Đánh giá các điền kiện tự nhiên, kinh tế xã hội bằng hệ thống thông tin địa lý phục vụ dự phòng bệnh sốt rét ở lãnh thổ tỉnh Gia Lai - Pdf 25



MỤC LỤC

Mục

Nội dung Trang Mở đầu

1
1

Chương 1. cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu dịch bệnh
sốt rét theo quan điểm địa lý y học

5
1.1

Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan

5
1.1.1

Tình hình sốt rét trên thế giới và ở Việt Nam

5


23
1.2.2

Tác nhân gây bệnh

24
1.2.3

Nguồn nhiễm bệnh sốt rét

27
1.2.4

Vectơ truyền bệnh sốt rét

28
1.2.5

Cơ chế lây truyền bệnh sốt rét

30
1.2.6

Tính cảm thụ và miễn dịch trong bệnh sốt rét

31
1.2.7

Mùa sốt rét


36 Kết luận chương 1

45
2

Chương 2. các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến
sự phát sinh và lan truyền dịch bệnh sốt rét ở Gia Lai

46
2.1

Vị trí địa lý

46
2.2

Các yếu tố tự nhiên

50
2.2.1

Yếu tố địa hình

50
2.2.2


Yếu tố văn hoá, giáo dục

74
2.3.4

Công tác truyền thông

75
2.3.5

Yếu tố nhận thức, thái độ và hành vi về phòng, chống bệnh sốt rét

76 Kết luận chương 2

78
3

Chương 3. Đặc điểm dịch tễ học bệnh sốt rét ở Gia Lai

80
3.1

Thành phần loài muỗi Anopheles ở Gia Lai

80
3.2


93
3.4.2

Mùa phát triển của An.dirus

94
3.5

Phân bố bệnh nhân sốt rét ở Gia Lai

96
3.5.1

Theo không gian

96
3.5.2

Theo thời gian

98
3.5.3

Theo thành phần dân số

98
3.5.4

Theo thành phần dân tộc


4.2

Dự báo dịch bệnh sốt rét ở Gia Lai

117
4.2.1

Mô hình dự báo

118
4.2.2

Dự báo nguy cơ tự nhiên

121
4.2.3

Dự báo nguy cơ thực tế

125
4.3

Một số giải pháp tăng cường công tác y tế dự phòng bệnh sốt
rét ở Gia Lai

129
4.3.1

Hiện trạng mạng lưới y tế


143 Tài liệu tham khảo

144 Phụ lục

160
178
DANH MỤC
CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BNSR
:
Bệnh nhân sốt rét
BVTV
:
Bảo vệ thực vật

Địa chất thuỷ văn
GIS
:
Hệ thống thông tin địa lý
GPS
:
Hệ thống định vị toàn cầu
Epi Info,
HealthMapper

:
Phần mềm thu thập, xử lý số liệu thống kê
và tạo tập bản đồ y tế công cộng
KHQDY
:
Kết hợp quân dân y
KSTSR
:
Ký sinh trùng sốt rét
PCSR
:
Phòng chống sốt rét
QDY
:
Quân dân y
SRAT
:
Sốt rét ác tính
SRLH
:

Dân số và dự báo dân số tỉnh Gia Lai
63
2
Bảng 2.2
Dân số phân theo dân tộc
64
3
Bảng 2.3
So sánh mức thu nhập bình quân giữa Gia Lai và phụ
cận
68
4
Bảng 2.4
GDP/người của Gia Lai so với vùng Tây Nguyên và cả
nước
69
5
Bảng 2.5
Mạng lưới cơ sở y tế tỉnh Gia Lai
70
6
Bảng 2.6
Một số chỉ tiêu chung của Ngành Y tế tỉnh Gia Lai
72
7
Bảng 2.7
Một số chỉ số về giáo dục tỉnh Gia Lai
74
8
Bảng 2.8

