Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội dải ven biển Đồng bằng sông Hồng
làm cơ sở cho phát triển nông nghiệp bền vững
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Dải ven biển nằm trong số những hệ sinh thái quan trọng nhất trên trái đất.
Những dải rừng đầm lầy vùng cửa sông, ven biển, các bãi triều, cung cấp dinh
dưỡng cho môi trường nước, góp phần duy trì sức sản xuất của các thuỷ vực, cung
cấp nhiều loại thuỷ sản và hải sản có giá trị cao cho con người. Môi trường sinh thái đất
đai đa dạng vùng cửa sông, ven biển, đầm, hồ với nhiều nguồn nước mặn, lợ, ngọt khác
nhau cho phép phát triển một nền nông nghiệp sinh thái năng động. Bên cạnh những
lợi thế về nhiều mặt, vùng đất ven biển cũng nhạy cảm với các hoạt động của con
người và tác động của thiên nhiên.
Dải ven biển Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) được phân chia bởi ranh giới
của 11 huyện, thị xã, thành phố thuộc các tỉnh/thành phố là: Hải Phòng, Nam Định,
Thái Bình và Ninh Bình, có diện tích tự nhiên 210.533 ha gắn liền với các hệ thống
cảng biển và các cơ sở công nghiệp quan trọng. Vị trí địa lý của vùng thuận lợi cho
phát triển nông nghiệp nói riêng và phát triển kinh tế - xã hội nói chung.
Do trải dài từ: 19o53’ đến 21o34' vĩ độ Bắc nên có nhiều yếu tố và đặc điểm
tự nhiên khác nhau đã chi phối, tác động tới quá trình phát triển nông nghiệp nói
riêng và phát triển kinh tế xã hội nói chung. Tuy nhiên, dải ven biển ĐBSH chưa
thực sự được quan tâm nghiên cứu một cách đầy đủ, thường là những nghiên cứu
đơn lẻ, không mang tính tổng thể nên việc khai thác sử dụng còn có nhiều hạn chế.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu: “Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên - kinh tế xã
hội dải ven biển ĐBSH làm cơ sở cho phát triển nông nghiệp bền vững” là đòi hỏi
hết sức cấp bách và có ý nghĩa rất lớn về kinh tế, xã hội và môi trường nhằm:
- Đánh giá được đặc điểm của dải ven biển ĐBSH.
- Đề xuất các giải pháp để sử dụng hợp lý dải ven biển ĐBSH cho phát triển
nông nghiệp bền vững.
2. Mục đích của đề tài
- Đánh giá các yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội và môi trường có tác động tới
làm cơ sở cho phát triển nông nghiệp bền vững
CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN VỀ DẢI VEN BIỂN
1.1. Các khái niệm cơ bản
1.1.1. Dải ven biển
1.1.1.1. Trên thế giới
Theo các tài liệu nước ngoài, tương đương với thuật ngữ “dải ven biển” của
Việt Nam, có các thuật ngữ sau:
- Nga: vùng duyên hải
- Pháp: vùng ven biển (littoral hoặc cote)
- Anh: vùng ven biển (Coastal zone)
- Trung Quốc: Vùng duyên hải hay vùng diên hải
Tại hội thảo Khoa học Quốc gia: “Nghiên cứu và quản lý vùng ven biển”
tháng 12 năm 1992, Giáo sư Joe Baker của Viện Khoa học Biển Australia đã dẫn ra
một số định nghĩa về dải ven biển như sau:
Thứ nhất: “Dải ven biển là độ dài đường bờ biển của đất nước” - “The lineal
length of the country’s coastline”. Ông cho rằng định nghĩa này chưa thích đáng, vì
nó không thể hiện được sự tương tác giữa biển và lục địa cũng như những biến đổi
diễn ra do mối tương tác đó [25].
Tiếp đến ông lại dẫn ra định nghĩa khác: “Vùng ven biển là dải đất rộng 3km
dọc đường bờ biển, bao gồm phần kéo dài của biển đến ranh giới ảnh hưởng của
thủy triều vào trong đất liền”. Tuy định nghĩa này cũng đã đề cập đến tương tác biển
- lục địa, thông qua tác động của thủy triều, song vẫn có những hạn chế, nhất là khi
nghiên cứu những vấn đề liên quan đến sử dụng đất đai, thổ nhưỡng và các vấn đề
về kinh tế - xã hội ... của dải ven biển.
