Hà Nội, 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Phan Thị Thanh Hải
NGHIÊN CỨU ĐỊA MẠO THỔ NHƯỠNG
PHỤC VỤ SỬ DỤNG HỢP LÝ TÀI NGUYÊN VÀ BẢO VỆ
MÔI TRƯỜNG ĐẤT KHU VỰC NÚI BA VÌ VÀ LÂN CẬN
Chuyên ngành: Sử dụng và Bảo vệ Tài nguyên Môi trường
Mã số: 60.85.15
địa mạo – thổ nhưỡng phục vụ định hướng bảo vệ đất, chống xói mòn tại khu vực
Ba Vì” – Mã số HTĐT.11.02. Các cô chú, anh chị đồng nghiệp trong Trung tâm
Hỗ trợ đào tạo và Phát triển đô thị đại học đã giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn
thành luận văn.
Xin gửi lời cảm ơn đến ban chủ nhiệm đề tài nhóm A cấp ĐHQGHN
“Nghiên cứu đề xuất các giải pháp đa lợi ích sử dụng bền vững các hồ nước, sông
ngòi thuộc khu vực ngoại thành Hà Nội (phía Nam và phía Bắc sông Hồng)” – Mã
số QGTĐ.12.05 do PGS.TS Đặng Văn Bào làm chủ nhiệm đã hỗ trợ về tài liệu và
giúp tôi có thêm những kinh nghiệm quý báu trong nghiên cứu.
Luận văn tốt nghiệp này được hoàn thành cũng nhờ sự giúp đỡ của UBND
Huyện Ba Vì, Phòng tài nguyên và môi trường huyện Ba Vì và bà con nông dân
trong các xã vùng đệm Vườn Quốc gia Ba Vì.
Cuối cùng tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới bố mẹ, anh chị em và đại
gia đình đã hết lòng chăm sóc sức khỏe, động viên, cổ vũ về vật chất cũng như tinh
thần cho tôi để hoàn thành luận văn này.
Xin cảm ơn tất cả những tấm lòng đầy nhiệt tâm đã góp thêm nguồn lực để
luận văn được hoàn thành có kết quả.
Hà Nội, tháng 12 năm 2012
Tác giả luận văn
Phan Thị Thanh Hải
CÁC DANH MỤC
Danh mục hình
Hình 1: Sơ đồ vị trí nghiên cứu 4
Hình 3.2: Bản đồ địa mạo – thổ nhưỡng khu vực núi Ba Vì và lân cận 94
Hình 3.3: Bản đồ thổ nhưỡng khu vực núi Ba Vì và lân cận 95
Hình 3.4: Sơ đồ phân bố lượng nước khi mưa 97
Hình 3.5: Bản đồ xói mòn đất thực tế khu vực núi Ba Vì và lân cận 101
Hình 3.6: Mối quan hệ các hợp phần trong nông lâm kết hợp 111
Hình 3.7: Mô hình SALT 1 114
Hình 3.8: Mô hình SALT 2 115
Hình 3.9: Bản đồ định hướng sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đất
khu vực núi Ba Vì và lân cận 118
Hình 3.10: Bản đồ hiện trạng sử dụng đất khu vực núi Ba Vì và lân cận 119
Hình 3.11: So sánh kết quả định hướng sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường
đất khu vực núi Ba Vì và lân cận với hiện trạng sử dụng đất của khu vực nghiên cứu
121
Danh mục ảnh
Ảnh 2.1: Thảm thực vật ở xã Minh Quang 49
Ảnh 2.2: Vườn cây ăn quả ở 49
Ảnh 2.3: Khu du lịch Khoang Xanh và quang cảnh khu du lịch Hồ Tiên Sa 56
Ảnh 2.4: Thảm rừng trồng ở các đồi thôn Mít xã Khánh Thượng 57
Ảnh 2.5: Xẻ núi xây dựng các khu nghỉ dưỡng gây ra xói mòn rửa trôi đất 58
Ảnh 2.6: Trồng lúa nước ở các vùng trũng thấp, bãi bồi ven sông suối và trồng chè
trên các gò đồi ở xã Yên Bài 59
Ảnh 2.7: Quần cư nông thôn dạng dải sống dọc ven các sông suối 60
Ảnh 3.1: Sườn xâm thực – bóc mòn, dốc 20 – 300 ở sườn Tây núi Ba Vì 74
Ảnh 3.2: Sườn xâm thực – bóc mòn, dốc 20 – 300 ở sườn Đông núi Ba Vì 74
Ảnh 3.3: Sườn bóc mòn trên các khối núi sót, dốc 20 – 300 ở xã Vân Hòa 75
Ảnh 3.4: Sườn rửa lũa – hòa tan – đổ lở trên khối karst sót cao < 100m ở núi Chẹ
75