Bảng 3.5
Biến động mật độ và tỷ lệ loài muỗi trên các vùng sốt rét
lưu hành
90
16
Bảng 3.6
Mật độ và tỷ lệ các loài muỗi Anopheles trên các dạng
sinh cảnh
91
17
Bảng 3.7
ảnh hưởng của các yếu tố thời tiết đến sự phát triển của
KSTSR
93
18
Bảng 3.8
Bệnh nhân sốt rét điều trị tại các cơ sở y tế Gia Lai
97
19
Bảng 3.9
Tỷ lệ bệnh nhân sốt rét ở các dân tộc
99
20
Bảng 4.1
Danh mục đối tượng địa lý cơ sở (nhóm Địa giới hành
chính)
105
21
Bảng 4.2
Danh mục đối tượng địa lý cơ sở (nhóm Hạ tầng dân cư)

28
Bảng 4.9
Tiêu chuẩn đánh giá nguy cơ thực tế bệnh dịch sốt rét
125
29
Bảng 4.10
Mức nguy cơ sốt rét thực tế và phân bố theo đơn vị hành
chính
127
30
Bảng 4.11
Một số chỉ tiêu phát triển ngành Y tế tỉnh Gia Lai tới
2020
132


32
5
Hình 1.5
Mô hình khái niệm nghiên cứu
37
6
Hình 2.1
Vị trí tỉnh Gia Lai trong lãnh thổ Việt Nam
47
7
Hình 2.2
Bản đồ hành chính tỉnh Gia Lai
49
8
Hình 2.3
Mô hình số độ cao tỉnh Gia Lai
51
9
Hình 2.4
Bản đồ phân tầng độ cao theo quy luật phân bố muỗi
53
10
Hình 2.5
Nhiệt độ trung bình các tháng trong năm
54
11
Hình 2.6
Chế độ ẩm trung bình các tháng trong năm
55
12

Cơ sở dữ liệu Mạng giao thông khu vực Tây Nguyên
73
20
Hình 3.1
Định dạng muỗi Anopheles ở Việt Nam
83
21
Hình 3.2
Mùa phát triển của An.minimus
94
22
Hình 3.3
Mùa phát triển của An.dirus
95
23
Hình 3.4
Mùa truyền bệnh sốt rét ở Gia Lai
95
24
Hình 3.5
Tình hình sốt rét ở huyện ChưPrông
96
25
Hình 3.6
Tình hình sốt rét ở huyện Đức Cơ
96
26
Hình 3.7
Tình hình sốt rét ở huyện Kông Chro
97

34
Hình 4.4
Siêu dữ liệu địa lý tỷ lệ 1/50.000 khu vực tỉnh Gia Lai
112
35
Hình 4.5
Mô hình kết xuất, hiển thị dữ liệu địa lý
113
36
Hình 4.6
Giao diện hệ quản trị CSDL địa lý tỉnh Gia Lai
113
37
Hình 4.7
Tra cứu, tìm kiếm thông tin địa lý theo địa danh
114
38
Hình 4.8
Phân tích địa hình từ Mô hình số độ cao tỉnh Gia Lai
114
39
Hình 4.9
Phân tích, triết xuất thông tin bằng công cụ của Hệ chuyên gia
115
40
Hình 4.10
Giao diện Hệ thống hỗ trợ quyết định
116
41
Hình 4.11

nghiệp khai thác khoáng sản. Xây dựng Tây Nguyên giàu về kinh tế, vững
mạnh về quốc phòng, an ninh, tiến tới thành vùng kinh tế động lực”. (Trích
Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX) [96].
Tây Nguyên tuy có vị trí đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế, xã
hội, an ninh, quốc phòng, nhưng lại là địa bàn rộng, địa hình phức tạp, cơ sở
hạ tầng kém, dân trí thấp, nhiều phong tục tập quán lạc hậu, tình hình bệnh sốt
rét ở Tây Nguyên dai dẳng hơn so với các khu vực khác trên cả nước: 92% số
huyện và 57% dân số sống trong vùng sốt rét lưu hành… Công tác thống kê,
quản lý nguồn bệnh và dự báo nguy cơ dịch bệnh là vấn đề còn rất nan giải
của ngành Y tế công cộng trong khu vực.
Gia Lai là trung tâm kinh tế - văn hoá của Tây Nguyên và cũng là một
trong các tỉnh đứng đầu của cả nước và đứng đầu khu vực Tây Nguyên về tỷ
lệ tử vong do sốt rét. Năm 2007 toàn tỉnh có 2 trường hợp tử vong do sốt rét;
năm 2008 tổng số người mắc sốt rét trên địa bàn tỉnh giảm còn 2.376 người
nhưng số ca tử vong lên đến 5 trường hợp. Chỉ 3 tháng đầu năm 2009, tình
hình sốt rét diễn biến phức tạp, số người mắc sốt rét tăng 15,18%; ký sinh - 2 -
trùng sốt rét tăng 45,90% so với cùng kỳ năm 2008 và đã có 2 trường hợp tử
vong.
Bệnh sốt rét ở Gia Lai nói riêng, cũng như ở các vùng khác trong cả
nước nói chung chịu ảnh hưởng nhiều bởi các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã
hội, có tính địa phương, phát sinh và phát triển theo mùa. Vì vậy, nghiên cứu,
đánh giá các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội ở lãnh thổ Gia Lai làm cơ sở
khoa học cho mục đích bảo đảm công tác y tế dự phòng bệnh sốt rét là vấn đề
cần thiết, cấp bách.
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn trên, chúng tôi chọn đề tài “Đánh giá
các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội bằng hệ thống thông tin địa lý phục
vụ dự phòng bệnh sốt rét ở lãnh thổ tỉnh Gia Lai".

