước: ngâm hạt điều vào nước để hạt đạt độ ẩm 15 – 17%, mục đích của
công đoạn này là để khi rang vỏ hạt vỡ, dầu chảy nhanh, nhiều, dễ tách vỏ.
Xử lý nhiệt (rang): dùng chính dầu vỏ hạt điều để rang, đun dầu vỏ tới nhiệt
độ 180
0
C – 190
0
C, cho hạt đã xử lý nước vào, giữ trong dầu 2 – 4 phút rồi vớt ra.
Dầu trong vỏ chảy ra sẽ được lấy dần theo lớp trên mặt.
Phương pháp này có ưu điểm là nhân đạt tỷ lệ nguyên vẹn cao, dầu vỏ đạt
chất lượng tốt, đáp ứng được các tiêu chuẩn xuất khẩu và sử dụng trong công
nghiệp, thiết bị đơn giản, điều kiện lao động của công nhân được cải thiện và đảm
bảo an toàn lao động. Có thể áp dụng cho mọi qui mô sản xuất.
15

Tuy vậy phương pháp này còn có một số hạn chế như nếu không cơ giới hóa
được khâu đập hạt thì năng suất bóc nhân thấp
- Phương pháp dùng hơi nước quá nhiệt:
Cho hạt vào nồi hấp dùng hơi nước quá nhiệt đun nóng tới nhiệt độ 300
0
C để
làm cho vỏ vỡ ra dầu trong vỏ sẽ chảy ra. Phương pháp này có ưu điểm chất lượng
nhân hạt và dầu đều cao nhưng thiết bị tương đối phức tạp, chỉ thích hợp trong các
nhà máy có công suất lớn.
1.2.2.2. Các phương pháp chế biến khác
- Phương pháp đông lạnh:
Làm lạnh hạt điều tới nhiệt độ đủ làm cho dầu ở trong vỏ hạt đông cứng lại rồi
đập hạt tách lấy nhân còn dầu trong vỏ được lấy ra bằng cách ép hoặc dùng dung
môi trích ly ra. Phương pháp này được áp dụng ở Tandania.
- Phương pháp dùng dòng điện cao tần:

Ở phương pháp hấp, ô nhiễm môi trường do khí thải và chất rắn gây ra.
Công nghệ hấp bằng nhiệt hơi nước sử dụng hệ thống lò hơi với nhiên liệu chủ yếu
là than đá. Trong trường hợp công suất chế biến trung bình 30 – 35 tấn/ngày thì 1 lò
hơi sử dụng khoảng 2 tấn nguyên liệu, mức tiêu hao nhiên liệu của lò hơi là 300
kg/giờ đối với than antraxit. Tại công đoạn hấp sản phẩm, lượng nước thải phát sinh
chủ yếu là nước ngưng tụ từ hơi lò hơi và nước hấp hạt điều. Trong hai nguồn thải
này thì nguồn nước thải hấp hạt điều có mức độ ô nhiễm cao nhất. Nếu không có
biện pháp xử lý triệt để thì sẽ gây tác động tiêu cực đến nguồn tiếp nhận.
Trong quá trình sản xuất hạt điều, khối lượng chất thải rắn (sinh ra chủ yếu
từ vỏ hạt) là rất lớn chiếm 60 % sau quá trình tách nhân hạt điều. Từ lâu các cơ sở
chế biến hạt điều xuất khẩu đều coi vỏ hạt điều là rác, đa số bị loại bỏ hoặc đem đốt
gây lãng phí và ô nhiễm môi trường. Nhưng vỏ, bã và dầu vỏ hạt điều là chất dễ
cháy, cung cấp nhiều nhiệt lượng, vì vậy hiện nay các nhà máy, xí nghiệp thường sử
dụng làm nhiên liệu đốt trong quá trình sản xuất hoặc bán cho các lò gạch làm
nguyên liệu đốt Tuy nhiên, khí thải phát sinh từ quá trình đốt vỏ, bã và dầu vỏ hạt
Điều chứa nhiều chất độc hại tồn tại trong môi trường không khí và khó xử lý.Kết
quả nghiên cứu từ các nhà máy cho thấy, hàm lượng tro trung bình của vỏ hạt điều
sau đốt chiếm khoảng 6,5%. Như vậy, lượng chất thải phát sinh hằng ngày rất lớn,
là nguyên nhân tiềm tàng gây ô nhiễm môi trường. Ô nhiễm nhất vẫn là khí thải,
trong đó đặc trưng nhất vẫn là mùi hôi.

17

1.3. Tổng quan về vỏ và dầu vỏ hạt điều
1.3.1. Vỏ hạt điều và hướng sử dụng vỏ hạt điều
Vỏ hạt điều thường dày 0,4 cm, chiếm 60 % trọng lượng hạt, gồm 3 lớp: lớp vỏ
ngoài màu xanh dai, nhẵn cứng; lớp giữa xốp có cấu trúc tổ ong, trong chứa dịch dầu
phenolic gọi là CNSL; lớp vỏ trong màu nâu xám, rất cứng bao bọc nhân và lớp vỏ lụa.

Hình 1. 6. Cấu tạo vỏ hạt điều


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status