Ảnh 3.5: Bề mặt tích tụ sông – lũ tích tuổi Pleistocen giữa – muộn 77
Ảnh 3.6: Bề mặt tích tụ sông - sườn tích – lũ tích tuổi Holocen 78
Ảnh 3.7: Sản phẩm coluvi ở khu vực Đền Trung do quá trình trượt lở 81
a
MỤC LỤC
Các danh mục
Mục lục
Mở đầu 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỊA MẠO – THỔ NHƯỠNG 5
1.1 Khái quát chung về địa mạo – thổ nhưỡng 5
1.1.1 Khái niệm chung về địa mạo – thổ nhưỡng: 5
1.1.2 Mối tương quan giữa địa mạo và thổ nhưỡng 10
1.1.3 Cảnh quan địa mạo – thổ nhưỡng 15
1.1.4 Một số mô hình hình thành đất 18
1.1.5 Khái niệm catena (chuỗi đất) 20
1.1.6 Vai trò của đánh giá cảnh quan địa mạo – thổ nhưỡng trong sử dụng hợp
lý tài nguyên đất 28
1.2 Sơ lược lịch sử nghiên cứu địa mạo – thổ nhưỡng 30
1.2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới 30
1.2.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước 31
1.3 Các hướng tiếp cận nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 33
1.3.1 Các hướng tiếp cận 33
1.3.2 Phương pháp nghiên cứu 35
CHƯƠNG 2: CÁC NHÂN TỐ HÌNH THÀNH VÀ QUÁ TRÌNH PHÁT SINH
THỔ NHƯỠNG Ở KHU VỰC NÚI BA VÌ VÀ LÂN CẬN 37
2.1 Vai trò của nhóm các nhân tố tự nhiên đối với quá trình hình thành đất 37
2.1.1 Đặc điểm địa chất 37
2.1.2 Địa hình 42
2.1.3 Khí hậu 44
2.1.4 Thủy văn 47
2.1.5 Lớp phủ thực vật 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO 125 1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giữa con người và tự nhiên có mối quan hệ không thể tách rời, con người tác
động vào thiên nhiên để tạo ra của cải vật chất phát triển kinh tế xã hội. Tuy nhiên
không phải sự tác động nào cũng có lợi, đi đôi với việc phát triển kinh tế xã hội là
làm mất cân bằng sinh thái, suy thoái môi trường nếu con người khai thác tài
nguyên không hợp lý. Do đó, trong quá trình phát triển cần thiết phải có những đánh
giá, phân tích cụ thể để có những quy hoạch và biện pháp sử dụng tài nguyên thiên
nhiên hợp lý nhất và bảo vệ môi trường nhằm hướng tới một xã hội phát triển bền
vững. Để thực hiện nhiệm vụ quan trọng này, việc sử dụng nguồn tài nguyên hữu hạn
vốn có trong tự nhiên một cách hợp lý là vấn đề cấp thiết đối với nhân loại. Một trong
số nguồn tài nguyên giữ vai trò quan trọng đó là hệ thống đất. Đặc biệt trong khai thác
sử dụng lãnh thổ, việc cần thiết phải nghiên cứu sự phát sinh và phát triển của thổ
nhưỡng. Nghĩa là nghiên cứu mối tương quan giữa các nhân tố thành tạo thổ nhưỡng,
trong đó địa hình và các quá trình địa mạo đóng vai trò quan trọng.
Cảnh quan địa mạo – thổ nhưỡng là một hệ thống đất được kết cấu bởi các
hợp phần đất lặp lại theo những trật tự xác định, liên quan với đặc điểm địa hình và
có quan hệ tương quan giữa các hợp phần tạo thành một tổng thể thống nhất. Thổ
nhưỡng và địa hình là hai hợp phần quan trọng của cảnh quan và chúng có mối quan
hệ chặt chẽ với nhau, ảnh hưởng đến nhau trong sự phân bố vật chất và năng lượng
dẫn đến sự phân hóa lãnh thổ và sự phân bố các loại đất trên bề mặt Trái đất. Vì vậy
khi sử dụng tài nguyên hay lãnh thổ cần thiết phải nghiên cứu tổng hợp cả hai hợp
phần trên trong mối quan hệ thống nhất với nhau.