địa lý và bệnh sốt rét, công tác y tế dự phòng dịch bệnh sốt rét.
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Ý nghĩa khoa học:
Kết quả nghiên cứu của luận án làm rõ mối quan hệ giữa các điều kiện
địa lý tự nhiên, kinh tế - xã hội với bệnh sốt rét ở Gia Lai nói riêng và Tây
Nguyên nói chung. Đồng thời chỉ rõ khả năng mở rộng ứng dụng phương
pháp nghiên cứu địa lý với việc hỗ trợ ra quyết định bằng GIS giải quyết các
vấn đề cấp bách mang tính chất xã hội, trong đó có dịch bệnh sốt rét.
- Ý nghĩa thực tiễn:
 Kết quả nghiên cứu của luận án cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn
giúp tỉnh xây dựng chiến lược và thực hiện các giải pháp mạnh, thích hợp cho
công tác bảo đảm y tế dự phòng trong điều kiện cụ thể ở Gia Lai nhằm phòng,
chống dịch bệnh sốt rét nói riêng, dịch bệnh truyền nhiễm nói chung;
 Kết quả và phương pháp nghiên cứu của luận án cũng có thể áp dụng
cho các nghiên cứu phục vụ bảo đảm y tế dự phòng ở các địa bàn khác.
5. Những điểm mới của luận án
- Đã xác lập được tiêu chuẩn đánh giá nguy cơ sốt rét tự nhiên và nguy
cơ sốt rét thực tế ở Gia Lai;
- Đã xây dựng tập bản đồ chuyên đề và cơ sở dữ liệu địa lý trên cơ sở
áp dụng Quy chuẩn thông tin địa lý quốc gia, phục vụ công tác phòng chống
dịch bệnh sốt rét của Gia Lai; - 4 -
- Dự báo nguy cơ tự nhiên và thực tế bệnh sốt rét ở Gia Lai với sự hỗ
trợ của GIS và phương pháp toán;
- Điều chỉnh một số giải pháp thích hợp phòng chống bệnh sốt rét trên
quan điểm địa lý y học.

