BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
KHOA KINH TẾ
MAI ANH DIỆU HUYỀN
ĐÁNH GIÁ SỰ HÀI LÒNG CỦA SINH VIÊN VỀ CHẤT LƯỢNG
ĐÀO TẠO CỦA NGÀNH QUẢN TRỊ DỊCH VỤ DU LỊCH
VÀ LỮ HÀNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH DU LỊCH
GVHD: ThS. LÊ CHÍ CÔNG
ii
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC TỪ TIẾNG ANH iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC HÌNH vii
MỞ ĐẦU 8
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 11
1.1 Dịch vụ và dịch vụ giáo dục đại học 11
1.1.1 Khái niệm dịch vụ 11
1.1.2 Khái niệm dịch vụ giáo dục đại học 11
1.1.3 Đặc điểm của dịch vụ: 12
1.1.4 Phân loại dịch vụ: 13
1.2 Chất lượng dịch vụ và chất lượng dịch vụ giáo dục đại học 13
1.2.1 Chất lượng dịch vụ 13
1.2.2 Quan điểm về chất lượng dịch vụ trong giáo dục đại học 15
1.3 Mô hình đo lường chất lượng dịch vụ 15
1.3.1 Mô hình đo lường chất lượng của Gronross 15
1.3.2 Mô hình đo lường chất lượng dịch vụ SERVQUAL 16
1.4 Sự hài lòng của khách hàng 19
1.5 Mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng khách hàng 19
1.6 Một số nghiên cứu liên quan đến mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài
lòng trong lĩnh vực giáo dục tại Việt Nam 20
1.7 Đề xuất mô hình và các giả thuyết nghiên cứu 30
ivDANH MỤC CÁC TỪ TIẾNG ANH
Std, Deviation : Độ lệch chuẩn
Total Vaiance Explained : Phương sai trích
Roted Component Matrix : Xoay nhân tố
Factor loading : Hệ số tải nhân số
Trung bình : Số trung bình
Median : Số trung vị
Yếu vị : Số yếu vị
v
Bảng 3.14: Total Vaiance Explained biến phụ thuộc 53
Bảng 3.15: Roted Component Matrix biến phụ thuộc 54
vi
Bảng 3.16 Các giả thuyết nghiên cứu thể hiện mối quan hệ giữa các nhân tố của chất
lượng đào tạo tác động đến sự hài lòng của sinh viên 55
Bảng 3.17 Các giả thuyết nghiên cứu về sự khác nhau trong việc đánh giá chất lượng
và sự hài lòng theo yếu tố nhân khẩu học 56
Bảng 3.18:Kết quả hồi quy mô hình – Model summary 56
Bảng 3.19:ANOVA 57
Bảng 3.20: Coefficients
a
57
Bảng 3.21: Tổng hợp kết quả kiểm định các giả thuyết nghiên cứu 60
Bảng 3.22 Thống kê mô tả đối với các biến thuộc các nhân tố độc lập 62
Bảng 3.23 Thống kê mô tả đối với các biến thuộc nhân tố phụ thuộc 63
Bảng 3.24: Kết quả kiểm định phương sai theo Giới tính 64
Bảng 3.25: Kết quả phân tích ANOVA 64
Bảng 3.26: Kết quả kiểm định phương sai theo Khóa học 64
Bảng 3.27: Kết quả phân tích ANOVA 65
Bảng 3.28: Kết quả kiểm định phương sai theo Học lực 65
Bảng 3.29: Kết quả phân tích ANOVA 65
Bảng 3.30: Tổng hợp kết quả kiểm định các giả thuyết nghiên cứu 66
8
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Theo quan niệm trước đây, giáo dục được xem là một sự nghiệp đào tạo mang
tính phi thương mại, phi lợi nhuận song qua thời gian, dưới tác động của quá trình hội
nhập quốc tế, hoạt động giáo dục đã có những thay đổi cả về chiều sâu và chiều rộng.
Cụ thể, kinh tế thị trường đã tác động vào lĩnh vực giáo dục khiến cho tình chất hoạt
động của nó không còn thuần túy như ban đầu là một hoạt động phúc lợi công do nhà
nước quản lí mà dần trở thành một loại hình dịch vụ gọi là “dịch vụ giáo dục”.