Ba Vì là huyện miền núi có sự đa dạng về các cảnh quan địa hình, có sự phân
hóa địa hình từ vùng đồng bằng chuyển tiếp lên địa hình gò đồi và núi thấp, là nơi có
núi Ba Vì và lân cận” để định hướng nghiên cứu trong luận văn này.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Phân tích các nhân tố hình thành đất, đặc điểm địa mạo và các quá trình địa
mạo khu vực Ba Vì và các vùng lân cận.
- Nghiên cứu mối quan hệ địa mạo – thổ nhưỡng, đặc điểm địa mạo – thổ
nhưỡng huyện Ba Vì và các vùng lân cận. Từ đó định hướng sử dụng hợp lý tài
nguyên và bảo vệ môi trường đất khu vực nghiên cứu.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
3
Để đạt được các mục tiêu trên, trong quá trình thực hiện đề tài cần giải quyết
các nhiệm vụ sau:
- Thu thập tài liệu có liên quan đến điều kiện địa lý tự nhiên và kinh tế xã
hội; các tài liệu có liên quan đến địa mạo – thổ nhưỡng trên thế giới, trong nước và
khu vực nghiên cứu.
- Tổng quan cơ sở lí luận và xây dựng luận điểm, phương pháp nghiên cứu.
- Nghiên cứu các điều kiện ảnh hưởng đến sự hình thành và phân hóa thổ
nhưỡng ở địa bàn nghiên cứu.
- Phân tích các đặc điểm, phân loại cảnh quan địa mạo – thổ nhưỡng và thể
hiện kết quả trên bản đồ địa mạo – thổ nhưỡng khu vực núi Ba Vì tỷ lệ 1:25.000.
- Đề xuất các giải pháp, định hướng sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ
môi trường đất khu vực nghiên cứu.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
+ Đối tượng nghiên cứu là các nhân tố hình thành và quá trình phát sinh thổ
nhưỡng, đặc điểm địa mạo và các quá trình địa mạo, đơn vị cảnh quan địa mạo –
thổ nhưỡng khu vực núi Ba Vì và lân cận.
* Phạm vi không gian lãnh thổ: Với mục đích nghiên cứu địa mạo – thổ
nhưỡng để sử dụng hợp lý tài nguyên đất, xây dựng một số mô hình phát triển kinh tế
Địa mạo là một khoa học nhằm mục đích để nghiên cứu địa hình bề mặt Trái
đất và làm sáng tỏ nguyên nhân thành tạo và biến đổi của chúng.
Phạm vi nghiên cứu của địa mạo học là toàn bộ lớp vỏ địa lý; là bề mặt tiếp
xúc giữa thạch quyển với khí quyển, thủy quyển với sinh quyển; là nơi diễn ra sự
tương tác lẫn nhau giữa các thành phần địa lý tự nhiên, trong đó địa hình là thành
phần chính có tác động chi phối sự tồn tại và phát triển của nhiều thành phần khác
trong các thể tổng hợp tự nhiên. Địa hình là sự phản ánh rất tinh tế của các cấu trúc
bên trong, thông qua địa hình chúng ta thấy được phản ánh một cách đặc biệt rõ
ràng trong sự tiến triển của các quá trình hình thành thổ nhưỡng nghĩa là địa hình có
mối quan hệ mật thiết và tác động tương hỗ với các yếu tố địa lý tự nhiên để phát
triển. Vì vậy những hiểu biết về địa hình sẽ giúp chúng ta giải thích về sự khác nhau
của các quá trình tự nhiên và xu hướng phát triển của chúng trong khu vực.
Dựa vào việc phân tích hình thái, nguồn gốc và lịch sử phát triển của địa hình
trong quá khứ cũng như động lực hiện đại sẽ đưa ra các kết luận về độ ổn định của
nó để có thể lựa chọn vị trí thích hợp các công trình. Địa hình có vai trò quan trọng
trong quá trình hình thành thổ nhưỡng. Vì vậy, nghiên cứu địa hình giúp cho các
nhà thổ nhưỡng có thể phân loại đất theo nguồn gốc phát sinh và quy luật phân bố
vật chất, năng lượng bức xạ mặt trời để lựa chọn các loại cây trồng thích hợp với
điều kiện sinh thái đáp ứng nhu cầu sản xuất lương thực thực phẩm…
Thổ nhưỡng là một nguồn tài nguyên thiên nhiên vì nó là hợp phần quan
trọng trong nông nghiệp, là nhân tố không thể bỏ qua trong nghiên cứu sử dụng quy
hoạch không gian lãnh thổ. Thổ nhưỡng là lớp vỏ của cảnh quan, còn địa hình là
nền móng của cảnh quan. Giữa địa hình và thổ nhưỡng có mối quan hệ chặt chẽ với
nhau liên quan đến sự tiến hóa của địa mạo ở vị trí mà nó được hình thành. Đất là
kết quả của sự tác động tương hỗ giữa các hợp phần địa chất, địa hình, khí hậu, thủy
văn, sinh vật và cả các hoạt động của con người trong một khoảng thời gian nhất
định. Vì vậy giữa thổ nhưỡng và địa hình có mối quan hệ nguồn gốc, địa hình là
6
7
chuyển của đất và nước. Các quá trình địa mạo, xói mòn và tích tụ đã tạo ra các
dạng địa hình đặc biệt và có ảnh hưởng lớn đến lớp đất trên bề mặt. Từ trước đến
nay, khoa học đất được tiếp cận dưới hai cách thông thường:
+ Thứ nhất là tập trung vào việc nghiên cứu về thành phần vật chất, các trầm
tích quyết định thành phần của đất, liên quan đến sự di chuyển vật liệu từ nơi khác
đến.
+ Cách thứ hai tập trung nhiều hơn vào sự hình thành và phát triển đất tại chỗ
theo các quá trình vật lý và hóa học.
Hiện nay, hướng nghiên cứu địa mạo – thổ nhưỡng là hướng tiếp cận khoa
học đất trên quan điểm nguồn gốc phát sinh, không chỉ nghiên cứu sự lắng đọng của
vật chất mà còn giải thích quá trình phát triển của đất dựa vào các yếu tố thủy văn,
quá trình hóa học và quá trình sinh thái học.
Địa mạo – thổ nhưỡng là một môn khoa học tổng hợp, là một thể tự nhiên
đầy đủ và hoàn chỉnh, là một bộ phận của khoa học địa lý, bao gồm các yếu tố phát
sinh hình thái địa hình, phát sinh hình thái thổ nhưỡng và mối quan hệ của chúng
trong một động lực hình thành và phát triển theo không gian, thời gian ở mức độ ổn
định như nhau, trong mối liên quan nhất định với lớp phủ thực vật, khí hậu, thủy
văn… Địa mạo – thổ nhưỡng có mối quan hệ chặt chẽ với các khoa học khác và
được Ruhe (1975) thể hiện bằng sơ đồ sau: (nguyên văn tiếng Anh)
Tạm được dịch sang tiếng Việt như sau:
8
mối quan hệ tương quan lẫn nhau. Địa mạo – thổ nhưỡng nghiên cứu về sự tiến hóa
(chiều thời gian) và sự phân bố (chiều không gian) của đất, vật liệu đất và cảnh
quan luôn được hình thành và biến đổi. Trên mỗi đơn vị địa mạo – thổ nhưỡng cho
thấy quá trình lắng đọng trầm tích của một vị trí cụ thể. Sự phát triển của quá trình
lắng đọng trầm tích phản ánh các quá trình thủy văn, quá trình hóa học, các quá
trình sinh thái học ở cả quá khứ và hiện tại của một vị trí nghiên cứu. Qua đó đánh
giá được mối quan hệ nguồn gốc giữa đất và địa hình; kết quả của mối tương quan
giữa chúng là hình thành các cảnh quan.
Những đặc điểm của đất quyết định đến sự bảo tồn của chúng. Địa mạo – thổ
nhưỡng là một công cụ rất quan trọng cho việc tái thiết lại quá khứ. Nguồn gốc của
thổ nhưỡng phụ thuộc vào trạng thái khác nhau của các nhân tố môi trường. Đặc
điểm hóa học, vật lý và sinh học của đất phản ánh duy nhất sự phân tích của các
nhân tố. Do đó, đất trong điều kiện thích hợp có thể giúp chúng ta hiểu về các nhân
tố môi trường đó trong quá khứ và chúng ảnh hưởng như thế nào (Gerrard, 1992;
Birkeland, 1999).
Địa mạo – thổ nhưỡng nghiên cứu quá trình phức tạp trong sự tiến hóa của
cảnh quan và ảnh hưởng đến các quá trình này là sự hình thành đất trên cảnh quan.
Địa mạo – thổ nhưỡng bắt nguồn từ địa mạo (nghiên cứu địa hình và các quá trình
bề mặt) và từ thổ nhưỡng (nghiên cứu đất). Nó nhấn mạnh mối quan hệ giữa hình
thái đất và quá trình hình thành và phát triển cảnh quan. Địa mạo – thổ nhưỡng
nghiên cứu 3 khía cạnh sau:
1. Hiểu biết về địa tầng bề mặt và vật liệu mẹ.
10
2. Đặc điểm địa mạo bề mặt trong không gian và thời gian.
3. Sự tương quan đặc điểm của đất và đặc điểm cảnh quan.
Nghiên cứu địa mạo – thổ nhưỡng ở Mỹ đã cung cấp môi trường đầu tiên
nghiên cứu về tầng đất cổ và mối quan hệ của nó với cảnh quan. Sự kết hợp của địa
mạo và khoa học đất cho nghiên cứu cảnh quan đã cung cấp sớm nhất cho sự phát
thành tạo từ nguồn gốc đó”. Đúng hơn điều kiện địa mạo nào thì thổ nhưỡng đó,
còn về mặt tương quan giữa hai quá trình tạo hình thái và tạo thổ nhưỡng thì chúng
có quan hệ nghịch – khi quá trình tạo hình thái xảy ra, mạnh mẽ thì quá trình tạo thổ
nhưỡng kém hoặc ngừng hẳn, trái lại khi quá trình tạo hình thái yếu hoặc ngưng
nghỉ thì quá trình tạo thổ nhưỡng phát triển sâu sắc” [5].
Địa hình có vai trò đáng kể trong việc quyết định sự thể hiện cụ thể mối tác
động của các nhân tố khác trong việc tạo thành đất. Địa hình phân bố lại nước nên
ảnh hưởng đến chế độ nước trong đất, quá trình phong hóa hóa học… Sự trao đổi
năng lượng giữa Mặt Trời và đất đá cũng như sinh vật sống trên đó và xác hữu cơ ở
đó, sự trao đổi ấy khác nhau ở các sườn đồi núi theo hướng đông, tây, nam hay bắc,
cụ thể là sườn tây hứng nhiều nhiệt hơn sườn đông khiến cho chế độ nhiệt trong đất
khác nhau ở các sườn ấy; nơi cao bị xâm thực, nơi thấp được bồi tụ bằng sản phẩm
của xói mòn. Tất cả những hiện tượng đó ảnh hưởng đến sự hình thành đất [19].
- Vai trò quan trọng của địa hình trong sự hình thành đất là sự ảnh hưởng đối
với sự chuyển động vật chất rắn của đất, được thể hiện dưới tác dụng của trọng lực.
Sự ảnh hưởng này liên quan đến mức độ rửa trôi và sắp xếp lại thành phần vật chất
của vật liệu. Qua đó có thể đánh giá độ dày mỏng của lớp đất trên các bề mặt địa
hình.
- Sự phân đới các loại đất theo chiều thẳng đứng cũng được quyết định bởi
độ cao tuyệt đối của địa hình. Độ cao ảnh hưởng đến nền nhiệt ẩm, do vậy ảnh
hưởng tới tốc độ và mức độ các quá trình phong hóa đá và ảnh hưởng đến sự hình
thành và phát triển của đất. Càng lên cao, quá trình phong hóa càng giảm, vỏ phong
hóa mỏng vì vậy các đất được hình thành có tầng dày mỏng hơn.