6. Những luận điểm bảo vệ Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
DỊCH BỆNH SỐT RÉT THEO QUAN ĐIỂM ĐỊA LÝ Y HỌC
Nội dung của chương này trình bày tổng quan cơ sở lý luận, hệ phương
pháp nghiên cứu dịch bệnh sốt rét và công cuộc phòng, chống sốt rét trên thế
giới và Việt Nam. Các vấn đề được nghiên cứu trong mối quan hệ biện chứng
giữa các điều kiện môi trường với sự hình thành và khả năng lan truyền dịch
bệnh sốt rét theo quan điểm địa lý ứng dụng.
1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan
1.1.1. Tình hình sốt rét trên thế giới và ở Việt Nam
a) Tình hình sốt rét trên thế giới: Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO),
năm 1993 dân số thế giới là 5 tỷ 540 triệu người thì có đến 2 tỷ 20 triệu người
(bằng 36% dân số thế giới) sống trong vùng có sốt rét, 9% dân số sống trong
vùng sốt rét lưu hành nặng [153]. Hàng năm, trên thế giới có khoảng 300-500
triệu người mắc bệnh sốt rét (trong đó hơn 90% ở Châu Phi nhiệt đới) và đã
đăng ký được từ 5 đến 6 triệu ca sốt rét có ký sinh trùng sốt rét (KSTSR),
nhưng trong thực thế con số này ước tính lớn hơn 4-5 lần [82], [155].
Năm 1993, số sốt rét đăng ký được là 51 triệu (trừ Nam Sahara, Châu
Phi) thì 2/3 là từ sáu nước: Ấn Độ, Braxin, Srilanca, Việt Nam, Colombia và
đảo Solomon (theo trật tự từ cao đến thấp). Chết do sốt rét từ 1,5-2,7 triệu
người mỗi năm (riêng Châu Phi chiếm 80%), trong đó gần 1 triệu trẻ em dưới
5 tuổi. Tính ra, cứ 30 giây lại có một trường hợp tử vong do sốt rét [22], [23], - 6 -
[82], [105]. Ở các khu vực ngoài Châu Phi, mỗi năm ước tính có khoảng

Mỹ ở Miền Bắc gây nhiều khó khăn và tình hình sốt rét có xấu đi, nhưng
không có những đột biến gây ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ nhân dân.
Từ năm 1976 - 1980, tình hình phòng chống sốt rét diễn ra thuận lợi, tỷ
lệ KSTSR ở các tỉnh phía Nam giảm mạnh, từ 11,78% KSTSR/lam (1976)
xuống 3,5% KSTSR/lam (1980). Cả nước từ 2,8% KSTSR/lam xuống còn
1,7% KSTSR/lam (1980). Dịch sốt rét giảm từ 88 vụ (1976) xuống 21 vụ
(1980) [105], [106].
Tuy nhiên, trong những năm 80 và đầu thập kỷ 90 của thế kỷ 20, đặc
biệt giai đoạn 1985-1992, những khó khăn do khủng hoảng kinh tế và giao
lưu lớn sau chiến tranh, nguồn lực cho phòng, chống sốt rét (PCSR) cạn kiệt
do không còn viện trợ, mạng lưới y tế cơ sở (xã, thôn bản) vừa yếu lại thiếu,
ký sinh trùng sốt rét kháng thuốc và muỗi kháng hoá chất Dichloro - Diphenyl
- Trichloroethane (DDT) phổ biến là điều kiện để dịch sốt rét quay trở lại
trong phạm vi cả nước với tốc độ nhanh và ngày càng nghiêm trọng: số chết
do sốt rét năm 1985 là 1.413 người tăng lên 3.493 người năm 1989 và đỉnh
cao vào năm 1991 với hơn 1 triệu người mắc, 144 vụ dịch và 4.646 người
chết do sốt rét. Bệnh sốt rét hoành hành ở hầu khắp các khu vực miền núi và
nông thôn nước ta. Sau 10 năm chuyển sang thực hiện chiến lược PCSR
(1991-2000), bệnh nhân sốt rét giảm 73,15%, KSTSR giảm 60,46%, dịch sốt
rét giảm 98,6%, chết do sốt rét giảm 64,98% [22], [84], [105], [106], [125].
1.1.2. Nghiên cứu đặc điểm và Phân vùng dịch tễ sốt rét trên thế giới
và ở Việt Nam
a) Phân vùng dịch tễ sốt rét trên thế giới: Năm 1938, Gilles phân vùng
dịch tễ sốt rét theo khí hậu [81], đến năm 1957 Macdonald đã phân vùng sốt
rét trên thế giới thành 12 vùng. - 8 -
Năm 1968, Lysenko và Samaschko phân vùng theo địa lý (vùng lớn) và
các tiểu vùng theo những loại hình sốt rét khác nhau.