Với việc xem giáo dục là một loại hình dịch vụ, giáo dục đại học cũng không
ngoại lệ. Khi xem giáo dục đại học là một loại hình dịch vụ, các cơ sở giáo dục đại học
sẽ là đơn vị cung cấp dịch vụ và khách hàng sẽ là người học- sinh viên. Vì đây là một
loại hình dịch vụ đặc thù khi mà sinh viên vừa là khách hàng vừa là sản phẩm của giáo
dục đại học, có thể nói sinh viên đóng vai trò quan trọng trong dịch vụ đào tạo đại học.
Khi nền kinh tế Việt Nam hội nhập vào thế giới khiến cho nhu cầu xã hội không
ngừng thay đổi và ngày càng yêu cầu cao về nghiệp vụ của nguồn lao động, kéo theo
nhu cầu về dịch vụ giáo dục đại học ngày càng gia tăng nhằm đáp ứng được những
mong mỏi của thị trường lao động. Việc yêu cầu nâng cao trình độ học thức, kỹ năng
khiến cho nhu cầu học đại học tăng cao, dẫn đến các cơ sở cung cấp dịch vụ giáo dục
đại học ngày càng gia tăng về số lượng để đáp ứng với nhiều hình thức khác nhau như:
chính quy, tại chức, chuyên tu, liên thông, đào tạo từ xa….
Trong những năm gần đây, hệ thống giáo dục nước ta không ngừng phát triển
về quy mô, số lượng. Với việc phát triển ồ ạt như vậy, dẫn tới một số vấn đề thách
thức đó là chất lượng đào tạo. Làm sao để đảm bảo sự đồng bộ, hài hòa giữa việc phát
triển không ngừng về quy mô nhưng vẫn đảm bảo chất lượng đầu ra cho sinh viên, cho
xã hội.
nguyện vọng, sự đánh giá của sinh viên về chất lượng đào tạo để từ đó không ngừng
hoàn thiện và nâng cao chất lượng đào tạo hơn nữa.
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Xác định các yếu tố cấu thành chất lượng đào tạo đại học.
- Xem xét mối quan hệ giữa các yếu tố trên có ảnh hưởng như thế nào đến sự
hài lòng của sinh viên.
- Đưa ra các đề xuất nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, góp phần nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực cho ngành du lịch đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế thị
trường của nước ta hiện nay.
10
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Sinh viên đang học đại học hệ chính quy năm thứ 3,
thứ 4 chuyên ngành Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành.
- Phạm vi nghiên cứu: khảo sát sự hài lòng của 142 sinh viên đang theo học
chương trình đào tạo của ngành Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành trường Đại học
Nha Trang.
4. Câu hỏi nghiên cứu
- Câu hỏi nghiên cứu của đề tài
Yếu tố nào trong quá trình đào tạo khiến sinh viên hài lòng hơn các yếu tố khác?
5. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành thông qua 2 bước chính là nghiên cứu sơ bộ và
nghiên cứu chính thức.
Nghiên cứu sơ bộ thông qua phương pháp ngihên cứu định tính được tiến hành
để xây dựng mô hình nghiên cứu thực nghiệm, xác định các nhân tố ảnh hưởng đến sự
hài lòng của sinh viên để xây dựng bảng câu hỏi điều tra.
Nghiên cứu chính thức thông qua phương pháp nghiên cứu định lượng cũng
quan hệ hợp tác lâu dài với khách hàng
1.1.2 Khái niệm dịch vụ giáo dục đại học
Giáo dục đại học là nền giáo dục được cung cấp bởi các trường đại học, đại học
dạy nghề, đại học công cộng, đại học khoa học xã hội v.v. và các tổ chức đào tạo nghề
chuyên nghiệp khác được cấp các chứng chỉ. Giáo dục đại học bao gồm công tác dạy
và học, bên cạnh đó còn có các hoạt động nghiên cứu và hoạt động dịch vụ xã hội liên
quan đến lĩnh vực giảng dạy. Giáo dục đại học gồm các bậc đại học và sau đại học.
Ở các quốc gia phát triển khác như Mỹ nơi các trường đại học không cần thi
đầu vào nhờ vậy tạo cho bất kì ai cũng được quyền học tập, song ở đây khi muốn theo
học thì sinh viên phải bỏ tiền ra để trả cho lượng kiến thức mình nhận được. Vì vậy
đối với sinh viên giáo dục đại học là một sự đầu tư, sinh viên là khách hàng, và giáo
dục là dịch vụ mà họ nhận được, còn đối với các nhà giáo dục ở Mỹ vẫn thường xem
sinh viên như khách hàng của họ. Qua đó cho thấy tại Mỹ giáo dục đại học được xem
là một dịch vụ không còn là ý tưởng gì quá mới mẻ.
GS Phạm Đỗ Nhật Tiến – nhà quản lý giáo dục cho rằng hiện nay, giáo dục đại
học Việt Nam không còn thuần túy là một lợi ích công. Nó vừa là một lợi ích công vừa
là một dịch vụ công. Trên thực tế, tại một số trường ngoài công lập (nay là tư thục) và
một số cơ sở giáo dục nước ngoài tại Việt Nam, lợi nhuận thu được rất lớn, thậm chí
có người đánh giá là siêu lợi nhuận. Ở những nơi này, giáo dục đại học là một hàng
hóa và một thị trường giáo dục sơ khai, tự phát đã hình thành. 12
Từ những lý luận trên ta có cho rằng giáo dục đại học cũng là một loại hình
dich vụ, một loại hàng hóa vừa có tính thập thể (do nhà nước và công chúng quyết
định ) vừa có tính thị trường (do thị trường quyết định). Giáo dục đại học hiện vẫn còn
chịu sự chi phối của nhà nước một phần là do tránh một số mặt như cạnh tranh, độc
quyền, một mặt khác giáo dục đại học cần chịu sự quản lí của nhà nước là do sản phẩm
của giáo dục đại học chính là nguồn nhân lực chính phục vụ cho sự phát triển kinh tế,
hàng không, công ty tư vấn pháp luật …
*Theo mục đích
- Có dịch vụ phi lợi nhuận và dịch vụ vì lợi nhuận.
*Theo nội dung
Dịch vụ nhà hàng khách sạn, dịch vụ giao thông liên lạc, dịch vụ sức khỏe,
phục vụ cộng đồng, thương mại, tài chính ngân hàng, tư vấn, giáo dục, khoa học…
*Theo mức độ tiêu chuẩn hóa dịch vụ có khả năng tiêu chuẩn hóa cao
Khối lượng cung cấp dịch vụ lớn, chỉ tập trung vào một số khía cạnh phục vụ
nhất định, công việc lặp lại, có khả năng cơ giới hóa hoặc tự động hóa, yêu cầu nhân
viên có tay nghề cao, hạn chế tính tự do linh hoạt, sáng tạo của nhân viên.
*Dịch vụ theo yêu cầu
1.2 Chất lượng dịch vụ và chất lượng dịch vụ giáo dục đại học
1.2.1 Chất lượng dịch vụ
Chất lượng dịch vụ là một khái niệm trừu tượng, khó nắm bắt bởi các đặc đỉểm
riêng của dịch vụ. Tùy theo mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, môi trường
nghiên cứu mà đưa ra các quản điểm khác nhau về chất lượng dịch vụ. Vì vậy hiện nay
đã có rất nhiều khái niệm được đưa ra như:
Theo ISO 8402 cho rằng chất lượng dịch vụ là tập hợp các đặc tính của một đối
tượng có khả năng thỏa mãn các yêu cầu nêu ra hoặc tiềm ẩn.
Theo tiêu chuẩn Việt Nam và ISO 9000 thì chất lượng dịch vụ là mức độ phù
hợp của sản phẩm dịch vụ thỏa mãn các yêu đề ra hoặc định trước của người mua.