Sau cùng ông đưa ra định nghĩa: “Vùng ven biển là vùng đất - biển kéo dài
từ giới hạn phía trên của lưu vực các con sông, suối ... chảy vào biển, tới giới hạn
của lục địa”. Với định nghĩa này thì vùng ven biển nước ta có phạm vi rất rộng và
hầu như bao trùm toàn bộ lãnh thổ Việt Nam. Do đó, việc xác định nội dung nghiên
cứu, trọng điểm nghiên cứu và quy hoạch phát triển vùng ven biển có nhiều khó
Anh, Pháp, Đức), vùng ven biển được định nghĩa như sau: “Vùng ven biển là dải
ranh giới giữa đất liền và biển, đặc trưng bởi sự có mặt phổ biến đặc trưng của các
dạng địa hình bờ biển cổ và hiện đại. Ở dạng đầy đủ hơn, bao gồm khái niệm miền
duyên hải - là dải lục địa có các thềm biển cổ, dải bờ - nơi có các dạng bờ hiện đại,
và ven bờ biển là nơi có các dạng bờ cổ bị chìm ngập” [3].
Định nghĩa này trình bày khái niệm theo quan điểm địa mạo, địa lý tự nhiên.
Cũng theo quan điểm này, một số tác giả khác sử dụng đường đẳng cao 25m làm
ranh giới phía trong của vùng ven biển. Thực tiễn nghiên cứu cho thấy, ở phạm vi
rộng hơn thì cách xác định ranh giới vùng ven biển như trên là chưa bao quát được
Nguyễn Thị Thu Hà – K17 – Cao học Môi Trường
4
Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội dải ven biển Đồng bằng sông Hồng
làm cơ sở cho phát triển nông nghiệp bền vững
hết những đối tượng nghiên cứu mà các nhà khoa học và quản lý quan tâm, nhất là
trong các lĩnh vực khoa học Địa lý kinh tế - xã hội, kinh tế học và nhân khẩu học.
Phần lớn việc phân định ranh giới của dải ven biển dựa trên các căn cứ về tự
nhiên. Riêng một số nghiên cứu về kinh tế - xã hội lại thiên về việc phân định theo
ranh giới hành chính.
1.1.1.2. Ở Việt Nam
Trong báo cáo khoa học của Uỷ ban Quốc gia về biển của Việt Nam (IOC),
GS.TSKH Đặng Ngọc Thanh, chủ nhiệm các Chương trình điều tra nghiên cứu biển
của Việt Nam từ năm 1997 - 2000 đã đưa ra khái niệm vùng ven biển như sau: “
Vùng ven biển Việt Nam chạy dài trên 3200 km bờ biển của đất nước, bao gồm
24/50 tỉnh và thành phố, 100/400 huyện với số dân chiếm ¼ dân số cả nước ...”[3].
Theo cách hiểu như trên thì vùng ven biển nước ta được xác định bởi ranh
giới hành chính các huyện có bờ biển. Cách xác định này giúp cho việc thu thập tài
Trong đề án nghiên cứu điều tra cơ bản cấp nhà nước: “Điều tra đánh giá
hiện trạng môi trường tài nguyên nước dải ven biển Việt Nam phục vụ phát triển
kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường”, do viện Địa lý, Trung tâm Khoa học tự
nhiên và công nghệ Quốc gia thực hiện (1996 - 1999), các tác giả đã coi dải ven
biển như “mặt phố” của nước ta. Mặc dù trong nội dung của đề án, các tác giả
không đưa ra một định nghĩa hay vạch giới hạn cụ thể của vùng ven biển. Song,
trong quá trình nghiên cứu, các tác giả đã vận dụng linh hoạt, kết hợp sử dụng ranh
giới hành chính các huyện có đường bờ biển với việc phân tích các mối quan hệ
tương tác biển - lục địa, các điều kiện tự nhiên, các hoạt động kinh tế xã hội của các
huyện gần bờ biển liền kề với các huyện có đường bờ biển để chọn thêm các huyện
xếp vào lãnh thổ nghiên cứu - Vùng ven biển.
