1 MUC LỤC
Mở đầu 4
Chƣơng 1 10
Cơ sở lý luận nghiên cứu Cảnh quan nhân sinh lónh thổ Kon Tum phục
vụ sử dụng hợp lý tài nguyờn đất rừng 10
1.1. Tổng quan về cảnh quan nhân sinh 10
1.1.1. Tình hình nghiên cứu cảnh quan nhân sinh 10
1.1.2. Những quan niệm về cảnh quan nhân sinh 16
1.1.3. Phân loại cảnh quan nhân sinh 20
1.2. Lịch sử nghiên cứu tổng hợp tự nhiên, kinh tế - xã hội phục vụ 28
khai thác lãnh thổ Kon Tum 28
1.3. quan điểm và phương pháp nghiên cứu cảnh quan nhân sinh lãnh thổ
kon tum 30
1.3.1. Quan điểm nghiên cứu 30
1.3.2. Các bước và phương pháp nghiên cứu, đánh giá cảnh quan nhân
sinh lãnh thổ Kon Tum 36
Cảnh quan nhân sinh 37
Chƣơng 2. Cỏc hợp phỏn và yếu tố thành tạo cảnh quan nhõn 41
sinh lãnh thổ Kon Tum 41
2.1. Các hợp phần và yếu tố tự nhiên tạo nguồn vật chất và không gian cho
hoạt động nhân sinh 41
2.1.1. Vị trí địa lý 41
2.1.2. Đặc điểm địa chất 42
2.1.3. Đặc điểm địa hình 43
2.1.4. Đặc điểm khí hậu 45
3.2.6. Lớp cảnh quan thuỷ vực nhân sinh 108
3.3. phân vùng Cảnh quan nhân sinh lãnh thổ Kon Tum 110
3.3.1. Nguyên tắc phân vùng cảnh quan nhân sinh 110
3.3.2. Chỉ tiêu phân vùng cảnh quan nhân sinh 113
3.3.3. Đặc điểm các vùng cảnh quan nhân sinh lãnh thổ Kon Tum 114
3.4.1. Biến đổi tự nhiên – nhân tác trong cấu trúc nội tại cảnh quan nhân
sinh 120
3.4.2. Diễn thế nhân tác của cảnh quan nhân sinh 121
CQ rừng tự nhiên 124
Chƣơng 4. Đỏnh giỏ cảnh quan nhõn sinh và định hƣớng sử
dụng hợp lý tài nguyên đất, rừng lãnh thổ kon tum 127
4.1. nguyên tắc và phương pháp phân tích, đánh giá tính phù hợp của 127
cảnh quan nhân sinh lãnh thổ Kon Tum 127
Nguyên tắc 127
4.1.2. Phương pháp 129
4.2. Phân tích, đánh giá tính phù hợp của cảnh quan nhân sinh lãnh thổ Kon
Tum 134
4.2.1. Phân tích, đánh giá tính phù hợp của các cảnh quan lúa nước 135
4.2.2. Phân tích, đánh giá tính phù hợp của các cảnh quan hoa màu - cây
công nghiệp hàng năm 136
Diện tích 136
4.2.3. Phân tích, đánh giá tính phù hợp của các cảnh quan cây công
nghiệp lâu năm 137
4.2.4. Phân tích, đánh giá tính phù hợp của các cảnh quan nương rẫy 140
4.2.5. Phân tích, đánh giá tính phù hợp của các cảnh quan trảng cỏ + cây
bụi cho phát triển đồng cỏ chăn thả gia súc 141
Bảng 4.8. Kết quả đánh giá mức độ thuận lợi CQ trảng cỏ + cây bụi
142
một bước phát triển mới, đó là sự ra đời của cảnh quan học nhân sinh (CQHNS).
Ở các nước phát triển như Anh, Mỹ, Canada, Liên bang Nga và các nước
cộng hoà thuộc Liên Xô trước đây… CQHNS đã được quan tâm nghiên cứu và đạt
được những thành tựu nhất định cả về lý luận và thực tiễn [111-128, 130,131, 133-
135, 137]. Những kết quả đó đã góp phần làm sáng tỏ cơ chế hình thành, sự phát
triển của các đơn vị tự nhiên khi xuất hiện của các hoạt động con người, đồng thời
định hướng cách thức khai thác, sử dụng lãnh thổ, nhất là trong ngành nông, lâm
nghiệp, là những lĩnh vực có quan hệ chặt chẽ đến sử dụng đất lớn nhất của nhiều
Quốc gia.
Trong bối cảnh quốc tế như vậy nhưng ở nước ta, CQHNS còn ít được quan
tâm. Một số công trình đã công bố mới dừng lại ở việc bàn luận các quan điểm, đối
tượng nghiên cứu hoặc một vài hệ thống phân loại lý thuyết, do đó không tránh khỏi
sự nhìn nhận chưa thống nhất về đối tượng nghiên cứu, về khả năng ứng dụng cũng
như chưa thấy hết được sự cần thiết phải nghiên cứu cảnh quan nhân sinh (CQNS).
Trong khi những vấn đề lý luận đang đặt ra như vậy thì thực tiễn ở nước ta
cho thấy thiên nhiên đang ngày càng chịu sức ép mạnh mẽ từ phía con người: đó là
sự tàn phá của chiến tranh cùng với nạn khai thác tài nguyên thiên nhiên thiếu cơ sở
khoa học, lạm dụng tài nguyên tái tạo, lãng phí tài nguyên không tái tạo, trình độ
công nghệ lạc hậu, dân trí thấp và không đồng đều, cơ sở vật chất xã hội nghèo
nàn đã tác động tiêu cực đến cảnh quan (CQ) và làm cho tiềm năng dự trữ tài
nguyên của CQ bị giảm sút nghiêm trọng. Chính do những tác động đó mà các đơn
vị CQ nhiệt đới gió mùa của Việt Nam ở nhiều nơi không còn giữ được cấu trúc, 2
chức năng của mình, hệ quả là tạo ra những đơn vị CQNS với đặc điểm cấu trúc,
chức năng mới mà trong đó nguồn tài nguyên dự trữ thường nghèo nàn và kém bền
vững [37, 79, 83].
Có thể nhận thấy rằng ở mỗi vùng khác nhau của nước ta đã chứa đựng
Để đạt được mục tiêu trên, luận án thực hiện một số nhiệm vụ sau:
- Xác lập cơ sở lý luận khoa học của sự thành tạo và biến đổi cảnh quan nhân sinh
lãnh thổ Kon Tum.
- Nghiên cứu các yếu tố và quy luật thành tạo, phân hoá cảnh quan nhân sinh lãnh
thổ Kon Tum.
- Nghiên cứu, phân tích đặc điểm và biến đổi cảnh quan nhân sinh lãnh thổ Kon
Tum.
- Đánh giá cảnh quan nhân sinh lãnh thổ Kon Tum và đề xuất định hướng sử dụng
hợp lý và bảo vệ tài nguyên đất, rừng.
3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
* Về không gian
Với mục đích nghiên cứu ứng dụng, lãnh thổ nghiên cứu được lựa chọn là
tỉnh Kon Tum, với diện tích 961.450,00 ha,
Toạ độ địa lý: 13
0
55'06'' - 15
0
26'44'' vĩ bắc
107
0
20'16'' - 108
0
32'30'' kinh đông
* Về nội dung
Nghiên cứu CQNS là một hướng ứng dụng mới trong khoa học địa lý hiện
đại, vì vậy luận án chỉ tập trung xem xét một số nội dung liên quan đến cơ sở lý luận
nghiên cứu CQNS, các yếu tố cơ bản thành tạo CQNS, phân tích đặc điểm CQNS và
đánh giá chúng phục vụ định hướng khai thác, sử dụng hợp lý và bảo vệ tài nguyên
đất, rừng lãnh thổ Kon Tum.
* Ý nghĩa khoa học
Luận án đã góp phần làm rõ khái niệm, quan điểm tiếp cận và phương pháp
nghiên cứu cảnh quan nhân sinh, đồng thời chứng minh sự tồn tại, biến đổi khách
quan cũng như ý nghĩa của việc nghiên cứu chúng phục vụ sử dụng hợp lý tài
nguyên thiên nhiên nói chung, tài nguyên đất, rừng nói riêng.
* Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả luận án góp phần định hướng khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên
đất, rừng lãnh thổ Kon Tum trong hoàn cảnh tự nhiên – nhân sinh cụ thể của khu
vực.
7. CƠ SỞ TÀI LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
a. Cơ sở tài liệu
* Tài liệu của tác giả 5
+ Kết quả tham gia đề tài cấp Nhà nước: “Nghiên cứu ảnh hưởng của chất
độc hoá học chứa dioxin lên các yếu tố môi trường sinh thái miền Nam Việt Nam và
các biện pháp giảm thiểu” năm 2001 - 2003.
+ Tham gia đề tài cấp Uỷ ban phối hợp Việt Nam – Liên Bang Nga: “Nghiên
cứu, đánh giá hậu quả lâu dài của chiến tranh hoá học do quân đội Mỹ gây ra ở
miền Nam Việt Nam (trong đó có Kon Tum) lên các hệ sinh thái tự nhiên” năm
1998-2003.
+ Chủ trì đề tài cấp cơ sở: “Nghiên cứu ảnh hưởng của chiến tranh hoá học
và hoạt động nhân sinh lên cảnh quan và các hệ sinh thái lãnh thổ Kon Tum” năm
1999- 2001.
+ Các số liệu điều tra thực địa của tác giả trong quá trình thực hiện luận án từ
năm 1999 đến 2003.
* Tài liệu tham khảo khác
- Hệ thống tài liệu của các tác giả nước ngoài (của Tây Âu – Mỹ, Liên Xô cũ và LB
tục, tập quán canh tác, trạng thái quá khứ của CQNS…, đồng thời phỏng vấn các
nhà quản lý địa phương, các nhà khoa học để biết thêm thông tin về chính sách, dự
án triển khai cũng như một số thông tin khác.
- Phương pháp phân tích – tổng hợp số liệu: chiết lọc và tổng hợp số liệu theo một
hệ thống nhất định, đảm bảo tính đồng bộ và độ chính xác, đồng thời lựa chọn chỉ
tiêu thực sự có ý nghĩa phục vụ đánh giá tính phù hợp của CQNS.
- Phương pháp đánh giá tính phù hợp của CQ: lựa chọn chỉ tiêu và đánh giá các mức
độ phù hợp của CQNS lãnh thổ Kon Tum làm cơ sở đề xuất định hướng sử dụng
hợp lý tài nguyên đất, rừng.
8. CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN
Luận án được trình bày trên 150 trang đánh máy (không kể phần giới thiệu và
phụ lục). Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận án được bố cục
trong 4 chương với 30 biểu bảng, 2 biểu đồ, 17 hình vẽ, bản đồ và 1 lát cắt tổng hợp.
Chƣơng 1. Cơ sở lý luận nghiên cứu cảnh quan nhân sinh lãnh thổ Kon Tum
phục vụ sử dụng hợp lý tài nguyên đất, rừng
Chƣơng 2. Các hợp phần và yếu tố thành tạo cảnh quan nhân sinh lãnh thổ
Kon Tum
Chƣơng 3. Cảnh quan nhân sinh lãnh thổ Kon Tum 7
Chƣơng 4. Đánh giá cảnh quan nhân sinh và định hướng sử dụng hợp lý tài
nguyên đất, rừng lãnh thổ Kon Tum CHƢƠNG 1
phía con người [106]. Cũng theo Lovejoy, ở những nơi có quá trình hình thành và
phát triển lâu đời và thường xuyên chịu sự tác động của con người thì ở đó đã hình
thành nên CQNS và khi nghiên cứu nó không nên cứng nhắc tách biệt cảnh quan tự
nhiên và CQNS.
Nhìn chung, dù ở các góc độ tiếp cận khác nhau nhưng các nhà địa lý, cảnh
quan ở Tây Âu và Bắc Mỹ đều đã tiến hành nghiên cứu những đơn vị lãnh thổ tự
nhiên chịu sự tác động từ phía con người. Đây là cơ sở để hình thành nên một hướng
nghiên cứu mới mà trong nhiều tài liệu sau này chúng được xem là bộ phận của địa
lý nhân văn.
1.1.1.2. Nghiên cứu cảnh quan nhân sinh ở Liên bang Nga và Đông Âu
Ngay trong những năm giữa của thể kỷ XX, các nhà địa lý đã bắt đầu quan
tâm nhiều tới mối quan hệ và các tác động qua lại giữa con người và thiên nhiên.
Họ nghiên cứu sự phức tạp và hệ quả của mối tác động đó trong xu hướng phát
triển của địa tổng thể [126, tr. 11].
Phần lớn các công trình nghiên cứu đã công bố về sự tác động của con người
vào thiên nhiên liên quan đến địa lý nhân sinh. Về ranh giới giữa địa lý nhân sinh và
CQ học nhân sinh được đề cập rất sớm trong chuyên khảo của Docutraev năm 1892
và Irmainxki năm 1893 [125]. Tuy vậy, cho đến nay có thể khẳng định, CQHNS ra
đời vào những năm 30 của thế kỷ XX và đồng thời với nó là các quan niệm về đối
tượng nghiên cứu (cảnh quan nhân sinh) cũng được đưa ra xem xét ở các góc độ
khác nhau.
Năm 1930 Gozep sử dụng thuật ngữ CQNS vào việc định rõ đặc tính các
dạng lãnh thổ ở khu địa hình cát. Tiếp theo là Ramenxki (1935,1938) đã chú ý vào
việc hình thành CQ dưới các tác động của con người. Theo ông, đối tượng nghiên
cứu của các nhà CQ học không phải chỉ ở mỗi đơn vị CQ tự nhiên mà cả những CQ
biến đổi do con người và cả những CQ văn hóa do con người tạo ra [126, tr. 12-13]. 9
10
nhiều năm, các tác giả trong bộ môn Địa lý tự nhiên nước ngoài ở trường Đại học
Tổng hợp Matxcơva đã lần lượt nghiên cứu CQNS ở những nước khác nhau. Kết
quả của công trình “đồ sộ” này được tổng kết trong tập chuyên khảo của Riabtrikov
với tựa đề: “Cấu trúc và sự chuyển biến địa quyển, sự phát triển tự nhiên và sự thay
đổi do con người của nó” (1972). Trong quyển sách này, lần đầu tiên đã đưa ra cách
mô tả bằng sơ đồ địa lý các CQNS trên phạm vi toàn cầu và chỉ ra mối liên hệ chặt
chẽ của chúng với những dạng cơ bản của việc sử dụng đất. Ở đây có thể thấy rằng,
sự hình thành và phát triển CQNS gắn chặt với hoạt động sử dụng lãnh thổ của con
người. Tuy vậy, do lĩnh vực hoạt động còn hạn chế nên Riabtrikov đi sâu vào các
CQ nông nghiệp.
Từ năm 1968 việc nghiên cứu vấn đề sử dụng CQNS là một trong những
hướng quan trọng trong các công trình khoa học của các nhà nghiên cứu địa chất
trường Đại học tổng hợp Varonhetx. Đối tượng nghiên cứu chung của các công trình
là những CQ kiến tạo, CQ nông nghiệp, CQ thành phố tại các khu trung tâm vùng
đồng bằng Nga. Sau này, những CQ nói trên được nghiên cứu sâu hơn, đặc biệt là
CQ nông nghiệp.
Cùng với các nhà địa chất, các nhà sinh vật cũng bắt đầu chú ý vào mối liên
hệ giữa sự phá huỷ và tái tạo đất bởi ngành công nghiệp (Kalenxnhikov 1974;
Metorina, Orkinhikov 1975). Pokonov (1974) đã chỉ ra những phương pháp mới
nghiên cứu CQ kiến tạo ở những vùng khai thác dầu mỏ.
Tuy vậy, theo Minkov và nhiều tác giả khác đã xác định rõ rằng, ngay từ rất
xa xưa con người đã tích cực sử dụng các khu rừng và làm biến đổi CQ để tạo nên
các CQ thảo nguyên hiện đại như ngày nay, đó chính là những đơn vị CQNS điển
hình.