- Một trong những vai trò của địa hình đối với sự hình thành cảnh quan đó là
sự phân bố lại năng lượng Mặt Trời. Sự phân bố lại năng lượng Mặt Trời trên bề
mặt đất phụ thuộc vào độ cắt xẻ của địa hình. Hai yếu tố của địa hình quyết định
đến sự phân bố lại năng lượng Mặt Trời đó là độ dốc của sườn núi của các miền cao
và hướng phơi địa hình. Ở khu vực núi Ba Vì, sườn tây hứng nhiều nhiệt hơn sườn
12
về mặt phát sinh và động lực để khoanh ra các kiểu địa hình, trên đó thổ nhưỡng sẽ
được phát triển.
Thông qua việc nghiên cứu thổ nhưỡng dưới góc độ nguồn gốc phát sinh có
ý nghĩa quan trọng đối với quy hoạch không gian lãnh thổ, đặc điểm thổ nhưỡng
phản ánh động lực quá trình địa mạo đang diễn ra. Những lãnh thổ có quá trình tạo
thổ nhưỡng đang bị gián đoạn, đất đang bị thoái hóa, xói mòn trơ sỏi đá, đất kém
phì nhiêu không những không có khả năng tạo ra năng suất cây trồng cao mà còn
phản ánh động lực quá trình địa mạo đang diễn ra mạnh mẽ, hoặc là quá trình ngoại
sinh xảy ra mạnh, hoặc là do hoạt động của con người tác động rất lớn đến cảnh
13
quan. Từ đó có các biện pháp cải tạo sử dụng hợp lý tài nguyên đất, sử dụng hợp lý
không gian lãnh thổ.
b. Mối quan hệ giữa quá trình địa mạo và thổ nhưỡng
Sự hình thành và phát triển thổ nhưỡng gắn liền với sự phát triển của địa hình
hay nói cách khác quá trình tạo thổ nhưỡng có tương quan với quá trình tạo hình
thái. Trên dạng địa hình nào sẽ hình thành nên loại thổ nhưỡng đó. Mối quan hệ
giữa địa mạo và thổ nhưỡng là mối quan hệ trái ngược nhau: Khi quá trình tạo hình
thái mạnh, tức là bề mặt địa hình bị biến đổi mạnh thì quá trình tạo thổ nhưỡng sẽ
giảm yếu, hơn nữa đất còn bị bào mòn, cắt cụt và trẻ hóa liên tục. Điều này đặc biệt
thấy rõ trong các miền bán khô hạn. Khí hậu khắc nghiệt làm cho lớp phủ thực vật
nghèo nàn thưa thớt, sườn bị các quá trình phong hóa vật lý và trọng lực bóc lộ liên
tục. Lớp thổ nhưỡng do đó mỏng dần, vì phần được tạo mới không bù lại được phần
đã bị bóc đi.
Vào những giai đoạn khí hậu khô nóng là giai đoạn diễn ra quá trình phong
hóa vật lý phát triển mạnh làm phá hủy đá gốc, tích tụ vật liệu, vỏ phong hóa khá
dày. Vào giai đoạn khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều, tập trung làm cuốn trôi, vận
chuyển vật liệu theo cả dòng chảy mặt và dòng chảy ngầm, hình thành các khe xói
chia cắt bề mặt địa hình, khi đó quá trình tạo hình thái diễn ra mạnh mẽ. Các sản
- Ở trên những bề mặt tương đối bằng phẳng, các sản phẩm phong hóa được
tích tụ tại chỗ tạo lớp vỏ phong hóa dày, hình thành nên lớp thổ nhưỡng cũng khá
dày.
- Trên sườn dốc, độ dốc lớn, quá trình trọng lực diễn ra nhanh chóng đã di
chuyển các vật liệu phong hóa xuống chân sườn, quá tình deluvi diễn ra hầu khắp ở
đây, vỏ phong hóa mỏng dần, thổ nhưỡng không hoặc ít được hình thành ở trên
những sườn dốc này.
- Ở các chân sườn, độ dốc giảm, là nơi tích tụ vật liệu được đưa từ trên sườn
15
xuống. Do đó lớp thổ nhưỡng được hình thành phát triển ở chân sườn tạo ra loại đất
dốc tụ phân bố trên các nón phóng vật dưới đáy các thung lũng.
- Ở các bãi bồi do độ dốc nhỏ và chịu ảnh hưởng của hoạt động dòng chảy,
đất chủ yếu là đất phù sa được bồi hàng năm, tầng đất rất dày và luôn được trẻ hóa.