Đề tài KC.09.11: “Cơ sở khoa học cho việc phát triển kinh tế - xã hội dải ven
biển Việt Nam. Đề xuất các mô hình phát triển cho một số khu vực trọng điểm”
(2004) đã đưa ra khái niệm dải ven biển (hay còn gọi là vùng ven biển, đới bờ, dải
ven bờ, hoặc dải bờ biển ...) được định nghĩa là một thực thể tự nhiên hoàn chỉnh
cấp hành tinh, có đặc trưng riêng về nguồn gốc phát sinh, về hình thái, cấu trúc, về
cơ cấu tài nguyên và quá trình phát triển, tiến hóa... [25].
Có thể nói dải ven biển là một khu vực động lực, thường xuyên biến đổi và
là khu vực hết sức nhạy cảm đối với các tác động của tự nhiên cũng như các tác
động của con người, mọi hoạt động kinh tế - xã hội của con người diễn ra ở ngoài
biển và trên các khu vực lân cận trong chừng mực nhất định đều có tác động trực
tiếp hay gián tiếp đến dải ven biển.
Theo quan điểm của nhiều tác giả, ranh giới của dải ven biển bao gồm cả
không gian trên biển và không gian trên đất liền ven biển. Trong đó:
- Phạm vi không gian trên biển được xác định là vùng biển và thềm lục địa
Nguyễn Thị Thu Hà – K17 – Cao học Môi Trường
6
mục đích quản lý khác nhau, trong đó vấn đề ranh giới cần được xem xét. Ví dụ ở
một số nước Châu Âu, vùng ven bờ mở rộng ra tới vùng lãnh hải, một số nước khác
thì lấy đường đẳng sâu làm giới hạn. Còn về ranh giới đất liền thì cũng rất mơ hồ do
Nguyễn Thị Thu Hà – K17 – Cao học Môi Trường
7
Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội dải ven biển Đồng bằng sông Hồng
làm cơ sở cho phát triển nông nghiệp bền vững
tác động của biển vào khí hậu có thể vào đến vùng nội địa bên trong cũng như vùng
đồng bằng ngập lụt rộng lớn.
Trong đề tài KC.09.27/06-10: “Nghiên cứu cơ sở khoa học, pháp lý và phân
vùng quản lý tổng hợp vùng ven bờ biển Việt Nam” thuộc Chương trình Khoa học
Công nghệ Biển phục vụ Phát triển Kinh tế - xã hội, các tác giả đã nêu khái niệm
Đới bờ và vùng bờ như sau:
“Đới bờ (coastal zone) và vùng bờ (coastal area) là các mảng không gian
nằm chuyển tiếp giữa lục địa và biển (đại dương), luôn chịu tác động tương hỗ giữa
quá trình lục địa (chủ yếu là sông) và biển (chủ yếu là sóng, dòng chẩy và thuỷ
triều), giữa các hệ thống tự nhiên (coastal system) và hệ nhân văn (tâm điểm là hoạt
động của con người), giữa các ngành và những người sử dụng tài nguyên vùng bờ
(hoặc tài nguyên bờ - coastal resources) theo cả cấu trúc dọc (trung ương xuống địa
phương) và cấu trúc ngang (các ngành trên cùng địa bàn), giữa cộng đồng dân địa
phương với các thành phần kinh tế khác”. Vì thế, đới bờ/vùng bờ còn được gọi là
đới tương tác, nhưng trong thực tế khi quản lý vùng bờ người ta thường rất ít quan
tâm đến mối quan hệ bản chất này [3].
Trong đề tài KT.06.07:“Nghiên cứu xây dựng phương án quản lý tổng hợp
vùng bờ biển Việt Nam, góp phần bảo đảm an toàn môi trường và phát triển bền
vững” thuộc Chương trình điều tra nghiên cứu biển giai đoạn 1996 - 2000 do Phân
Thế giới - WCED (nay là Ủy ban Brundtland). Báo cáo này ghi rõ: Phát triển bền
vững là "sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh
hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai..." 1.
Nói cách khác, phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả,
xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ. Để đạt được điều này, tất cả
các thành phần kinh tế, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội... phải bắt tay nhau thực
hiện nhằm mục đích dung hòa 3 lĩnh vực chính: kinh tế - xã hội - môi trường [12].
Báo cáo này cũng đã nhấn mạnh 8 nội dung của PTBV:
1. Quan niệm lại khái niệm tăng trưởng;
2. Thay đổi chất lượng của sự tăng trưởng;
3. Đáp ứng các nhu cầu cốt yếu về việc làm, lương thực, năng lượng, nước
sạch và vệ sinh;
4. Đảm bảo sự bền vững về dân số;
5. Bảo tồn và phát triển tài nguyên;
6. Định hướng công nghệ và quản lý rủi ro;
7. Tích hợp công tác bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế trong quá trình ra
quyết định;
8.Định hướng quan hệ quốc tế trong phát triển kinh tế.
Nguyễn Thị Thu Hà – K17 – Cao học Môi Trường
9
Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội dải ven biển Đồng bằng sông Hồng
làm cơ sở cho phát triển nông nghiệp bền vững
Định nghĩa của WCED về PTBV được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay. Một
định nghĩa khác cũng được nhiều người nhắc tới là trong cuốn sách “Hãy cứu lấy
Trái Đất” (IUCN, UNDP, WWF, 1991) trong đó định nghĩa: PTBV là “sự nâng cao
chất lượng đời sống con người trong lúc đang tồn tại, trong khuôn khổ đảm bảo của
Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội dải ven biển Đồng bằng sông Hồng
làm cơ sở cho phát triển nông nghiệp bền vững
- Tăng trưởng kinh tế phải dựa vào năng lực nội sinh là chủ yếu và phải làm
tăng năng lực nội sinh.
Mô hình PTBV của Jacobs và Sadler, 1990
Hình 1. Mô hình PTBV của WCED, 1987
Hình 2. Mô hình PTBV của Jacob, 1990
Mục tiêu kinh tế
PTBV
Mục tiêu
xã hội
Mục tiêu
sinh thái
Hình 3. Mô hình PTBV của World Bank
PTBV về xã hội: Là quá trình phát triển đạt được kết quả ngày càng cao
trong việc thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, đảm bảo chế độ dinh dưỡng và
Nguyễn Thị Thu Hà – K17 – Cao học Môi Trường
11
Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội dải ven biển Đồng bằng sông Hồng
làm cơ sở cho phát triển nông nghiệp bền vững
Nguyễn Thị Thu Hà – K17 – Cao học Môi Trường
12
Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội dải ven biển Đồng bằng sông Hồng
làm cơ sở cho phát triển nông nghiệp bền vững
mãn nhu cầu của con người đồng thời cải tiến chất lượng môi trường và gìn giữ
được tài nguyên thiên nhiên.
Năm 1991, nhóm hoạt động về vấn đề lương thực thuộc Uỷ ban Hợp tác của
các tổ chức phát triển Phi chính phủ (NGDOs) ở Cộng đồng châu Âu thống nhất
đưa ra định nghĩa: Nông nghiệp bền vững được thiết lập nhằm đáp ứng cả nhu cầu
của người dân cũng như các mặt hạn chế về tự nhiên và điều kiện sinh thái ở một
vùng xác định. Mục đích là đưa năng suất cây trồng lên mức cao trên cơ sở bền
vững và lâu dài mà không hủy hoại môi trường sống.
Theo tổ chức về môi trường sinh thái thế giới (WOED) đã định nghĩa nông
nghiệp bền vững như sau: nông nghiệp bền vững là nền nông nghiệp thỏa mãn được
các nhu cầu của thế hệ hiện nay mà không làm giảm khả năng ấy đối với các thế hệ
mai sau [16].
b. Việt Nam
Các nghiên cứu về phát triển bền vững bắt đầu được nghiên cứu từ khoảng
cuối thập niên 80 đầu thập nhiên 90 của thế kỷ XX. Thể hiện cụ thể nhất là quyết
định số 153/2004/QĐ-TTg ngày 17-8-2004 của Thủ tướng chính phủ ban hành
Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình nghị sự 21
của Việt nam). Trong 8 nội dung chính của chương trình hành động thì nội dung thứ
4 đã đề cập đến các nội dung về phát triển nông nghiệp bền vững ở Việt Nam.
Đối với Việt Nam, trong chiến lược phát triển bền vững quốc gia, thời gian
tới ngành Nông nghiệp và PTNT sẽ tập trung vào các lĩnh vực then chốt sau đây:
Về kinh tế:
Tăng cường biện pháp chống suy thoái đất; sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả
bền vững tài nguyên đất trên cơ sở áp dụng các mô hình canh tác hợp lý trên từng
loại địa hình, loại đất và từng vùng sinh thái.
Rà soát quy hoạch lại 3 loại rừng: phòng hộ, đặc dụng và sản xuất cho từng
địa phương và cho cả nước theo hướng phát triển bền vững. Tăng cường biện pháp
bảo vệ và phát triển rừng để đảm bảo tăng độ che phủ lên 43% vào năm 2010. Nâng
cao nhận thức về giá trị đầy đủ của rừng bao gồm lợi ích kinh tế, lợi ích sinh thái và
các giá trị phi sử dụng khác.
Bảo vệ và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên nước, có biện pháp khai thác
và quản lý nguồn nước hợp lý để hạn chế tình trạng thất thoát lãng phí cũng như
nguy cơ ô nhiễm và cạn kiệt nguồn nước.
Tăng cường công tác nghiên cứu thu thập và bảo tồn nguồn gen giống cây
nông nghiệp, cây lâm nghiệp và các vật nuôi ở các địa phương nhằm tăng tính đa
dạng sinh học. Tập trung thay đổi chất lượng giống cây trồng, vật nuôi, áp dụng quy
Nguyễn Thị Thu Hà – K17 – Cao học Môi Trường
14
Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội dải ven biển Đồng bằng sông Hồng
làm cơ sở cho phát triển nông nghiệp bền vững
trình sản xuất tiên tiến, để hạn chế dư lượng các hóa chất nông nghiệp, thuốc phòng
trừ sâu bệnh trong sản phẩm nông nghiệp và trong môi trường đất, nước [16].
Từ việc kế thừa những thành tựu nghiên cứu trước đó và căn cứ vào điều
kiện thực tiễn của Việt nam, tác giả đưa ra kết luận như sau:
Phát triển nông nghiệp bền vững (bao gồm cả lâm nghiệp và ngư nghiệp) là
quá trình sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, giải quyết tốt các vấn đề
xã hội gắn với bảo vệ môi trường sinh thái trên cơ sở đảm bảo thỏa mãn các nhu
cầu của con người trong hiện tại và tương lai và được xã hội chấp nhận.
- 1975, trạm nghiên cứu Vịnh Bắc Bộ đã khảo sát, nghiên cứu địa mạo và trầm tích
đáy ven bờ Hải Phòng đến Quảng Ninh đặt nền móng cho nghiên cứu địa mạo biển
tiếp theo [26].
1.2.2. Từ năm 1975 đến nay
Trong giai đoạn này có hàng loạt các công trình nghiên cứu về biển và dải
ven biển được thực hiện. Tiêu biểu là các nghiên cứu sau:
Từ 1976 đến 1979, Trạm nghiên cứu Vịnh Bắc Bộ và Viện nghiên cứu Hải
sản tiến hành điều tra thành phần và phân bố trầm tích hiện đại tầng mặt vùng biển
nông ven bờ từ Đồ Sơn đến Nghệ Tĩnh, xác định phạm vi phân tán bồi tích được
đưa ra từ các cửa sông đến phạm vi vùng sườn bờ ngầm nhằm mục đích tim kiếm
khoáng sản ven bờ. Cũng trong thời gian này bản đồ địa chất - địa mạo tỷ lệ 1:
200.000 tờ Hải phòng - Nam định được đoàn địa chất 204 tiến hành đo vẽ và thành
lập (tờ bản đồ địa chất này đã được cục địa chất và khoáng sản VN chỉnh biên).
Từ năm 1980 đến 1985 có các công trình: “Điều tra môi trường vùng cửa
sông” do trường Đại học Tổng hợp Hà Nội chủ trì kết hợp với phân viện Hải Dương
học tại Hải Phòng. Các số liệu điều tra của chương trình được tiến hành khá đồng
bộ theo mặt cắt chuẩn trên các bãi triều và vùng cửa sông. Tuy nhiên số liệu còn ít,
việc quan trắc còn chưa được tuân thủ theo đặc trưng động lực thành tạo bãi triều.
Đề tài 48 B.06.14: “Nghiên cứu đặc điểm tự nhiên và nguồn lợi dải ven biển
Việt Nam, đề xuất biện pháp sử dụng hợp lý và bảo vệ nguồn lợi”. Trong đề tài này
có công trình của Trần Đức Thạch và Nguyễn Đức Cự nghiên cứu về Địa chất - địa
mạo dải ven bờ phía Bắc Việt Nam là tiền đề cho các nghiên cứu tiếp theo nhằm tìm
hiểu bản chất thành tạo của vùng cửa sông Hồng hiện đại [26].
Cũng trong thời gian này, còn có các công trình của Phạm Đình Trọng
(1984) nghiên cứu về khu hệ động vật đáy và đặc trưng sinh thái của chúng trong
vùng ngập mặn Hải Phòng - Quảng Yên. Phạm Đình Trọng và nnk (1985) nghiên
cứu về nguồn lợi tôm giống trên đảo Đình Vũ và khả năng sống sót của chúng sau
khu vớt bắt được. Đó là các công trình nghiên cứu theo chuyên ngành sinh thái học
Nguyễn Thị Thu Hà – K17 – Cao học Môi Trường
Bên cạnh các công trình nghiên cứu theo hướng sinh thái và hướng động lực
như đã nêu trên, giai đoạn này còn có các công trình nghiên cứu về địa chất và địa
mạo rất đáng trân trọng. Đó là sơ đồ cấu trúc kiến tạo, tân kiến tạo và kiến tạo hiện
đại của Nguyễn Cẩn (1992); Môi trường trầm tích và lịch sử tiến hóa trầm tích
Holoxen vùng cửa sông Nam Triệu của Trần Đức Thạnh (1993); Hình thái động lực
dải ven bờ delta sông Hồng của Nguyễn Thế Tiệp (1993) đã phân chia bờ ra các đới
Nguyễn Thị Thu Hà – K17 – Cao học Môi Trường
17
Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội dải ven biển Đồng bằng sông Hồng
làm cơ sở cho phát triển nông nghiệp bền vững
hình thái – động lực theo cấu trúc ngang vùng cửa sông châu thổ. Những tài liệu
này là tiền đề để phân tích các yếu tố tạo nền và các yếu tố xác định độ bền vững
lãnh thổ của các đơn vị CQST hiện đại [26].
Một điểm nữa cần đáng lưu ý ở trong thời kỳ này là các công trình nghiên
cứu tổng hợp phục vụ cho mục đích sử dụng cụ thể: nghiên cứu và đánh giá tổng
hợp các điều kiện tự nhiên vùng ven biển Nghĩa Hưng của Lại Huy Anh và nnk
(1990), trước đó một năm có công trình của Nguyễn Kiêm Sơn và đồng nghiệp
(1989) - luận chứng khoa học kỹ thuật cho việc sử dụng hợp lý vùng bãi bồi huyện
Kim Sơn tỉnh Hà Nam Ninh. Trong các công trình này, các yếu tố thành tạo CQST
như chế độ sóng gió, chế độ dao động mực nước ven bờ, chế độ thủy triều, dòng
triều dòng trôi do gió, dòng chảy lũ, dòng chảy ven bờ, yếu tố nhiệt độ, lượng bốc
hơi, độ ẩm không khí, độ mặn, độ pH, thảm thực vật, động vật, thổ nhưỡng, trầm
tích đáy, .. địa hình, địa mạo… được nghiên cứu có hệ thống và là những luận cứ
khoa học cho việc sử dụng hợp lý bãi bồi. Tuy nhiên, các định hướng sử dụng chưa
mang tính chất hợp lý cao do chưa đặt vùng nghiên cứu trong sự phân hóa chung
của toàn dải ven biển ĐBSH [25].
Năm 2004, đề tài “Cơ sở khoa học cho việc phát triển kinh tế - xã hội dải ven
biển Việt Nam, đề xuất các mô hình phát triển cho một số khu vực trọng điểm” của
Bộ Khoa học Công nghệ đã cho ra đời bộ cơ sở dữ liệu tương đối đầy đủ, hệ thống
và tin cậy về điều kiện tự nhiên, tài nguyên và kinh tế - xã hội dải ven biển Việt
Nam trong đó có bao gồm dải ven biển Đồng bằng sông Hồng, tìm ra các phương
án phát triển kinh tế - xã hội phù hợp, khả thi cho khu vực nghiên cứu [27].
Năm 2004, đề tài Tiến Sĩ của Phạm Quang Sơn, Trung tâm Viễn thám và
Geomatic, Viện Địa chất:“Nghiên cứu sự phát triển vùng ven biển cửa sông Hồng
-sông Thái Bình trên cơ sở ứng dụng thông tin viễn thám và Hệ thông tin địa lý
(GIS) phục vụ khai thác sử dụng hợp lý lãnh thổ” đã làm rõ hơn quá trình phát triển
vùng ven biển khu vực cửa sông Hồng và sông Thái Bình dựa trên sự ứng dụng kỹ
thuật viễn thám và hệ thống thông tin địa lý GIS.
Năm 2006, trong đề tài nghiên cứu: “ Diễn biến các vùng cửa sông ở ven
biển đồng bằng sông Hồng trong những năm đầu vận hành công trình thủy điện Hòa
Bình”, Phạm Quang Sơn đã đề cập đến tình hình phát triển và biến động các vùng
cửa sông lớn thuộc hệ thống sông Hồng - sông Thái Bình trên cơ sở phân tích các
tài liệu quan trắc thuỷ văn, đo đạc địa hình lòng dẫn và phân tích các ảnh vệ tinh
phân giải cao chụp trong những năm qua. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các vùng
cửa sông không có những bước phát triển mang tính đột biến, mặc dù có biến động
dòng chảy và bùn cát sông Hồng từ phía thượng lưu [18].
Nguyễn Thị Thu Hà – K17 – Cao học Môi Trường
19
Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội dải ven biển Đồng bằng sông Hồng
làm cơ sở cho phát triển nông nghiệp bền vững
1.3. Các nghiên cứu về sử dụng đất ở dải ven biển ĐBSH
Theo đề tài “Cơ sở khoa học cho việc phát triển kinh tế - xã hội dải ven biển
20
Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội dải ven biển Đồng bằng sông Hồng
làm cơ sở cho phát triển nông nghiệp bền vững
ha) bị nhiễm mặn. Đó là những thiệt hại đáng kể. Cũng cần phải lưu ý đến nguồn lợi
đất ngập nước (khoảng 350.000 ha) đang bị phá hủy, góp phần làm cho nguồn lợi
sinh vật và chất lượng môi trường ngày càng suy giảm.
Bên cạnh quá trình làm tổn thất đến nguồn lợi đất phải lưu ý đến các quá trình
có tính tiềm năng làm gia tăng diện tích như quá trình bồi tụ, quá trình tạo thành các bãi
bồi ở cửa sông. Các quá trình này xảy ra mạnh mẽ ở vùng cửa sông Tiền (hệ thống
sông Mê Kông). Ở vùng bán đảo Cà Mau, hàng năm có thể lấn ra biển 50 - 100m.
Ngoài ra, cũng cần lưu ý đến hiện tượng biến đổi khí hậu toàn cầu, làm mực
nước biển dâng lên có thể làm mất phần lớn diện tích đất ven bờ biển, đặc biệt là
vùng đồng bằng sông Mekong, các vùng đất ngập nước.
Trong báo cáo tổng hợp:“Kết quả điều tra đánh giá tình hình sử dụng vùng đất
cát, bãi bồi ven biển ĐBSH - Quảng Ninh làm căn cứ quy hoạch phát triển sinh thái
bền vững” (Viện QH&TKNN, 2002) cho thấy:
Diện tích đất cát, bãi bồi ven biển vùng nghiên cứu chiếm 37,1% DTTN các
huyện ven biển (gọi tắt là toàn vùng). Diện tích đất nông nghiệp đạt 62,4% so với
đất nông nghiệp toàn vùng. Vùng đất cát, bãi bồi có lợi thế trong việc phát triển
nuôi trồng thủy sản.Trong đất nông nghiệp, diện tích trồng cây hàng năm thấp hơn
so với toàn vùng, nhưng diện tích nuôi trồng thủy sản lại chiếm diện tích lớn
(96,7% so với toàn vùng). Vùng nghiên cứu có tiềm năng phát triển nuôi trồng thủy
sản trong những năm tới, quỹ đất bằng chưa sử dụng (bãi bồi ven biển, ven sông) và
mặt nước chưa sử dụng còn rất lớn chiếm 73,9 % so với toàn vùng [29].
Trong quá trình sản xuất, các huyện ven biển vùng ĐBSH - Quảng Ninh đã
hình thành cơ cấu thời vụ cho các tiểu vùng sản xuất nông nghiệp, phù hợp với điều
kiện đất đai khí hâu, tạo ra một lượng sản phẩm lớn, hiệu quả kinh tế cao. Trong
hóa sản phẩm nông nghiệp, tăng diện tích gieo trồng, tăng hệ số sử dụng đất.
Mức đầu tư cho các loại sử dụng đất đều ở mức độ cao đến rất cao (2 loại
đậu tương xuân - khoai lang, lạc xuân - khoai lang là ở mức trung bình). Do đó hầu
hết các loại hình đều cho tổng giá trị thu nhập cao. Tuy nhiên, tỷ suất lợi nhuận và
giá trị ngày công các loại sử dụng đất sau đạt giá trị cao đến rất cao:
- Nuôi trồng thuỷ sản trên đất mặn sú, vẹt, đước.
- Cói và nuôi trồng thuỷ sản trên đất mặn nhiều, đất mặn ít và trung bình.
- Nuôi trồng thuỷ sản trên đất phèn trung bình, đất phèn ít trung bình mặn
nhiều và đất phèn trung bình mặn trung bình.
Ngược lại, các loại sử dụng đất chuyên lúa tỷ suất lợi nhuận và giá trị ngày
công thấp, loại sử dụng đất lúa - màu giá trị ngày công cao hơn đất chuyên lúa.
Trong số 239.953 ha được hình thành từ 3 nhóm đất với 10 loại đất gồm: cồn cát,
đất cát biển, đất cát đọng mùn, đất mặn ngập triều, đất mặn sú vẹt, đước, đất mặn
nhiều, đất mặn ít và trung bình, đất phèn trung bình, đất phèn ít và trung bình mặn
nhiều, đất phèn trung bình mặn trung bình. Do có ý nghĩa đối với nuôi trồng thủy
sản và việc mở rộng diện tích nên đất mặn ngập triều được đưa vào hệ thống phân
loại và nghiên cứu cụ thể. Diện tích các loại đất vùng nghiên cứu có sự biến động là
do quá trình hoạt động sản xuất và định hướng đầu tư phát triển của nhà nước.
Hiện trạng sử dụng đất vùng nghiên cứu đa dạng với nhiều loại cây trồng
theo hướng khai thác triệt để và có hiệu quả. Đất bằng chưa sử dụng và mặt nước
chưa sử dụng có diện tích 43.842 ha chiếm 18,3% diện tích điều tra.
Nguyễn Thị Thu Hà – K17 – Cao học Môi Trường
22
Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội dải ven biển Đồng bằng sông Hồng
làm cơ sở cho phát triển nông nghiệp bền vững
Tiềm năng phát triển nuôi trồng thủy sản là thế mạnh của vùng. Tổng diện
Nguyễn Thị Thu Hà – K17 – Cao học Môi Trường
23
Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội dải ven biển Đồng bằng sông Hồng
làm cơ sở cho phát triển nông nghiệp bền vững
dựng các định hướng phát triển nông nghiệp toàn diện ở tất cả các khu vực của các
tỉnh trong vùng ĐBSH. Tuy nhiên, chưa có những nghiên cứu cụ thể hơn về các
điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội nói chung cũng như điều kiện đất đai nói riêng
theo hướng tìm ra các đặc điểm đặc trưng nhất, các yếu tố hạn chế nhất có ảnh
hưởng đến sản xuất nông nghiệp của dải ven biển. Đây là tiểu vùng có diện tích đất
hoang hóa, nguy cơ tai biến lũ lụt và sạt lở bờ biển lớn ở khu vực ven biển phía
Bắc. Chính vì vậy, trong những năm vừa qua cũng đã có rất nhiều nghiên cứu về
tiềm năng của dải ven biển nhưng những nghiên cứu này còn đơn lẻ về một vấn đề
cụ thể nào đó trên phạm vi của từng tỉnh, chưa mang tính tổng thể trên phạm vi cả
vùng và chưa nghiên cứu trong mối quan hệ tổng hợp với các yếu tố tự nhiên, kinh
tế - xã hội và môi trường cho nên quá trình khai thác sử dụng còn nhiều hạn chế.
Đây là những vấn đề đặt ra và là hướng nghiên cứu chính của đề tài luận văn
góp phần sử dụng hợp lý đất cho nông nghiệp của dải ven biển vùng ĐBSH.
Nguyễn Thị Thu Hà – K17 – Cao học Môi Trường
24
Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội dải ven biển Đồng bằng sông Hồng
làm cơ sở cho phát triển nông nghiệp bền vững
CHƯƠNG 2 - ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng