Bản thảo chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Ngành Viễn thông không còn là một ngành kinh tế xa lạ với bất kỳ một
quốc gia nào. Nó luôn giữ vai trò quan trọng trong thời chiến và ngày nay khi
đất nước đã hoà bình nó càng có những đóng quan trọng cho nền kinh tế quốc
dân. Ngành Viễn thông nói chung trong đó có Ngành Viễn thông di động nói
riêng là ngành kinh tế tuy còn non trẻ nhưng lại có sức hấp dẫn rất lớn vì nó
có khả năng đem lại lợi nhuận siêu ngạch. Việt Nam là một quốc gia tuy nhỏ
nhưng lại có số dân khá đông ( 86 triệu dân ), vì vậy Thị trường Viễn thông di
động Việt Nam được xem là thị trường đầy tiềm năng. Điều này sẽ thu hút
ngày càng nhiều các nhà đầu tư trong nước, cũng như nước ngoài gia nhập thị
trường này. Với dân số không ngừng gia tăng, đời sống và mức thu nhập của
người dân ngày càng được nâng cao thì nhu cầu sử dụng dịch vụ Viễn thông
di động cũng sẽ ngày một tăng lên.
Bên cạnh việc trao đổi thông tin qua thư, mail, điện thoại cố định thì
việc trao đổi thông tin qua điện thoại di động ngày càng tỏ ra ưu việt và thuận
tiện hơn. Điện thoại di động ngày càng tích hợp nhiều chức năng hơn do đó,
các nhà cung cấp dịch vụ thông tin di động luôn khai thác tối đa những chức
năng này bằng các dịch vụ mới tạo ra sự tiện ích cho khách hàng đó chính là
dịch vụ giá trị gia tăng. Dịch vụ giá trị gia tăng không những tạo ra lợi nhuận
cao mà còn là vũ khí cạnh tranh hiệu quả để thu hút khách hàng, khi mà thị
trường di động đang có sự tăng trưởng lớn và nhu cầu ngày càng cao cả về số
lượng và chất lượng.
Dân số Việt Nam hiện nay khoảng 86 triệu dân với mức tăng trưởng
kinh tế trên 6.23%/năm - được coi là một thị trường tiềm năng. Việc phát
Nguyễn Thị Ngọc Oanh Thương Mại Quốc Tế - Khoá 47
1
Bản thảo chuyên đề thực tập tốt nghiệp
triển kinh doanh dịch vụ giá trị gia tăng trong lĩnh vực thông tin di động là
cần thiết và đang được chú trọng. Điều này đang được Công ty Đầu tư và Phát
triển Công nghệ thông tin - Intecom đang đầu tư đáng kể về nguồn lực và
hoàn thành bài chuyên đề thực tập này.
Nguyễn Thị Ngọc Oanh Thương Mại Quốc Tế - Khoá 47
3
Bản thảo chuyên đề thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG I
NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
DỊCH VỤ GIÁ TRỊ GIA TĂNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỄN
THÔNG DI ĐỘNG
I- Khái quát về hoạt động kinh doanh dịch vụ giá trị gia tăng.
1- Khái niệm về kinh doanh dịch vụ.
1.1- Khái niệm và đặc điểm của dịch vụ.
1.1.1- Khái niệm về dịch vụ.
Trên thế giới ngày nay, nền kinh tế không chỉ đơn thuần với các sản
phẩm vật chất cụ thể, mà bên cạnh đó còn tồn tại các sản phẩm dịch vụ. Tổng
thu nhập của một quốc gia cũng như doanh thu của một doanh nghiệp không
thể không tính đến sự đóng góp của lĩnh vực dịch vụ (đặc biệt những ngành
dịch vụ có giá trị cao). Ở các nước phát triển, tỷ trọng dịch vụ trong tổng sản
phẩm quốc dân thường rất cao: Cụ thể ở Mỹ 80% GDP là từ dịch vụ. Nhiều tổ
chức kinh tế, cá nhân đầu tư không ít tiền của, công sức vào các hoạt động
dịch vụ, bởi nó đem lại hiệu quả kinh tế cao và đang và đang là xu thế của
thời đại. Vậy dịch vụ là gì?