Từ những phân tích ở trên cho thấy xói mòn đất cũng như quá trình thành tạo
vỏ phong hóa – thổ nhưỡng chịu ảnh hưởng của độ dốc, quá trình rửa trôi khu vực
nghiên cứu khá mạnh.
Giữa thổ nhưỡng và các quá trình bề mặt có mối quan hệ chặt chẽ lẫn nhau.
Khi nghiên cứu đất trên một sườn dốc theo hướng tiếp cận chuỗi đất có thể
đánh giá được lịch sử phát triển của sườn dốc có ổn định hay không trong lịch sử.
Trên lớp đất bề mặt đã ghi lại đặc điểm địa mạo bề mặt, thích hợp cho việc đánh giá
sự tiến hóa của địa hình. Các quá trình địa mạo ảnh hưởng đến quá trình tiến hóa
sườn dốc thể hiện thông quá sự vận chuyển xuống sườn dốc các vật liệu sườn và sự
phân bố của chúng dưới chân sườn dốc.
1.1.3 Cảnh quan địa mạo – thổ nhưỡng
a. Cảnh quan địa mạo – thổ nhưỡng
Đất được coi như một đơn vị cảnh quan. Địa mạo – thổ nhưỡng là một lĩnh
vực khoa học nghiên cứu đất trên cảnh quan. Dễ hiểu, đất liên tục trên cảnh quan
được phân chia thành các đơn vị riêng biệt. Đơn vị thổ nhưỡng là đơn vị đất phổ
- Sự tồn tại và thay đổi đặc tính vật lý, trạng thái đặc trưng của mỗi cảnh
quan địa mạo – thổ nhưỡng phụ thuộc vào sự di chuyển và biến đổi của dòng vật
chất và năng lượng thông qua các phản ứng hoá học.
- Cảnh quan địa mạo – thổ nhưỡng tồn tại ở trạng thái bền vững và cân
bằng nhờ vào sự cân bằng về tốc độ cho và nhận các dòng vật chất và năng lượng.
Khi tốc độ đó thay đổi kéo theo sự thay đổi trạng thái bền vững và cân bằng của
cảnh quan địa mạo – thổ nhưỡng ban đầu. Khi đó nó sẽ chuyển sang dạng cảnh
quan địa mạo – thổ nhưỡng mới đạt được trạng thái cân bằng và bền vững ở tốc độ
cho và nhận của dòng vật chất và năng lượng ấy. Sự tích tụ nguồn năng lượng và
vật chất trong mỗi cảnh quan địa mạo – thổ nhưỡng phụ thuộc vào tốc độ của dòng
vật chất và năng lượng, mức độ tích tụ vật chất và năng lượng càng cao thì sự biến
đổi cảnh quan càng giảm.
b. Cảnh quan địa mạo – thổ nhưỡng là một bộ phận của cảnh quan địa lý
17
Cảnh quan trong nghệ thuật được hiểu là sự biểu hiện của một địa phương
nào đó; trong địa lý, cảnh quan được hiểu là một khái niệm chung, đồng nghĩa với
khái niệm địa tổng thể (địa tổng thể là một phức hệ các yếu tố tự nhiên và xã hội có
tác động qua lại lẫn nhau thông qua dòng vật chất và năng lượng) của bất kỳ cấp
nào (theo Minkov F.N, Armand…).
Nếu đặt cảnh quan địa lý theo cách hiểu như một đơn vị cá thể thì: "Cảnh
quan địa lý là một địa hệ thống thống nhất về mặt phát sinh, đồng nhất theo các dấu
hiệu địa đới và phi địa đới, và bao gồm một tập hợp các địa hệ địa phương liên kết
với nhau (Ixatrenko,1965)".
Cũng theo cách hiểu này, Vũ Tự Lập cho rằng:" Cảnh quan địa lý được
phân hoá trong phạm vi một đới ngang ở đồng bằng và một đai cao ở miền núi, có
một cấu trúc thẳng đứng đồng nhất về nền địa chất, về kiểu địa hình, kiểu khí hậu,
kiểu thuỷ văn, về đại tổ hợp thổ nhưỡng và đại tổ hợp thực vật, và bao hàm tổ hợp
có qui luật của những dạng địa lý và những đơn vị cấu tạo nhỏ khác theo một cấu