Theo Zeithaml & Britner (2000): Chất lượng dịch vụ là sự đánh giá của khách
về tính siêu việt và sự tuyệt đối nói chung trong một thực thể. Nó là một dạng của thái 14
độ và các hệ quả từ một sự so sánh giữa những gì được mong đợi và nhận thức về
những thứ ta nhận được.
Theo Parasueraman & cộng sự, chất lượng dịch vụ được xem như khoảng cách
- Chất lượng dịch vụ tốt: khi dịch vụ mà khách nhận được vượt quá mong đợi
của họ.
- Chất lượng dịch vụ thỏa mãn: khi dịch vụ mà khách nhận được đáp ứng được
những mong đợi của họ.
- Chất lượng dịch vụ tồi: khi dịch vụ mà khách nhận được dưới sự mong đợi
của họ.
1.2.2 Quan điểm về chất lượng dịch vụ trong giáo dục đại học
Mặc dù khó đưa ra được một định nghĩa về chất lượng giáo dục đại học để mọi
người đều thừa nhận, song các nhà nghiên cứu vẫn cố gắng tìm ra những cách tiếp cận
phổ biến nhất. Cơ sở của các cách tiếp cận này xem chất lượng là một khái niệm mang
tính tương đối, rộng, đa chiều và với những người ở các cương vị khác nhau có thể có
những ưu tiên khác nhau khi xem xét nó. Ví dụ, đối với cán bộ giảng dạy và sinh viên
thì ưu tiên của khái niệm chất lượng phải là ở quá trình đào tạo, là cơ sở vật chất kỹ
thuật phục vụ quá trình giảng dạy và học tập. Còn đối với những người sử dụng lao
động, ưu tiên về chất lượng của họ lại là ở đầu ra, tức là ở trình độ, năng lực và kiến
thức của sinh viên khi ra trường v.v Do vậy không thể nói tới chất lượng như một khái
niệm nhất thể, chất lượng cần được xác định kèm theo với mục tiêu hay ý nghĩa của nó
và ở khía cạnh này, một trường đại học có thể có chất lượng cao ở một lĩnh vực này
nhưng ở một lĩnh vực khác lại có thể có chất lượng thấp.
Vậy ở đây khi đánh giá chất lượng giáo dục chúng ta cần đưa ra một hệ thống
đánh giá sao cho thể hiện rõ được các ưu tiên ở các cương vị khác nhau trong chất
lượng giáo dục đại học bao gồm cả quá trình đào tạo.
1.3 Mô hình đo lường chất lượng dịch vụ
1.3.1 Mô hình đo lường chất lượng của Gronross
Mô hình Gronross đề xuất năm 1984 bao gồm ba điểm cơ bản:
Thứ nhất, phân biệt chất lượng chức năng với chất lượng kỹ thuật. Chất lượng
chức năng là quá trình tương tác nhà cung cấp dịch vụ và khách hàng, nghĩa là làm thế
nào để dịch vụ được thể hiện và cung ứng. Chất lượng kỹ thuật là hệ quả của quá trình
vận hành hoạt động dịch vụ, tức là những gì khách hàng nhận được.
dịch vụ cụ thể và chi tiết với việc đưa ra mô hình 5 khoảng cách trong chất lượng dịch
vụ.
Khoảng cách một: Là sự khác biệt giữa mong đợi của khách hàng và nhận thức
của nhà quản lí về mong đợi của khách hàng. Điểm cơ bản của sự khác biệt này là do
kỳ vọng của khách hàng không được hiểu thấu đáo.
Cảm nhận về
ch
ấ
t lư
ợ
ng d
ị
c
h
Dịch vụ mong
đợi
Dịch vụ cảm
nhận
Yếu tố truyền
thông họat động
Marketing tác
động bên trong
bởi những tập
quán, tư tưởng
và truyền miệng
Hình ảnh
Chất lượng kỹ
thuật (Cái gì?)
Chất lượng chức
năng (Thế nào?)
2. Tin cậy: nói lên khả năng thực hiện dịch vụ phù hợp và đúng hạn ngay đầu
tiên.
3. Đáp ứng: nói lên sự mong muốn và sẵn sàng của nhân viên phục vụ cung
cấp dịch vụ cho khách hàng.
4. Năng lực phục vụ: nói lên trình độ chuyên môn để thực hiện dịch vụ. Khả
năng chuyên môn này cần thực hiện dịch vụ, khả năng nghiên cứu nắm bắt thông tin
liên quan cần thiết cho việc phục vụ khách hàng.
5. Tiếp cận liên quan đến việc tạo mọi điều kiện dễ dàng cho khách hàng trong
việc tiếp cận với dịch vụ và giờ mở cửa thuận lợi cho khách hàng.
6. Ân cần: nói lên tính cách phục vụ niềm nở, tôn trọng và thân thiện với
khách hàng.
7. Thông tin liên quan: nói đến việc giao tiếp, truyền đạt cho khách hàng bằng
ngôn ngữ họ dễ dàng hiểu được và lắng nghe những vấn đề liên quan đến họ như chi
phí, giải quyết khuyết nại.
8. Tín nhiệm: nói lên khả năng lòng tin cho khách hàng làm cho khách hàng
tin cậy vào công ty. Khả năng này thể hiện qua tên tuổi và tiếng tăm của công ty, nhân
cách nhân viên phục vụ giao tiếp trực tiếp với khách hàng.
9. An toàn: liên quan đến khả năng đảm bảo sự an toàn cho khách hàng thể
hiện qua sự an toàn về vật chất, tài chính, cũng như bảo mật thông tin.
10. Thấu hiểu: thể hiện thông qua khả năng hiểu biết nhu cầu của khách hàng
thông qua việc tìm hiểu những đòi hỏi của khách hàng, quan tâm đến cảm nhận của họ
và nhận dạng được khách hành thường xuyên.
Thang đo này bao quát hầu hết mọi khía cạnh của dịch vụ, tuy nhiên thang đo
này cho thấy có sự phức tạp trong đo lường, vì vậy Parasuraman và cộng tác viên đã
nghiên cứu và đưa mô hình SERVQUAL mới với thang đo gồm 5 thành phần. Gồm
có: 19
Tuy nhiên, số khác lại cho rằng hai khái niệm này là khác biệt (Shemwell và
cộng sự,1998) chất lượng dịch vụ là khái niệm khách quan, mang tính trừu tượng và 20
nhận thức, trong khi đó sự hài lòng là sự kết hợp các thành phần chủ quan, dựa vào
cảm giác và xúc giác. Trong khi đó, nghiên cứu của Parasuraman, Bery, Zeitham,
Bitner, Bolton ủng hộ quan điểm cho rằng sự hài lòng của khách hàng là kết quả của
cảm nhận/đánh giá chất lượng dịch vụ. Phát triển theo hường này, Cronin, Taylor,
Mackoy và Oliver cho rằng chất lượng dịch vụ là tiền tố cho sự hài lòng của khách
hàng.
Hiện nay các khái niệm, quan điểm trên chưa đưa ra được khái niệm thống nhất
vì quan điểm nào cũng đúng và đều đưa ra được kết quả nghiên cứu chứng mình
(Thôngsamak, 2001 theo Trần Xuân Kiên)
1.6 Một số nghiên cứu liên quan đến mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự
hài lòng trong lĩnh vực giáo dục tại Việt Nam
Nghiên cứu 1: Trần Xuân Kiên
Nghiên cứu “Đánh giá sự hài lòng của sinh viên về chất lượng đào tạo tại
Trường Đại học Kinh Tế và Quản trị kinh doanh – Đại học Thái Nguyên”, được
thực hiện bởi tác giả Trần Xuân Kiên, Viện Đảm bảo Chất lượng Giáo dục Đại học
Quốc Gia Hà Nội.
Mục tiêu chính của nghiên cứu:
- Đánh giá mức hài lòng của sinh viên về chất lượng đào tạo của nhà trường.
- Giúp cho nhà trường, cán bộ quản lý và cán bộ giảng dạy nâng cao hơn nữa
chất lượng đào tạo
- Các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo thông qua sự hài lòng của
sinh viên tại Trường đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh.
Phương pháp nghiên cứu
trị báo cáo bằng 56,16%, giá trị phưưong sai trích cho ta biết 5 thành phần được xác
định giải thích 56,16% biến thiên dữ liệu. Từ đây, nghiên cứu rút ra kết luận thang đo
được chấp nhận, các biến quan sát có tương quan nhau xét trên phạm vi tổng thể của
mẫu điều tra.
Vậy cho thấy mô hình nghiên cứu ban đầu của nghiên cứu được chấp nhận và
không có sự thay đổi
Mô hình được viết dưới dạng hàm số như sau:
Y = -0,157 + 0,238X
1
+ 0,243X
2
+ 0,218X
3
+ 0,25X
4
+ 0,15X
5
Vậy có thể thấy ở mô hình nghiên cứu này thì sự hài lòng của sinh viên chịu
ảnh hưởng của 5 thành phần. Tác động mạnh nhất đến sự hài lòng của sinh viên là
thành phần sự nhiệt tình của đội ngũ cán bộ và giảng viên (Beta = 0,274), thứ hai là
thành phần sự quan tâm của Nhà trường tới sinh viên (Beta = 0,152); thứ ba là thành
phần Cơ sở vật chất (Beta = 0,224); thứ tư là thành phần Đội ngũ giảng viên (Beta =
0,221) và cuối cùng là thành phấn Sự quan tâm của Nhà trường tới sinh viên (Beta =
0,152).
Sự hài lòng
Sự nhiệt tình của
CB&GV
Khả năng thực
hiện cam kết
- Khảo sát sự hài lòng của sinh viên đối với hoạt động đào tạo tại trường Đại
học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia TP.HCM và tìm hiểu một số các yếu tố tác
động đến kết quả này.
- Phục vụ công tác đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo tại trường Đại học
Khoa học Tự Nhiên.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được thiết kế thực hiện theo nghiên cứ định lượng thông qua bảng
câu hỏi thu thập thông tin, bên cạnh đó nghiên cứu còn kết hợp một phần nghiên cứu
định tính thông qua phỏng vấn sâu một số sinh viên về kỳ vọng của sinh viên sau khi
tham gia học tập tại trường cũng như những kiến nghị của sinh viên nhằm nâng cao
chất lượng hoạt động đào tạo của nhà trường. 23
Mô hình nghiên cứu Hình 1.4: Mô hình nghiên cứu sự hài lòng của sinh viên đối với hoạt động đào tạo
tại trường Đại học Khoa Học Tự Nhiên, Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Mô hình nghiên cứu sau khi chạy EFA
Sau khi chạy mô hình khám phá nhân tố EFA từ 4 nhân tố cơ bản ban đầu đầu
tăng lên 13 nhân tố. Các nhân tố như sau:
Bảng 1.1: Nhân tố và các biến quan sát ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên
được sau khóa
h
ọ
c
Đội ngũ giảng
viên 24
Mục tiêu chương trình đào tạo của ngành học rõ ràng.
Ngành đào tạo đáp ứng nhu cầu nhân lực của xã hội.
Tỷ lệ phân bổ lý thuyết và thực hành phù hợp với môn học.
Nội dung chương trình phù hợp với mục tiêu đào tạo của ngành.
Khóa học đáp ứng những mong đợi của cá nhân bạn.
Sự phù hợp
và mức độ
đáp ứng
của chương
trình đào
tạo
Kiến thức có được từ khóa học giúp cho sinh viên tự tin về khả
năng tìm việc sau khi ra trường.
Giảng viên đã sử dụng nhiều phương pháp giảng dạy.
Giảng viên đã sử dụng nhiều hình thức kiểm tra đánh giá môn
học.
Phương
pháp giảng
dạy và
Giảng viên đánh giá kết quả học tập công bằng đối với sinh viên
Công tác
kiểm tra
đánh giá
Công tác tổ chức thi cử nghiêm túc, chặt chẽ.
Sinh viên được thông báo đầy đủ kế họach giảng dạy.
Sinh viên được thông báo đầy đủ các tiêu chí đánh giá kết quả
học tập.
Thông tin
đào tạo
Các thông tin trên website của trường đa dạng, phong phú và