Những kết quả thu được cho thấy, CQHNS đạt được những thành tựu đáng kể
sau những năm 70 của thế kỷ XX. Điển hình có các công trình của Akhtysev, Berec,
theo quy luật tự nhiên mà phụ thuộc vào hoạt động chủ quan của con người. Hơn
nữa cũng đã thừa nhận: “Thực tế hiện nay không có CQ nào mà không bị tác động
trực tiếp hay gián tiếp của con người. Việc phân biệt các CQ tự nhiên và CQNS
mang tính ước định, do vậy ranh giới của các CQ này khác xa nhau ở các công trình
nghiên cứu khác nhau” [27, tr. 44].
Năm 1999, khi nghiên cứu quy luật hình thành và sự phân hoá các CQ sinh
thái nhân sinh vùng nhiệt đới ẩm gió mùa Việt Nam, Nguyễn Văn Vinh và cộng sự 12
đã xem xét tới CQNS. Tiếp thu những thành tựu của các tác giả nước ngoài, ông đã
nghiên cứu các CQ sinh thái nhân sinh theo các mức độ tác động của con người
[94]. Mặc dù không dùng thuật ngữ CQNS nhưng xét về bản chất thì đối tượng
nghiên cứu ở đây chính là CQNS.
Nguyễn Cao Huần cũng đã đề cập tới CQNS từ những năm cuối của thế kỷ
XX, nhưng mãi tới năm 2002 mới công bố công trình về nghiên cứu CQNS ở Việt
Nam. Trong đó tác giả đã đề cập tới các khái niệm và đặc biệt là nguyên tắc và chỉ
tiêu phân loại. Ông cũng đã đề xuất một hệ thống phân loại CQNS cho toàn lãnh thổ
Việt Nam [36, tr. 59-64]. Mặc dù đây chưa phải là công trình nghiên cứu ứng dụng
cụ thể, song đã đóng góp về quan điểm, phương pháp luận cho nghiên cứu CQNS ở
nước ta.
Bên cạnh những nghiên cứu ít ỏi về CQNS thì nhiều tác giả trên cơ sở tiếp
cận các quan điểm của trường phái cảnh quan Liên Xô và Đông Âu đã đi sâu nghiên
cứu CQ trên quan điểm sinh thái học, tức là sinh thái hoá cảnh quan. Các tác giả
nhìn nhận mối liên hệ các hợp phần trong CQ bằng quan hệ sinh thái và nhấn mạnh
sự cần thiết phải có quan điểm “Tiếp cận sinh thái” trong nghiên cứu CQ [16, 26, 49,
83, 93].
Khi bàn đến vai trò của địa lý học trước công cuộc đổi mới của đất nước,
Phạm Quang Hạnh cũng nhấn mạnh tới những tác động qua lại giữa con người và tự
Tầm văn hoá
Hình 1.1. Quan niệm cảnh quan văn hoá của Sauer [109]
Từ hình 1.1 thấy rằng, cảnh quan tự nhiên qua thời gian chịu sự chi phối của
nhân tố con người (văn hoá) hình thành nên các đơn vị lãnh thổ mang dấu ấn của
con người với các dạng hoạt động nhân sinh phong phú và đa dạng (dân số, nông
nghiệp, công nghiệp…), đó chính là CQ văn hoá hay còn gọi là CQNS. Như vậy,
Sauer và nhiều nhà địa lý khác đã thừa nhận và đánh giá cao vai trò của tầm văn hoá
tới việc hình thành CQ văn hoá. Ứng với một cộng đồng người trong một giai đoạn
lịch sử nhất định sẽ cho ra đời một bộ mặt đặc thù của CQNS trong một vùng lãnh
thổ cụ thể. Điều này khẳng định, sự hình thành và phát triển của CQNS phụ thuộc
chặt chẽ vào những giá trị thực và sự thay đổi của tầm văn hoá theo không gian và
thời gian.