Các Mác cho rằng: Dịch vụ là con đẻ của nền kinh tế sản xuất hàng hoá,
khi mà kinh tế hàng hóa phát triển mạnh, đòi hỏi một sự lưu thông trôi chảy,
thông suốt, liên tục để thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của con người thì dịch
vụ phát triển.
Như vậy, bằng cách tiếp cận dưới góc độ kinh tế, Các Mác đã chỉ ra
nguồn gốc ra đời và động lực phát triển dịch vụ.
Vào những năm cuối thế kỷ 20, dịch vụ đã trở thành một ngành kinh tế
quan trọng của các quốc gia và trở thành đối tượng nghiên cứu của các nhà
khoa học. Theo lý thuyết kinh tế học, dịch vụ là một loại sản phẩm kinh tế,
Nguyễn Thị Ngọc Oanh Thương Mại Quốc Tế - Khoá 47
5
Bản thảo chuyên đề thực tập tốt nghiệp
để các hoạt động sản xuất phù hợp.
Thứ nhất, sản phẩm dịch vụ không thể xác định cụ thể bằng các tiêu
chuẩn kỹ thuật hoặc bằng các chỉ tiêu chất lượng một cách rõ ràng. Là sản
phẩm vô hình nên sản phẩm dịch vụ khác với sản phẩm vật chất có tính chất
cơ lý hoá và tiêu chuẩn kỹ thuật như công suất, mức tiêu hao nhiên liệu…có
thể xác định và sản xuất hàng loạt theo tiêu chuẩn hoá. Chất lượng của sản
phẩm dịch vụ được đánh giá bằng các giác quan của người sử dụng như nhìn,
nghe, ngửi, nếm…trên cơ sở cảm nhận thông qua danh tiếng hoặc thực tế
được phục vụ.
Thứ hai, sản xuất và tiêu dùng diễn ra đồng thời nên cung cầu dịch vụ
không thể tách rời nhau mà phải tiến hành cùng lúc. Do vậy mà sản phẩm
dịch vụ không thể cất trữ trong kho, làm phần đệm điều chỉnh sự thay đổi nhu
cầu thị trường như các sản phẩm vật chất khác…Đối với các sản phẩm vật
chất, người sản xuất có thể dữ trữ được, có thể vận chuyển đi các nơi để thoả
mãn nhu cầu tiêu dùng theo sự điều tiết của quy luật cung cầu. Quá trình sản
xuất vầ tiêu dùng của sản phẩm vật chất tách rời nhau, sản xuất nơi này nhưng
tiêu dùng chỗ khác hoặc sản xuất tại thời điểm này nhưng tiêu dùng tại thời
điểm khác. Với sự khác biệt này của sản phẩm dịch vụ và sản phẩm vật chất,
doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ cần có những kế hoạch kinh doanh phù hợp
để tránh rơi vào tình trạnh nơi thừa nơi thiếu sản phẩm.
Thứ ba, sản phẩm dịch vụ đòi hỏi phải đáp ứng ở đúng địa điểm và thời
điểm cần thiết. Trong kinh doanh các sản phẩm dịch vụ, thời điểm và địa
điểm là những yếu tố rất quan trọng. Sản phẩm hàng hóa còn có thể vận
chuyển được giữa các vùng và nếu có nhu cầu về sản phẩm người tiêu dùng
có thể chờ để được đáp ứng. Sản phẩm dịch vụ nêu không đúng thời điểm thì
khách hàng có thề không còn nhu cầu sử dụng dịch vụ nữa. Vì vậy, ở những
thời điểm, địa điểm cụ thể, khi nhu cầu dịch vụ tăng lên nhanh chóng, doanh
Nguyễn Thị Ngọc Oanh Thương Mại Quốc Tế - Khoá 47
7
Bản thảo chuyên đề thực tập tốt nghiệp
tiêu dùng rất khó đánh giá giá cả và chất lượng. Trong kinh doanh dịch vụ cần
chú ý đến sự biểu lộ các yếu tố vật chất (quảng cáo, PR, xúc tiến…). Mặt
khác, quá trình tạo ra và tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng thời nên người tiêu
dùng cũng tham gia vào quá trình tạo ra sản phẩm nên giá trị sản phẩm dịch
vụ còn chịu ảnh hưởng của người tiêu dùng dịch vụ. Chất lượng dịch vụ chỉ
có thể đánh giá sau khi đã tiêu dùng dịch vụ. Tuy nhiên việc mua sản phẩm
dịch vụ lại diễn ra trước nên người tiêu dùng dịch vụ thường dựa vào các
thông tín sản phẩm dịch vụ của người cung ứng thương hiệu, tiếng tăm trên
thị trường, những mặt hữu hình và kinh nghiệm của bản thân. Do đó, người
kinh doanh dịch vụ phải am hiểu những tính chất này để có những chiến lược
kinh doanh cũng như đầu tư nguồn lực phù hợp.
Các nhà cung cấp dịch vụ cùng với định hướng khách hàng có khả năng
tạo ra các sản phẩm cá nhân hóa và thông điệp tới từng khách hàng theo từng
nhu cầu của họ một cách dễ dàng hơn kinh doanh sản phẩm vật chất. Do đó
tạo ra mối quan hệ tương tác giữa khách hàng và người cung cấp dịch vụ, từ
đó tăng lợi nhuận bằng cách nắm giữ một phần lớn chi tiêu của mỗi khách
hàng, phát triển khách hàng trung thành.
2- Khái quát về dịch vụ Viễn thông di động.
Dịch vụ Viễn thông di động là một trong những loại hình của dịch vụ
Viến thông.
Theo quy định tại Điều 37 - Nghị định số 109/CP, dịch vụ Viễn thông là
dịch vụ truyền đưa, lưu trữ và cung cấp thông tin bằng hình thức truyền dẫn,
phát, thu những ký hiệu, tín hiệu, sỗ liệu, chữ viết, âm thanh, hình ảnh
thông qua mạng lưới Viễn thông công cộng do doanh nghiệp cung cấp dịch
vụ Viễn thông cung cấp mà không thay đổi loại hình hoặc nội dung được
thông tin được gửi và nhận. Đây là một lĩnh vực dịch vụ đặc biệt, nó hỗ trợ
cho tất cả những ngành sản xuất, dịch vụ khác và đời sống xã hội. Chính vì
Nguyễn Thị Ngọc Oanh Thương Mại Quốc Tế - Khoá 47
9
Bản thảo chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Bảng 1.1: Các loại hình dịch vụ Viễn thông di động
Nhận dạng
Nội dung Nội dung
* Thông tin
* Giải trí
* Giao dịch
* Cơ sở dữ liệu
Nhắn tin
Con người LBS
Vị trí SMS, MMS
Internet Intranet/ Extranet/ Internet
Thoại Thoại phong phú
* Dịch vụ thoại là dịch vụ quan trọng, đem lại nguồn doanh thu chủ yếu
cho các doanh nghiệp thông tin di động. Dịch vụ thoại có đặc điểm là theo
thời gian thực và tính hai chiều. Ngoài những tính năng của dịch vụ thoại
truyền thống như dịch vụ điều hành, hỗ trợ danh bạ và chuyển vùng, còn dịch
vụ thoại cao cấp như thoại qua IP, truy cập bảng mã hoá giọng nói và các
cuộc gọi khởi tạo qua trang web. Dần dần, thông tin di động cũng bao gồm cả
thoại di động băng rộng và thông tin đa phương tiện.
Hình 1.1: Sơ đồ quy trình thực hiện cuộc gọi trên mạng sử dụng
công nghệ GSM
* Internet: Ngoài các dịch vụ thoại luôn được cải tiến, môi trường dữ
liệu mới cho phép kết nối nội dung thông tin di động trên mạng Internet - dịch
vụ truy nhập Internet di động dành cho thị trường người tiêu dùng và bổ sung
dịch vụ truy nhập Intranet/ Extranet di dộng cho thị trường doanh nghiệp.
* Nhắn tin gồm có dịch vụ bản tin ngắn ( SMS ), dịch vụ nhắn tin đa
Nguyễn Thị Ngọc Oanh Thương Mại Quốc Tế - Khoá 47
11
Bản thảo chuyên đề thực tập tốt nghiệp
công cụ liên lạc thiết yếu của người dân.
Thứ hai, Dịch vụ thông tin di động có tính chất bảo mật rất cao vì thông
tin trong lúc truyền đi đã được mã hóa. Điều này đáp ứng được những yêu cầu
cao về thông tin liên lạc. Khách hàng có thể hoàn toàn yên tâm về thông tin
không bị rò rỉ ra bên ngoài.
Thứ ba, Dịch vụ thông tin di động là một dịch vụ thông tin liên lạc hiện
đại. Bên cạnh chất lượng đàm thoại cao, thuê bao điện thoại di động còn có
thể sử dụng hàng loạt các dịch vụ tiện ích khác như: truy cập Internet, truyền
nhận dữ liệu, trò chuyện, cập nhập thông tin tỷ giá, thời tiết, chứng khoán, thể
thao…Ngoài ra, điện thoại di động có thể kết nối với các thiết bị ngoại vi như
máy vi tính, máy fax, máy in…Sự kết nối này đem lại sự tiện lợi, tiết kiệm
thời gian.
Thứ tư, Giá của dịch vụ thông tin di động cao hơn giá của dịch vụ điện
thoại cố định, sản phẩm thay thế chủ yếu. Nguyên nhân là do đầu tư xây dựng
mạng lưới và chi phí về công nghệ, thiết bị cao. Hơn nữa, tính năng của dịch
vụ thông tin di động ưu việt hơn dịch vụ điện thoại cố định có thể kết nối mọi
người ở mọi lúc mọi nơi.
Thứ năm, Sản phẩm dịch vụ thông tin di động mang tính chất vùng
miền. Nhu cầu sử dụng dịch vụ thông tin di động của các vùng miền không
giống nhau. Các vùng có vị trí địa lý và trình độ phát triển kinh tế xã hội cao
thì nhu cầu sử dụng thông tin di động lớn. Tính chất vùng như vậy sẽ hình
thành tương quan cung cầu về việc sử dụng di động là rất khác nhau vì vậy
khó có thể điều hòa sản phẩm từ nơi có chi phí thấp, giá bán thấp đến nơi có
chi phí cao, giá bán cao như các sản phẩm hàng hóa. Điều này đòi hỏi các
doanh nghiệp thông tin di động cần có sự nghiên cứu tìm hiểu kỹ lượng về
các vùng miền để có những chính sách kinh doanh phù hợp.
Thứ sáu, quyết định mua dịch vụ thông tin di động phức tạp hơn quyết
Nguyễn Thị Ngọc Oanh Thương Mại Quốc Tế - Khoá 47
13
Bản thảo chuyên đề thực tập tốt nghiệp
thêm. Dịch vụ giá trị gia tăng được xây dựng dựa trên nền cơ sở vật chất và
nguồn lực vốn có trong việc cung cấp dịch vụ cơ bản nhằm nâng cao khả
năng khai thác nguồn lực cũng như thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của
khách hàng, đồng thời tạo ra được hiệu quả cao trong kinh doanh của Doanh
nghiệp.
Như chúng ta biết, dịch vụ thông tin di động là một dịch vụ dựa trên nền
công nghệ cao và hiện đại với nhiều ứng dụng tiện ích. Dịch vụ thông tin di
động được cung cấp thông qua thiết bị mạng lưới và điện thoại di động. Điện
thoại di động thì ngày càng tích hợp nhiều chức năng, không chỉ nghe gọi mà
còn có nhiều chức năng khác như nghe nhạc, xem phim, lưu trữ thông tin, kết
nối Internet, chụp ảnh…nên các dịch vụ giá trị gia tăng mà các Doanh nghiệp
Viễn thông di động có khả năng khai thác là rất lớn, phong phú cùng với khả
năng sáng tạo của con người và nhu cầu ngày càng cao của người sử dụng.
3.2 - Kinh doanh dịch vụ giá trị gia tăng trong lĩnh vực Viễn thông di động.
Kinh doanh dịch vụ giá trị gia tăng trong lĩnh vực Viễn thông di động
cũng có những đặc điểm của kinh doanh dịch vụ nói chung. Trong kinh doanh
dịch vụ giá trị gia tăng cần chú ý đến việc phát triển các yếu tố vật chất mà
khách hàng có thể nhận thấy được. Chúng ta có thể kiểm tra chất lượng của
một chiếc điện thoại di động Nokia hoặc của LG nhưng lại rất khó kiểm tra
chất lượng của các danh mục dịch vụ cung cấp của Vina hay Mobile. Vì vậy,
nhiệm vụ của các nhà cung cấp dịch vụ giá trị gia tăng là phải biến cái vô hình
thành cái hữu hình. Đối với dịch vụ trong lĩnh vực Viễn thông di động sự biểu
hiện đó là trình độ và các phương tiện kỹ thuật công nghệ, hình thức biểu hiện
của dữ liệu phải là thông tin hấp dẫn, chính xác, tính bảo mật cao.
Sự phát triển kinh doanh dịch vụ giá trị gia tăng gắn liền với sự phát
triển của công nghệ. Khi công nghệ phát triển, khả năng tạo ra nhiều dịch vụ
giá trị gia tăng với chất lượng cao và khả năng tạo ra sự khác biệt hóa dịch vụ
Nguyễn Thị Ngọc Oanh Thương Mại Quốc Tế - Khoá 47
+ Đối với các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giá trị gia tăng: Dịch
vụ giá trị gia tăng lập nên hàng rào chắn, ngăn chặn sự xâm nhập của đối thủ
cạnh tranh. Dịch vụ giá trị gia tăng sẽ tạo ra sự khác biệt so với đối thủ cạnh
tranh nhờ vào sự sáng tạo và khả năng ứng dụng công nghệ viễn thông, tin
học để tạo ra những dịch vụ nói riêng.
+ Ở góc độ vĩ mô:
- Dịch vụ giá trị gia tăng phục vụ thiết yếu cho nền kinh tế và đời sống
xã hội, nhằm nâng cao mức sống, điều kiện sống và làm việc cho con người,
tạo ra nền văn minh mới, nền văn minh số hoá và công nghệ, thời đại của
thông tin.
- Dịch vụ giá trị gia tăng còn làm thay đổi căn bản cơ cấu của nền kinh
tế quốc dân.
Bên cạnh dịch vụ cơ bản là dịch vụ điện thoại di động, đây là nguồn
doanh thu cho các nhà cung cấp thì dịch vụ giá trị gia tăng đóng góp một phần
quan trọng trong doanh thu của toàn bộ việc cung cấp dịch vụ của các doanh
nghiệp này. Ở Việt Nam, dịch vụ giá trị gia tăng đóng góp 13 – 15% doanh
Nguyễn Thị Ngọc Oanh Thương Mại Quốc Tế - Khoá 47
16
Bản thảo chuyên đề thực tập tốt nghiệp
thu còn trên thế giới - những nước có mạng 3G phát triển có tỷ lệ cao khoảng
trên 50%. Trong tương lai, khi dịch vụ cơ bản trở nên bão hoà và giá cước
dịch vụ giảm xuống thì dịch vụ giá trị gia tăng có thể sẽ là nguồn doanh thu
và lợi nhuận chủ yếu cho các doanh nghiệp. Việc tạo ra doanh thu lớn cũng
đồng thời với việc đóng góp ngày càng tăng vào Ngân sách Nhà Nước để thực
hiện những mục tiêu khác của xã hội.
Ngoài ra, các dịch vụ giá trị gia tăng trong lĩnh vực Viễn thông di động
sẽ giúp ích rất lớn cho các hoạt động khác trong nền kinh tế cũng như trong
đời sống. Nó giúp cho công nghệ trở nên hữu ích hơn đối với cuộc sống và
cũng là động lực thúc đẩy sự phát triển và sáng tạo hơn nữa của khoa học
công nghệ và ứng dụng thành tựu của nó.
2.1.1 - Môi trường chính trị pháp luật.
Trong kinh doanh hiện đại, yếu tố chính trị pháp luật ngày càng có ảnh
hường tới hoạt động của doanh nghiệp. Những yếu tố này ổn định, rõ ràng,
Nguyễn Thị Ngọc Oanh Thương Mại Quốc Tế - Khoá 47
Các doanh
nghiệp cạnh
tranh trong
ngành
Khách
hàng
Đối thủ
cạnh
tranh
tiềm ẩn
Các nhà
cung
ứng
Sản
phẩm
thay thế
Yếu tố
kinh tế
Yếu tố
chính trị
Yếu tố
công nghệ
Yếu tố văn
hoá xã hội
18
Bản thảo chuyên đề thực tập tốt nghiệp
lướt web, thư điện tử…và các chương trình tương tác với truyền hình và
phát thanh…Vì vậy, doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải đầu tư và
đổi mới công nghệ.
2.1.3 -Môi trường kinh tế.
Yếu tố kinh tế là “máy đo nhiệt độ” của nền kinh tế. Nó quy định
phương thức và cách thức doanh nghiệp sử dụng nguồn lực của mình trong
hoạt động sản xuất kinh doanh. Sự thay đổi của yếu tố kinh tế có thể tạo ra cơ
hội hoặc nguy cơ đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp
với các mức độ khác nhau. Các yếu tố kinh tế mà doanh nghiệp cần quan tâm
tới: tốc độ tăng trưởng GDP, lãi suất tiền vay, tiền gửi ngân hàng, tỷ lệ lạm
phát, tỷ giá hối đoái, mức độ thất nghiệp, kiểm soát về giá cả, tiền lương tối
thiểu…
Đối với doanh nghiệp nói chung và doanh nghiêp Viễn thông kinh doanh
dịch vụ giá trị gia tăng nói riêng, sự phát triển kinh tế của nền kinh tế tác động
trực tiếp đến việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Nhu cầu sử dụng thông tin di
động tăng cao trong những năm gần đây có nguyên nhân từ sự phát triển của
nền kinh tế. Trước đây, khi nền kinh tế nghèo nàn lạc hậu, dịch vụ thông tin
di động còn rất xa xỉ với người dân. Khi nền kinh tế phát triển, thu nhập bình
quân đầu người tăng lên cho phép các doanh nghiệp Viễn thông di động có
thể khối lượng khách hàng, mở rộng vùng phủ sóng. Những chí phí để sử
dụng các dịch vụ giá trị gia tăng ngày càng giảm và những tiện ích mà nó đem
lại ngày càng lớn nên ngày càng thu hút khách hàng sử dụng.
2.1.4 - Môi trường văn hoá xã hội.
Các yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống và hành vi của con
người, qua đó ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng của khách hàng. Lối sống tự
thay đổi nhanh chóng theo hướng du nhập và những lối sống mới luôn là cơ
hội cho các nhà kinh doanh. Doanh nghiệp nào bất cứ là kinh doanh lĩnh vực
Nguyễn Thị Ngọc Oanh Thương Mại Quốc Tế - Khoá 47
20
Bản thảo chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Khách hàng là các cá nhân, nhóm người, doanh nghiệp có nhu cầu và có
khả năng thanh toán về hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp mà chưa được
đáp ứng và mong muốn được thoả mãn.
Thị trường dịch vụ giá trị gia tăng di động là tập hợp khách hàng rất đa
dạng, khác nhau về lứa tuổi, giới tính, mức thu nhập, nơi cư trú, sở thích, thị
hiếu tiêu dùng, vị trí địa vị xã hội…Doanh nghiệp chia khách hàng nói chung
ra thành những nhóm khách hàng khác nhau, mỗi nhóm có đặc trưng riêng
phản ánh quá trình mua sắm của họ. Những đặc trưng này sẽ là những gợi ý
quan trọng để doanh nghiệp bán hàng và đưa ra những biện pháp phù hợp để
thu hút khách hàng. Ví dụ như đối với nhóm khách hàng là sinh viên thì
doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giá trị gia tăng di động cần lưu ý đến giá vì
đây là đối tượng khách hàng có cầu co giãn. Khi giá giảm, họ sử dụng dịch vụ
nhiều hơn và khi giá cao thì họ sử dụng dịch vụ ít hơn. Vì thế doanh nghiệp
cần có chính sách giá phù hợp, những chương trình khuyến mại hấp dẫn để
thu hút khách hàng. Nhưng đối với nhóm khách hàng là doanh nhân, cán bộ
công nhân viên chức là những người có thu nhập cao thì không lưu tâm đến
giá cả dịch vụ, cái mà họ quan tâm là chất lượng dịch vụ. Dịch vụ giá trị gia
tăng di động đã góp phần không nhỏ trong công việc của họ và dịch vụ nào có
chất lượng tốt thì sẽ được lựa chọn.
Doanh nghiệp có thể phân loại khách hàng theo những tiêu thức sau đấy:
- Theo vị trí địa lý của khách hàng: khách hàng trong vùng, khách hàng
ngoài vùng, khách hàng trong nước và khách hàng quốc tế.
- Theo mục đích mua sắm: khách hàng là người tiêu dùng cuối cùng,
khách hàng trung gian (đại lý, siêu thị, cửa hàng…).
- Theo mối quan hệ của khách hàng đối với doanh nghiệp: khách hàng
truyền thống, khách hàng mới.
Nguyễn Thị Ngọc Oanh Thương Mại Quốc Tế - Khoá 47
22
Bản thảo chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Ngoài ra, doanh nghiệp có thể phân loại khách hàng theo một số tiêu
mạng ( Số liệu năm 2007 của Bộ Bưu Chính Viễn thông ). Dự báo năm 2010
có tới 52 triệu thuê bao, trong đó có tới 70% là điện thoại di động tương ứng
36 triệu thuê bao. Do đó, là một cơ hội lớn cho những nhà khai thác mạng di
động. Với sự góp mặt của các nhà cung cấp dịch vụ thông tin di động VMS –
Mobifone, Vinaphone, S – Phone,…, ngành Viễn thông di động Việt Nam
được cho là có nhiều nhà cung cấp dịch vụ di động nhất trên Thế giới. Điều
này cho thấy sự cạnh tranh trên thị trường là rất gay gắt. Đáng chú ý là có 2
công nghệ GSM và CDDMA được các mạng sử dụng, công nghệ CDMA
được cho là ứng dụng các dịch vụ gia tăng hiệu quả hơn do tốc độ truyền dữ
liệu nhanh hơn. Thêm đó, là sự gia nhập WTO dẫn đến sự mở cửa một loạt
các dịch vụ liên quan đến Viễn thông di động trong đó có dịch vụ giá trị gia
tăng. Với dịch vụ giá trị gia tăng, Việt Nam cho phép các doanh nghiệp nước
ngoài hợp tác kinh doanh hoặc liên doanh với hạn chế vốn nước ngoài 50%
đối với dịch vụ có hạ tầng mạng và không quá 51% ( ngay sau khi gia nhập )
và 65% ( 3 năm sau khi gia nhập ) đối với doanh nghiệp chỉ cung cấp dịch vụ
không có hạ tầng mạng. Điều đó đồng nghĩa với việc sẽ có thêm nhiều nhà
cung cấp dịch vụ giá trị gia tăng hơn, sự hợp tác chặt chẽ hơn với các đối tác
trong nước và nước ngoài - hứa hẹn một thị trường đa dạng hoá dịch vụ giá trị
gia tăng và cạnh tranh gay gắt.
Để có những chiến lược cạnh tranh hiệu quả, doanh nghiệp cần phải:
• Thu thập thông tin về đối thủ cạnh tranh:
+ Mục đích tương lai của đối thủ cạnh tranh.
+ Các nhận định của các đối thủ cạnh tranh về chính họ.
+ Thông tin chiến lược hiện thời của đối thủ.
+ Thông tin tiềm năng của đối thủ cạnh tranh.
• Phân tích và phân loại đối thủ cạnh tranh.
Nguyễn Thị Ngọc Oanh Thương Mại Quốc Tế - Khoá 47
24
Bản thảo chuyên đề thực tập tốt nghiệp
• Xác định mức độ cạnh tranh trên thị trường.