500m trên mặt biển, nước chảy, sốt rét lưu hành nặng.
- Vùng 4: Vùng núi rừng Tây Nguyên. Đồng bào sống chủ yếu du
canh, du cư hoặc định canh, du cư, sốt rét lưu hành rất nặng.
- Vùng 5: Vùng cao từ 1100-1200m trên mặt nước biển, sốt rét không
lưu hành.
Giai đoạn Tiêu diệt sốt rét (1958-1964) Đặng Văn Ngữ phân vùng dịch
tễ học bệnh sốt rét thành 7 vùng theo đặc trưng sinh cảnh [21], [81]:
- Vùng 1: Vùng đồng bằng có độ cao từ 0-50m so với mực nước biển,
không có SRLH, song có khả năng xảy ra dịch nếu có nguồn bệnh mang từ
nơi khác tới.
- Vùng 2: Vùng nước chảy núi đồi thấp, có độ cao 100-200m so với
mực nước biển, có SRLH nhẹ.
- Vùng 3: Vùng nước chảy, núi đồi có độ cao từ 200-400m so với mực
nước biển, đây là vùng có SRLH vừa.
- Vùng 4: Vùng nước chảy, núi rừng có độ cao 400-800m so với mực
nước biển, có nhiều khe suối, là vùng SRLH nặng. - Vùng 5: Vùng
cao nguyên, địa hình
tương đối bằng phẳng, có
khe suối, khí hậu lạnh,
SRLH ở mức độ vừa và
nhẹ.

hành (vùng A, B, C, D, E). Việc phân vùng này kế thừa sự phân vùng của
Đặng Văn Ngữ và dựa vào các yếu tố như: Yếu tố tự nhiên, yếu tố về muỗi
truyền bệnh sốt rét, yếu tố về mầm bệnh (KSTSR), yếu tố về kinh tế - xã hội,
yếu tố về mạng lưới y tế và chuyên khoa sốt rét.
Từ năm 1992 đến nay, thực hiện chiến lược PCSR của Quốc gia, trong
vùng 4, chúng ta có thêm các tiểu vùng:
- Tiểu vùng 4a: Nước chảy núi rừng Miền Bắc.
- Tiểu vùng 4b: Nước chảy núi rừng Miền Trung và Tây Nguyên.
- Tiểu vùng 4c: Miền Đông Nam Bộ.
Trong các vùng có một số loại hình sốt rét như: Sốt rét vùng thủy điện,
sốt rét vùng trồng cây công nghiệp, sốt rét vùng trồng dâu nuôi tằm, sốt rét
vùng đồng bào du canh du cư, sốt rét ở đồng bào sống định cư du canh
Những nghiên cứu gần đây tập trung vào đặc điểm dịch tễ của từng vùng, tiểu
vùng, loại hình sốt rét để đề ra các biện pháp PCSR thích hợp [75], [81],
[127].
Do đặc điểm địa hình, sinh cảnh, vai trò của An.minimus và An.dirus,
điều kiện kinh tế xã hội và mạng lưới y tế cơ sở, khu vực Miền Trung - Tây
Nguyên được chia theo 5 vùng dịch tễ sốt rét can thiệp là : Vùng không có sốt
rét lưu hành; Vùng có nguy cơ sốt rét quay lại; Vùng có sốt rét lưu hành nhẹ;
Vùng có sốt rét lưu hành vừa và Vùng có sốt rét lưu hành nặng.
1.1.3. Công tác phòng, chống dịch bệnh sốt rét trên thế giới và ở Việt
Nam - 11 -
a) Trên thế giới: Chiến lược tiêu diệt bệnh sốt rét trên toàn cầu bắt đầu
thực hiện từ năm 1955 với 4 giai đoạn: Chuẩn bị, tấn công, củng cố và bảo vệ
thành quả. Trong 10 năm đầu (1955-1964), chiến lược tiêu diệt sốt rét chưa
gặp khó khăn và đạt được nhiều kết quả khả quan, một số nước Châu Âu,
Châu Mỹ đã đạt được mục tiêu của chương trình. Nhưng ngay từ những năm

WHO triệu tập (Amsterdam, tháng 10/1992) đã ra Tuyên bố thế giới PCSR.
Bốn yêu cầu kỹ thuật cơ bản của chiến lược này là: Chẩn đoán sớm và
điều trị kịp thời; Lập kế hoạch và thực hiện các biện pháp phòng bệnh có - 12 -
chọn lọc và có thể duy trì được; Phát hiện sớm, khống chế hoặc ngăn ngừa
các vụ dịch sốt rét và Đánh giá lại một cách đều đặn tình hình sốt rét của đất
nước, đặc biệt các yếu tố sinh thái, xã hội và kinh tế có tính chất quyết định
đối với dịch bệnh [22], [23], [82].
Vai trò của cộng đồng và các tổ chức trong cộng đồng là một
trong những chủ đề được nhấn mạnh và chỉ rõ:
- Đối với các nước có nguồn lực hạn chế (Châu Phi) cần tập
trung ưu tiên vào việc quản lý tốt các ca bệnh sốt rét như là yếu tố cơ bản để
phát triển các chương trình PCSR thông qua các cơ quan y tế chung.
- Đối với các nước thuộc Châu Á, Châu Mỹ cần phòng chống
vectơ, định hướng mục tiêu tốt hơn, nhằm bảo vệ cộng đồng một cách có hiệu
quả và bền vững. Hầu hết các chương trình này đều phải khẩn cấp định hướng
và cấu trúc lại, trong đó việc quản lý ca bệnh phải được nhấn mạnh và trở
thành một nhiệm vụ của cơ quan y tế chung [22], [140], [151].
Năm 1998, Tổng Giám đốc Tổ chức Y tế thế giới đã đưa ra sáng kiến
“Đẩy lùi sốt rét” tập trung chủ yếu vào Châu Phi, nơi chiếm 80% số ca chết vì
sốt rét trên thế giới. Đây không phải là một chiến lược mới mà nhấn mạnh vào
sự hợp tác để đẩy lùi sốt rét, trong đó tập trung vào hai nội dung quan trọng:
Chẩn đoán, điều trị sớm sốt rét và phát triển các yếu tố phòng chống sốt rét
bền vững.
b) Phòng chống dịch sốt rét ở Việt Nam: Chương trình tiêu diệt sốt rét ở
Miền Bắc nước ta chính thức bắt đầu từ năm 1958. Để giành thắng lợi, ngành
Y tế đã tích cực chuẩn bị mọi mặt về cơ sở vật chất, bộ máy tổ chức và nhân
lực. Điều tra cơ bản về tình hình sốt rét trên một quy mô rộng lớn, thí điểm

phòng chống sốt rét theo Nghị quyết của Đại Hội đồng Y tế thế giới. Mục tiêu
PCSR năm 1991-2000 chia thành hai giai đoạn:
- Từ năm 1991-1995: Khống chế tốc độ tăng, giảm tỷ lệ chết, giảm dịch
sốt rét (1991-1993), tiến tới ổn định tình hình và bắt đầu giảm trở lại (1994-
1995) và khống chế sốt rét vào năm 2000 với tiêu chuẩn KSTSR/lam là
0,25% (dưới mức năm 1964), không để xảy ra dịch sốt rét.
Từ năm 1996-2000: Giảm chết 60%, giảm mắc 50% so với năm 1995,
không để dịch lớn xảy ra, nếu xảy ra phải dập tắt kịp thời, phát triển các yếu
tố bền vững để duy trì thành quả PCSR lâu dài [84], [90].
Đến nay, chương trình thực hiện chiến lược PCSR đã đạt được nhiều
thành tựu to lớn, song không phải đã hoàn toàn khống chế được sốt rét. Ở
những vùng sốt rét lưu hành nặng vẫn còn tồn tại nhiều yếu tố nguy cơ sốt rét
quay lại.
1.1.4. Các công trình nghiên cứu liên quan đến khu vực Gia Lai
a) Nhóm các công trình nghiên cứu điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội -
Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát sinh và lan truyền bệnh sốt rét:
Có thể khái quát rằng, cho đến nay, Tây Nguyên cũng là một trong số
các khu vực được quan tâm nghiên cứu, đánh giá một cách tổng hợp, được
phân vùng một cách có hệ thống từ tỷ lệ nhỏ đến tỷ lệ lớn, trong đó Gia Lai
nằm trong vùng cao nguyên Pleiku. Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu,
đánh giá về tiềm năng của Tây Nguyên phục vụ cho mục đích quy hoạch, sử
dụng hợp lý lãnh thổ, nhưng trước tiên phải kể tới công trình điều tra tổng
hợp do Nguyễn Văn Chiển (chủ biên, 1985 -1986) đề cập một cách tổng hợp,
toàn diện về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội Tây Nguyên, vẫn còn nguyên
giá trị cho tới nay [18], [19]. - 14 -
 Về địa chất, địa mạo: Những công trình nghiên cứu đầu tiên được
gắn với tên tuổi của Blondel.F, Burret.R, Fromaget.J, Jacob.Ch, Hoffet J.H

Những nghiên cứu kể trên, cùng với với số liệu quan trắc lâu dài Khí
tượng - Thuỷ văn trên lãnh thổ Tây Nguyên từ nhiều năm nay là cơ sở nền
tảng cho phương pháp hồi cứu của luận án.
 Về địa chất thủy văn và tài nguyên nước dưới đất: Cũng như tài
nguyên nước mặt, tài nguyên nước dưới đất đã được điều tra nghiên cứu và
khai thác từ những năm đầu thế kỷ 20. Vào thời thuộc Pháp trong khi việc - 15 -
nghiên cứu địa chất được chú ý khá sớm và đã có những công trình điều tra
địa chất khu vực có giá trị của người Pháp được công bố thì về mặt địa chất
thủy văn (ĐCTV) hầu như không có một công trình nào đáng kể.
Sau ngày giải phóng, công tác điều tra ĐCTV ở Miền Nam mới được
triển khai mạnh mẽ. Liên đoàn ĐCTV Miền Nam thuộc Tổng cục Địa chất đã
tiến hành công tác tìm kiếm - thăm dò nước dưới đất trên hàng loạt vùng kinh
tế dân cư trọng điểm nhằm phục vụ công cuộc xây dựng các khu kinh tế mới
và phát triển đô thị. Nhiều công trình nghiên cứu khoa học về điều kiện
ĐCTV Tây Nguyên cũng đã được hoàn thành trong 20 năm qua, trong đó
quan trọng nhất là : Đề tài “Nước dưới đất Tây Nguyên” của GS Nguyễn
Thượng Hùng chủ trì, thuộc Chương trình điều tra tổng hợp Tây Nguyên
(1976 - 1980). Báo cáo tổng kết đề tài “Tài nguyên nước dưới đất Tây
Nguyên” do GS Nguyễn Thượng Hùng chủ biên, thuộc chương trình 48 - C
(1984 - 1988) [67], [115].
Những công trình trên đã đề cập tương đối toàn diện những vấn đề cơ
bản của ĐCTV khu vực nghiên cứu như vấn đề phân tầng và phân vùng cấu
trúc ĐCTV, đặc điểm phân bố, tàng trữ, thành phần hoá học của nước dưới
đất, trữ lượng khai thác tiềm năng, trữ lượng khai thác dự báo và điều kiện
hình thành trữ lượng của nước dưới đất, phân vùng triển vọng và tiền đề tìm
kiếm thăm dò nước dưới đất, phương hướng khai thác sử dụng hợp lý và bảo
vệ tài nguyên nước dưới đất và những vấn đề khác. Có thể xem đây là những

Đến năm 1988, Phạm Quang Khánh và cộng sự đã xây dựng bản đồ đất
toàn Tây Nguyên, trong đó có Gia Lai, tỷ lệ 1/250.000, nghiên cứu nguồn gốc
phát sinh phân loại đất, đặc điểm và sự phân bố các loại đất, đồng thời khảo
sát xây dựng bản đồ đất cho từng khu vực trọng điểm nông nghiệp với tỷ lệ
bản đồ 1/10.000, 1/25.000, 1/50.000 và 1/100.000 [65].
 Về thực vật: Có các công trình nghiên cứu của M.Schmid
(1962,1974) đã thống kê thành phần loài thực vật ở mức độ khái quát. Trong
quá trình điều tra tổng hợp Tây Nguyên, Nguyễn Văn Chiển (chủ biên) đã có
những báo cáo, nhận định sơ bộ về khả năng phát triển nông lâm nghiệp của
Tây Nguyên.
b) Nhóm các công trình nghiên cứu về dịch tễ bệnh sốt rét: Những năm
gần đây, nhất là từ sau Hội nghị Liên bộ giữa Bộ Quốc phòng và Bộ Y tế về
“Kết hợp quân dân y” thì công tác nghiên cứu các tiềm năng tự nhiên, xã hội
phục vụ công tác chăm sóc sức khoẻ và bảo đảm y tế cho cộng đồng các dân
tộc ít người, vùng sâu, vùng xa rất được quan tâm, nhất là ở các cơ quan, đơn
vị đứng chân trên địa bàn chiến lược Tây Nguyên [12], [104], [105], [134].
Các nghiên cứu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội có ảnh hưởng đến
nguyên nhân bùng phát và lan truyền dịch bệnh cũng đã được nghiên cứu
như: “Một số vấn đề cơ bản về công tác hậu cần khu vực phòng thủ tỉnh,
thành phố trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc” (Nguyễn Đình Sắc, 1998),
“Chuẩn bị đất nước về mặt hậu cần cho chiến tranh” (Học viện Hậu cần,
1987) [50], [111], [114], [136].
Trong công tác chỉ đạo khống chế sốt rét, bảo vệ sức khoẻ cho lực
lượng thi công xây dựng đường Trường Sơn, Nguyễn Võ Hinh (2002) cũng đã
đề cập đến một loạt các biện pháp về tổ chức kỹ thuật nhằm hạ thấp tỷ lệ mắc
và tránh tử vong do sốt rét. Nguyễn Đắc Thành và CS (2002) cũng đã đưa ra
mô hình giám sát chỉ đạo gồm 10 biện pháp về tổ chức kỹ thuật, kết quả sau 2 - 17 -

cư, mật độ dân số, điều kiện khí hậu, độ ẩm, nhiệt độ, lượng mưa, phân bố các
loại ký sinh trùng, các vectơ truyền bệnh [141], [161].
Đối với bệnh sốt rét, một dạng bệnh liên quan chặt chẽ với môi trường
địa lý như sinh cảnh sống của các vectơ truyền bệnh, điều kiện sống của dân
cư và các biện pháp phòng tránh, việc sử dụng GIS để nghiên cứu, quản lý
các dữ liệu về sốt rét và phân tích tình hình dịch bệnh là rất khả thi và có ý
nghĩa thực tiễn cao. Các nước có trình độ công nghệ GIS cao (Mỹ, Pháp,
Canada, Thái Lan ) đã áp dụng rất thành công các "Hệ thống cảnh báo sớm - 18 -
dịch bệnh sốt rét" bằng việc sử dụng các chương trình máy tính chuyên dụng
kết hợp với các nghiên cứu về khí hậu, thời tiết Chẳng hạn, như hệ thống
cảnh báo sốt rét có tên là Demeter. Hệ thống Demeter hiện đang được sử dụng
để giúp cho một số nước ở Miền Nam châu Phi, cho phép dự đoán đúng đến
85% số vụ dịch trong suốt thời gian sau những năm có dịch sốt rét lan truyền
ở mức độ thấp [52], [147], [159].
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cũng đã xây dựng một số phần mềm
chuyên gia (HealthMapper, Epi-Info ) để giúp cho các nhân viên y tế bộ
công cụ hỗ trợ thu thập các dữ liệu trọng tâm trong việc tạo bản đồ y tế công
cộng cấp quốc gia và khu vực. Đồng thời, quản lý dữ liệu về y tế và tạo các
bản đồ, biểu đồ và báo cáo chuyên đề để phục vụ quản lý chương trình y tế và
hỗ trợ việc ra các quyết định [148], [150], [152], [154], [158], [164].
HealthMapper cung cấp giải pháp sử dụng một bộ cơ sở dữ liệu số
chuẩn hóa có sẵn gồm những thông tin thiết thực bao gồm: bản đồ địa giới,
các yếu tố môi trường (như hồ nước, sông, độ cao ) cũng như những thông
tin quan trọng về dân số và y tế cơ bản, cơ sở hạ tầng trường học và hệ thống
cấp nước. Cung cấp cho người dùng những biểu tượng quen thuộc với chức
năng tự động tạo bản đồ, bảng và biểu đồ dữ liệu của chính mình. Đưa ra giao
diện quản lý dữ liệu đơn giản mà người sử dụng có thể nhập và cập nhập dễ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status