Quan niệm và cách nhìn nhận của Sauer được nhiều nhà địa lý nhân văn tán
thành và ủng hộ, mà điển hình Lovejoy (1973), McComark, O’Leary (2000)… Điều
này thể hiện rõ trong Từ điển địa lý nhân văn xuất bản năm 2001 ở Anh, trong đó
Cảnh
quan
văn
hoá
Cảnh quan tự nhiên 14
một lần nữa người ta khẳng định lại khái niệm của Sauer về CQ văn hoá, đồng thời
nhấn mạnh: “CQ văn hoá được thành tạo từ CQ tự nhiên bởi sự tác động của nhóm
yếu tố văn hoá. Văn hoá là chủ thể tác động, CQ tự nhiên là đối tượng (môi trường)
bị tác động và CQ văn hoá là kết quả” [109, tr.138]. Theo thời gian, bản thân một
con người, mà còn bao gồm các CQ tự nhiên đã bị tác động để dẫn đến một hợp
phần nào đó bị thay đổi.
Trong khi đó, Drozdov (1988) lại xem xét CQNS ở khía cạnh dưới mọi hình
thức tác động chủ quan và khách quan của con người. Theo ông: “CQNS là các địa
tổng thể mà trong đó có sự biến dạng nảy sinh liên quan đến sự xuất hiện của hoạt
động con người” (dẫn theo [36, tr.59]). Đây là một khái niệm khá rộng, hàm chứa cả
sự thay đổi CQ dưới tác động gián tiếp của con người. Có thể nhận thấy rằng, hầu
hết những CQ tự nhiên khi xuất hiện những tác động trực tiếp hay gián tiếp (quản lý,
bảo tồn) đều trở thành CQNS và như vậy cũng giống như Sauer và nhiều nhà địa lý
khác, CQNS của Drozdov chứa đựng 2 nhóm nhân tố cấu thành là tự nhiên và nhân
sinh.
Theo hướng này, trong các công trình nghiên cứu của mình Ixatsenko (1991)
cũng xem CQNS chỉ là sự biến dạng khác nhau của CQ tự nhiên do hoạt động của
con người gây ra (dẫn theo [36, tr.59]). Như vậy, Ixatsenko và Drozdov đều có sự
nhìn nhận tương đồng trong quan niệm về CQNS.
Từ điển Bách khoa toàn thư địa lý Liên Xô (1988) chỉ rõ: “CQNS là CQ địa
lý được tạo nên từ kết quả các hoạt động có mục đích của con người, đồng thời cũng
là những CQ xuất hiện trong quá trình biến đổi CQ tự nhiên ngoài ý thức của con
người” [132, tr. 16]. Qua đó, một lần nữa các nhà địa lý Xô Viết khẳng định những
CQ tự nhiên khi xuất hiện các dạng hoạt động nhân sinh (chủ ý hay vô ý) đều là
những CQNS. Như vậy, về bản chất thì CQNS hình thành do kết quả của các tác
động trực tiếp hay gián tiếp của con người.
Giống như quan niệm của Ixatsenko, Nguyễn Văn Vinh và cộng sự xem xét
CQNS ở góc độ là những CQ bị biến đổi bởi sự hoạt động có ý thức hay vô ý thức
của con người. Tuy không thể hiện trong khái niệm, nhưng các tác giả chú ý đến
mức độ tác động của con người vào các đơn vị tự nhiên để dẫn đến sự hình thành
CQNS. Hơn nữa, tác động phải dẫn đến những thay đổi về lượng trong CQ nhưng
cũng có thể chưa đủ làm cho CQ tự nhiên biến đổi (CQ bị tác động yếu) [94, tr. 29].
Nguyễn Cao Huần trên cơ sở thừa nhận những nét hợp lý trong quan điểm
của nhiều tác giả nước ngoài đã xem “Cảnh quan nhân sinh là CQ tự nhiên mà
thể hiện hình thức thì nội dung của nó biểu đạt tầm văn hoá của một cộng đồng
người trên một lãnh thổ cụ thể ở một giai đoạn lịch sử nhất định mà kết quả là tạo
nên những CQ gồm các hợp phần tự nhiên hoà nhập với những yếu tố do con người
tác động, tạo dựng nên và nó tiếp tục bị biến đổi theo nhu cầu và tầm nhận thức của c¶nh quan nh©n sinh
c¶nh quan nh©n sinh c¸c hîp phÇn tù
nhiªn
CÁC HỢP PHẦN ĐƯỢC
XÂY DỰNG HOẶC BỊ BIẾN
ĐỔI HOẶC ĐƯỢC BẢO
TỒN BỞI CON NGƯỜI
Đầu ra
Đầu vào 17
con người. Điều này lần nữa khẳng định tính đúng đắn trong quan niệm của nhiều
tác giả Bắc Mỹ về sự hình thành CQNS.
Như vậy, CQNS là một thực thể tồn tại trong thế giới của chúng ta và theo tác
giả luận án: “Cảnh quan nhân sinh là một dạng của CQ hiện đại, được hình thành
- Cảnh quan được xây dựng bởi các kế hoạch của con người.
Như vậy, nguyên tắc căn bản của Kotenikov khi phân chia CQNS là dựa vào
mức độ biến đổi CQ do tác động của con người. Ông cũng đặc biệt nhấn mạnh tới
những CQ được xây dựng bởi các hoạt động kỹ thuật cũng như CQ bị tác động
nhưng chưa biểu hiện rõ sự biến đổi (CQ không biến đổi). Kotenikov thừa nhận
song hành với CQ nhân sinh có sự tồn tại của CQ tự nhiên, nó được biểu hiện là
những CQ không biến đổi do không chịu những tác động khác nhau từ phía con
người. Điều này cũng dễ chấp nhận, vì vào thời gian đó, Kotenikov thường nghiên
cứu CQ ở mức độ chi tiết nên thực tế đã có tồn tại những đơn vị CQ này, ví như
những khu rừng tự nhiên không bị tác động và chưa được đưa vào bảo vệ.
Mặc dù về số lượng nhóm loại CQNS có khác nhau, nhưng theo hướng này,
nhiều tác giả đi đến phân chia CQNS căn cứ vào các mức độ tác động khác nhau của
con người lên các đơn vị lãnh thổ tự nhiên, điển hình của trường phái này có
Bogdanov (1951), Kalenxnic (1955), Raman (1958), Ixatsenko (1965)… [125, tr.
33-34]. Riêng Raman đã đề cập tới một loại CQNS điển hình, đó là CQ quần cư.
Năm 1961, Deculin đã đưa ra hệ thống phân loại ngắn gọn về các loại CQ:
- Cảnh quan tự nhiên
- Cảnh quan tự nhiên – nhân sinh
- Cảnh quan phục hồi tự nhiên
- Cảnh quan canh tác
Ở đây Deculin chia theo mức độ tăng dần các yếu tố nhân sinh và giảm dần
yếu tố tự nhiên trong bậc phân loại CQ. Hơn nữa, ông tách riêng loại CQ tự nhiên.
Như vậy so với hệ thống phân loại khác, hệ thống phân loại của ông cơ bản khác về
tên gọi mà thôi. Ví dụ những CQ bị tác động yếu nhưng không biến đổi được ông
gọi là CQ tự nhiên. Riêng loại CQ tự nhiên - nhân sinh được ông chỉ rõ là những CQ
được thành tạo bởi con người nhưng sau đó phát triển hoàn toàn tự nhiên.
Prokaev đưa ra hệ thống phân loại có vẻ phức tạp hơn [125, tr. 36]. Theo đó
CQ được chia thành 2 nhóm là tự nhiên và nhân sinh (hình 1.3):
Cảnh quan
Hình 1.3. Hệ thống phân loại CQ theo Prokaev (dẫn theo [125])
Sơ đồ trên cho thấy sự tồn tại song hành cả CQ tự nhiên và CQNS. Tuy nhiên
cuối cùng thì những CQ tự nhiên cũng bị tác động ở các mức độ khác nhau bởi con
người. Mặc dù hệ thống phân loại này có mặt tích cực là chỉ ra được nguồn gốc của
CQNS, nhưng việc phân chia khá phức tạp với nhiều nhóm loại CQ bị biến đổi khác
nhau sẽ khó cho việc lựa chọn từng đối tượng nghiên cứu ứng dụng cụ thể.
Khi phê phán việc phân loại những CQ chịu sự tác động của con người,
Ixatsenko cho rằng: “Những cách phân chia trước đây không làm nổi bật tính “cấp”,
“bậc” của các tổng thể tự nhiên đã bị thay đổi bởi con người” [38, tr.177]. Ông cũng
nhận thấy rằng có thể phân loại CQ văn hoá hay CQNS tuỳ thuộc vào mức độ tác
động của con người. Điều này cho thấy Ixatsenko thừa nhận sự tồn tại của nhiều hệ
thống phân loại CQNS khác nhau, trong đó có phân loại CQNS theo nội dung và
nguồn gốc hình thành, đồng thời nói lên sự cần thiết phải phân loại theo hệ thống
các cấp bậc CQ.
Đầu những năm 70 của thế kỷ trước, Minkov đã đưa ra một hệ thống phân
loại CQ hiện đại. Theo đó, CQNS là kết quả của quá trình biến đổi nhân sinh CQ tự
nhiên (hình 1.4).
CẢNH QUAN HIỆN
ĐẠI
CQ nguyên thuỷ
CQ phục hồi
CQ biến đổi bởi con
người
CQ tự nhiên đã bị biến đổi
tận gốc về cấu trúc bởi con
CQ được thành tạo và đặc
điểm cấu trúc liên quan chặt
+ CQ rừng
+ CQ thuỷ vực
+ CQ quần cư và công nghiệp
Phân loại CQNS theo mức độ tác động của con người vào tự nhiên: 21
+ CQNS mới hình thành do hoạt động của con người
+ CQNS đã bị biến đổi
Phân loại CQNS theo nguồn gốc hình thành:
+ CQ kỹ thuật
+ CQ bị phá huỷ và xây dựng
+ CQ khai phá
+ CQ bị phá huỷ do lửa
+ CQ đồng cỏ chăn thả
Phân loại CQNS theo mục đích xuất hiện:
+ CQNS xuất hiện trực tiếp do tác động của con người
+ CQNS gián tiếp (nảy sinh theo phản ứng dây chuyền)
Phân loại CQNS theo thời gian và khả năng tự điều chỉnh của chúng:
+ CQ tự điều chỉnh dài hạn (bị tác động và khó tự phục hồi)
+ CQ tự điều chỉnh trung hạn (bị tác động và có khả năng tự phục hồi sau
khoảng thời gian hàng chục năm)
+ CQ tự điều chỉnh ngắn hạn (bị tác động và có khả năng phục hồi nhanh)
Phân loại CQ theo giá trị kinh tế:
+ CQ văn hoá
+ CQ phi văn hoá
Trong 6 hệ thống phân loại trên, Minkov cho rằng hệ thống phân loại CQNS
theo nội dung rất quan trọng và có ý nghĩa vì bản thân của mỗi đơn vị phân loại đã
hàm chứa nội dung của nó, do vậy cần có một cách thức tiếp cận và phương pháp
của chúng.
Sau đó, Andrei cùng cộng sự đã xây dựng bản đồ sử dụng CQ ở tỷ lệ
1/100.000 mà trong đó có đề cập tới các hoạt động khai thác lãnh thổ trên các dạng
địa hình đặc trưng. Ví dụ “Rừng thông trên địa hình đồi” hoặc “Canh tác nông
nghiệp trên đồng bằng bồi tụ” [98, tr. 21]. Mặc dù chưa thể hiện chi tiết, song
Andrei đã mô tả được một dạng của CQ gồm 2 khối: tự nhiên và nhân sinh.
Ngay từ những năm 70 của thế kỷ trước, khi nghiên cứu CQ địa lý miền Bắc
Việt Nam, Vũ Tự Lập đã có quan điểm: “…có thể xây dựng các hệ thống phân loại
ứng dụng, nhằm phục vụ cho một mục đích thực tiễn nhất định” [48, tr.23]. Trong
khi đó, nghiên cứu CQNS hoàn toàn mang tính ứng dụng thực tiễn, do đó việc có
nhiều hệ thống phân loại cũng là điều dễ chấp nhận.
Khi nghiên cứu thành lập bản đồ CQ sinh thái nhân sinh lãnh thổ Việt Nam ở
tỷ lệ1/1.000.000, Nguyễn Văn Vinh và cộng sự đã vận dụng theo những hệ thống
phân loại của nhiều tác giả Liên Xô dựa vào mức độ tác động của con người. Theo
đó, chia ra các loại CQ sau: