ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THỊ THU HIỀN
VAI TRÒ CỦA THÔNG TIN SÁNG CHẾ
ĐỐI VỚI QUẢN LÝ CÔNG NGHỆ
Ở CÁC DOANH NGHIỆP
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
MÃ SỐ:60.34.72
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC QUẢN LÝ
1.3. Khái niệm quản lý công nghệ ở các doanh nghiệp 31
1.3.1. Khái niệm doanh nghiệp 31
1.3.2. Khái niệm công nghệ và quản lý công nghệ 32
1.3.3. Quản lý công nghệ ở các doanh nghiệp 33
1.4. Sử dụng thông tin sáng chế trong quản lý công nghệ ở các doanh nghiệp 35
1.4.1. Nguồn thông tin kỹ thuật 36
1.4.2. Nguồn thông tin cạnh tranh 36
1.4.3. Nguồn thông tin chiến lược 37
* Kết luận chƣơng 1 38
CHƢƠNG 2. KHẢO SÁT VAI TRÒ CỦA THÔNG TIN SÁNG CHẾ ĐỐI VỚI QUẢN
LÝ CÔNG NGHỆ Ở CÁC DOANH NGHIỆP 39
2.1. Đặc thù hoạt động quản lý công nghệ của các doanh nghiệp 39
2.1.1. Tiêu chí khảo sát đặc thù hoạt động quản lý công nghệ của các doanh nghiệp 39
2.1.2. Kết quả khảo sát về đặc thù hoạt động quản lý công nghệ của các doanh nghiệp 39
2.1.3. Bàn luận về kết quả khảo sát đặc thù hoạt động quản lý công nghệ của các doanh
nghiệp 46
2.2. Tầm quan trọng của việc sử dụng thông tin sáng chế phục vụ quản lý công nghệ ở các
doanh nghiệp 49
2.2.1. Tiêu chí khảo sát tầm quan trọng của việc sử dụng thông tin sáng chế phục vụ
quản lý công nghệ ở các doanh nghiệp 49
2 2.2.2. Kết quả khảo sát về tầm quan trọng của việc sử dụng thông tin sáng chế phục vụ
quản lý công nghệ ở các doanh nghiệp 49
2.2.3. Bàn luận về kết quả khảo sát tầm quan trọng của việc sử dụng thông tin sáng chế
phục vụ quản lý công nghệ ở các doanh nghiệp 54
2.3. Tình hình khai thác thông tin sáng chế ở các doanh nghiệp 59
2.3.1. Tiêu chí khảo sát tình hình khai thác thông tin sáng chế ở các doanh nghiệp 59
3.4.2. Phát triển các nguồn lực và nâng cao trình độ quản lý công nghệ của doanh
nghiệp 101
* Kết luận chƣơng 3 104
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 105
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
PHỤ LỤC 109 3 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DNNN:
Doanh nghiệp Nhà nƣớc
DNTN:
Doanh nghiệp tƣ nhân
DN có vốn ĐTNN:
Doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài 4 DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Các giai đoạn của quản lý công nghệ (Gaynor, 1996) 34
Bảng 2.1: Tỷ lệ phản hồi phiếu điều tra 8
Bảng 2.2: Số lƣợng doanh nghiệp đƣợc khảo sát phân theo loại hình sở hữu và
Bảng 2.22: Các rào cản liên quan đến tổ chức phân theo loại hình sở hữu 71
Bảng 2.23: Các rào cản liên quan đến đào tạo, tuyên truyền 71
Bảng 2.24: Các rào cản liên quan đến đào tạo-tuyên truyền phân theo loại hình
sở hữu 72
Bảng 2.25: Các rào cản liên quan đến năng lực 73
Bảng 2.26: Các rào cản liên quan đến năng lực phân theo loại hình sở hữu 74
Bảng 3.1: Số lƣợng đơn đăng ký sáng chế/giải pháp hữu ích của ngƣời nộp
đơn Việt Nam trong giai đoạn 2000-2010 93 5 DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1: Các hoạt động liên quan đến quản lý công nghệ ở các doanh
nghiệp 42
Hình 2.2: Tƣơng quan giữa các loại nguồn gốc ý tƣởng đổi mới công
nghệ 43
Hình 2.3: Tƣơng quan giữa các phƣơng thức thực hiện đổi mới công nghệ 45
Hình 2.4: Vai trò của thông tin sáng chế dùng làm thông tin kỹ thuật 50
Hình 2.5: Vai trò của thông tin sáng chế dùng làm thông tin cạnh tranh 51
Hình 2.6: Vai trò của thông tin sáng chế dùng làm thông tin chiến lƣợc 52
Hình 2.7: Sự cần thiết của việc sử dụng trực tiếp các sáng chế không có
hiệu lực 53
Hình 2.8: Tƣơng quan giữa tần suất sử dụng thông tin sáng chế của doanh
nghiệp 60
Hình 2.9: Tƣơng quan giữa các cách tra cứu thông tin sáng chế của doanh
nghiệp 62
Hình 2.10: Các rào cản đối với việc sử dụng thông tin sáng chế trong
quản lý công nghệ ở các doanh nghiệp 67
thông tin sáng chế nhằm tìm ra các mối quan hệ và xu hƣớng phát triển công
nghệ trên thế giới phục vụ cho mục đích quản lý, dự báo và định hƣớng
nghiên cứu, phát triển công nghệ đã đem lại các giá trị to lớn.
Trong quá trình quản lý công nghệ của các doanh nghiệp, việc sử dụng
có hiệu quả thông tin sáng chế đã góp phần đem lại những thành công đáng
kể. Vì vậy, việc đánh giá đúng vai trò của thông tin sáng chế và biết cách khai
thác có hiệu quả thông tin này trong quá trình quản lý công nghệ là việc làm
cần thiết. Đó cũng là lý do để tôi chọn đề tài nghiên cứu “Vai trò của thông tin
sáng chế đối với quản lý công nghệ ở các doanh nghiệp” làm đề tài Luận văn
khoa học chuyên ngành Quản lý khoa học và công nghệ.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Ở các nƣớc trên thế giới, việc phân tích thông tin sáng chế để tìm ra xu
hƣớng phát triển công nghệ là một nhu cầu thiết yếu trong quản lý công nghệ.
Ở Việt Nam, việc khai thác thông tin sáng chế đối với quản lý công nghệ
dƣờng nhƣ chƣa đƣợc đánh giá cao. Tại Cục Sở hữu trí tuệ và một số đơn vị
khác, đã có một số nghiên cứu về vai trò của thông tin sáng chế trong việc
thúc đẩy hoạt động sáng tạo, thông tin sở hữu công nghiệp đối với hoạt động
nghiên cứu-triển khai hoặc có một số bài viết trên các Tạp chí, trang tin điện
7 tử, v.v. nhƣng mới chỉ đề cập đến việc khai thác nguồn dữ liệu, phục vụ tra
cứu thông tin hoặc là các mẫu hƣớng dẫn đơn giản phục vụ cho ngƣời nộp
đơn đăng ký sáng chế mà chƣa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu vai trò của
thông tin sáng chế đối với việc quản lý công nghệ ở các doanh nghiệp.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Chứng minh thông tin sáng chế có vai trò quan trọng đối với quản lý
công nghệ ở các doanh nghiệp;
Phân tích các rào cản đối với việc sử dụng thông tin sáng chế trong
nghiên cứu, do đó các mẫu sẽ có tính đại diện cao, phản ánh trung thực hiện
trạng sử dụng thông tin sáng chế trong quá trình quản lý công nghệ ở các
doanh nghiệp trong giai đoạn hiện tại.
Dung lƣợng mẫu đƣợc xác định trên cơ sở lựa chọn ngẫu nhiên. Điều này
cho phép vừa có thể phân bổ, vừa có thể tổng hợp các Kết quả khảo sát các
đối tƣợng đƣợc khảo sát, sử dụng kỹ thuật phân tích trong quá trình tổng hợp
số liệu. Mẫu đƣợc chọn phải đảm bảo có tính đại diện. Cụ thể là, các tiêu chí
nhƣ cơ cấu ngành nghề, địa bàn của doanh nghiệp, loại hình doanh nghiệp
đảm bảo sự cân đối và phù hợp với thực tiễn.
Dung lƣợng mẫu khảo sát đƣợc xác định ban đầu dành cho các đối tƣợng
nghiên cứu thuộc các khách thể nghiên cứu thuộc các loại sau:
- các doanh nghiệp nhà nƣớc;
- các doanh nghiệp tƣ nhân;
- các doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài.
Trong quá trình khảo sát thực địa, có một số trƣờng hợp không điều tra
đƣợc vì lý do khách quan nhƣ thay đổi địa chỉ liên hệ; hoặc doanh nghiệp
tránh không trả lời; số doanh nghiệp thực tế tham gia trả lời đƣợc thể hiện tại
bảng sau:
Bảng 2.1: Tỷ lệ phản hồi phiếu điều tra
Tên Mẫu
Số phiếu
phát ra
Số phiếu
thu về
Tỷ lệ, %
Mẫu 1: Doanh nghiệp nhà nƣớc
7
7
100%
Mẫu 2: Doanh nghiệp tƣ nhân
đƣợc thực hiện kết hợp chặt chẽ với nhau trong suốt quá trình thực hiện khảo
sát.
1) Phương pháp nghiên cứu tài liệu:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận liên quan đến thông tin sáng chế.
- Nghiên cứu cơ sở lý luận liên quan đến quản lý công nghệ ở các doanh
nghiệp.
- Phân tích, tổng hợp các thông tin qua một số nguồn tài liệu khác để
phản ánh thực trạng vấn đề nghiên cứu từ thực tiễn cuộc sống.
2) Phương pháp trưng cầu ý kiến:
Phiếu trƣng cầu ý kiến đƣợc xây dựng nhằm làm rõ những thông tin cơ
bản sau trong các doanh nghiệp có đổi mới công nghệ:
- Đặc thù của hoạt động quản lý công nghệ ở các doanh nghiệp;
- Tầm quan trọng của việc sử dụng thông tin sáng chế phục vụ quản lý
công nghệ ở các doanh nghiệp;
- Tình hình khai thác thông tin sáng chế ở các doanh nghiệp;
10 - Các rào cản đối với việc sử dụng thông tin sáng chế trong quản lý công
nghệ ở các doanh nghiệp.
3) Phương pháp phỏng vấn sâu:
Để thu thập thông tin định tính, tác giả luận văn đã thực hiện 12 cuộc
phỏng vấn sâu với các đối tƣợng trong Ban giám đốc, cán bộ kỹ thuật, cán bộ
tổ chức đại diện cho các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực sản xuất và kinh
doanh khác nhau.
9. Kết cấu của Luận văn
PHẦN MỞ ĐẦU
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LUẬN VĂN
1.1. Khái niệm sáng chế
Vào thế kỷ 16, nƣớc Anh đã có một hệ thống bằng độc quyền sáng
chế, Đạo luật về Đặc quyền năm 1624 là luật thành văn đầu tiên quy định việc
cấp một đặc quyền cho sáng chế trong một khoảng thời gian có hạn.
Thời kỳ Khai sáng, nửa sau của thế kỷ 18, là thời hoàng kim của
thƣơng mại và công nghiệp đối với nhiều nƣớc và cũng là thời của sáng tạo
nghệ thuật, đổi mới khoa học và cách mạng chính trị. Trong thời kỳ này, một
số nƣớc đã thiết lập hệ thống bảo hộ độc quyền sáng chế đầu tiên của mình.
Luật sáng chế của Pháp quy định về việc bảo hộ quyền của ngƣời sáng chế, đã
đƣợc ban hành năm 1791. Ở Hoa Kỳ, Hiến pháp năm 1788 đã quy định rõ về
bằng độc quyền sáng chế và sự bảo hộ sáng chế thông qua việc cấp bằng độc
quyền cho tác giả sáng chế.
Tới cuối thế kỷ 19, công cuộc công nghiệp hoá có quy mô lớn dựa
trên các ý tƣởng mới về công nghiệp hoá cùng với sự xuất hiện của những
chính phủ tập trung hoá đã dẫn đến việc nhiều nƣớc thiết lập hệ thống pháp
luật hiện đại đầu tiên của mình về bảo hộ độc quyền sáng chế. Ở Đức, luật
liên bang đầu tiên về bảo hộ độc quyền sáng chế đƣợc ban hành vào năm
1877. Nhiều nƣớc khác đã đƣa vào áp dụng luật hiện đại về bảo hộ độc quyền
sáng chế trong thế kỷ 19: Ý (1859), Ác-hen-ti-na (1864), Tây Ban Nha
12 (1878), Brazin (1882), Thuỵ Điển (1884), Canađa (1886), Ấn Độ và Nhật Bản
(1888), Mê-hi-cô (1890), Đức (1891), Bồ Đào Nha và Nam Phi (1896).
1
Các điều ƣớc quốc tế liên quan đến sáng chế:
- Công ƣớc Paris về Bảo hộ sở hữu công nghiệp, đƣợc ký ngày
20.03.1883, đƣợc sửa đổi tiếp theo vào các năm 1900, 1911, 1925, 1934,
1958, 1967, 1979;
hữu trí tuệ, góp phần tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội của đất
nƣớc.
2
1.1.2. Định nghĩa sáng chế
Sáng chế là một đối tƣợng quan trọng của hệ thống sở hữu công nghiệp.
Bằng độc quyền sáng chế là một văn bằng do cơ quan có nhà nƣớc có thẩm
quyền (hoặc một cơ quan khu vực nhân danh môt số quốc gia) cấp trên cơ sở
một đơn yêu cầu bảo hộ, để cho phép bảo vệ các sáng chế bằng một sự độc
quyền trong một thời hạn nhất định. Đổi lại việc đƣợc độc quyền, chủ sở hữu
sáng chế phải bộc lộ sáng chế cho công chúng. Bằng độc quyền sáng chế mô
tả một sáng chế và thiết lập một điều kiện pháp lý mà theo đó sáng chế đã
đƣợc cấp bằng độc quyền chỉ có thể đƣợc khai thác một cách bình thƣờng khi
chủ sở hữu bằng độc quyền sáng chế cho phép. Sự bảo vệ này chính là
phƣơng tiện giúp cho chủ sở hữu bằng độc quyền sáng chế và tác giả sáng chế
thu đƣợc phần thƣởng từ thành quả nghiên cứu của mình và khuyến khích họ
bộc lộ sáng chế và thực hiện nó ở quốc gia nơi mà Bằng độc quyền sáng chế
đƣợc cấp.
Theo Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới: “Bằng độc quyền sáng chế là một
độc quyền được cấp cho một sáng chế, đó là một sản phẩm hoặc một quy
trình mà nói chung, tạo ra một cách thức mới để thực hiện một việc gì đó,
hoặc đề xuất một giải pháp kỹ thuật mới cho một vấn đề.”
3
Theo Luật Sở hữu trí tuệ của nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam:
“Sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình
nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự
nhiên”. [16, khoản 12 Điều 4]
“Quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế…được xác lập trên cơ sở
quyết định cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo
thỏa thuận. Chủ sở hữu sáng chế cũng có thể chuyển nhƣợng sáng chế cho
ngƣời khác, khi đó ngƣời đƣợc chuyển nhƣợng sẽ là chủ sở hữu mới của sáng
chế. Khi sáng chế hết hiệu lực, việc bảo hộ kết thúc, chủ sở hữu sáng chế
không còn có quyền độc quyền đối với sáng chế nữa, bất kỳ ngƣời nào đều có
thể khai thác và sử dụng sáng chế.
Ở một số quốc gia, sáng chế có thể đƣợc bảo hộ dƣới dạng “giải pháp
hữu ích”, “mẫu hữu ích”, hoặc “sáng chế đổi mới”, “sáng kiến hữu ích” hoặc
“sáng chế ngắn hạn”, dƣới đây gọi chung là “giải pháp hữu ích”.
Điểm khác nhau chủ yếu giữa giải pháp hữu ích và sáng chế là ở chỗ, các
điều kiện bảo hộ đối với giải pháp hữu ích không nghiêm ngặt nhƣ sáng chế,
cụ thể là yêu cầu về trình độ sáng tạo. Thông thƣờng, lệ phí cho việc đăng ký
giải pháp hữu ích thấp hơn so với đơn đăng ký sáng chế. Thời hạn hiệu lực
15 của Bằng độc quyền giải pháp hữu ích ngắn hơn so với thời hạn hiệu lực của
Bằng độc quyền sáng chế, nhƣng các quyền khác của chúng là tƣơng tự với
Bằng độc quyền sáng chế.
Xét về mặt đối tƣợng đƣợc bảo hộ, ở một số quốc gia, việc bảo hộ giải
pháp hữu ích chỉ đƣợc cấp cho một số lĩnh vực công nghệ nhất định, và bảo
hộ đối với sản phẩm mà không bảo hộ quy trình. Ví dụ, ở Nhật Bản và Trung
Quốc, mẫu hữu ích (utility model) chỉ đƣợc cấp cho đối tƣợng là sản phẩm
(cơ cấu, thiết bị) mà không cho quy trình.
Ở Việt Nam, sáng chế có thể đƣợc bảo hộ dƣới dạng “giải pháp hữu ích”.
Yêu cầu cấp bằng độc quyền giải pháp hữu ích có thể đƣợc nộp ngay từ khi
nộp đơn, hoặc chủ đơn có thể yêu cầu chuyển đổi từ đơn yêu cầu cấp bằng
độc quyền sáng chế thành đơn yêu cầu cấp bằng độc quyền giải pháp hữu ích
vào thời điểm bất kỳ trƣớc khi Cục Sở hữu trí tuệ ra thông báo từ chối cấp văn
bằng bảo hộ hoặc quyết định cấp văn bằng bảo hộ. Việc chuyển đổi nhƣ vậy
Trong khi đó, đối với giấy chứng nhận tác giả, quyền khai thác sáng chế thuộc
về nhà nƣớc và tác giả sáng chế chỉ có quyền nhận tiền thƣởng từ nhà nƣớc,
tác giả sáng chế không có quyền chuyển nhƣợng sáng chế cho bên thứ ba và
không có quyền chuyển giao quyền sử dụng sáng chế cho ngƣời khác khai
thác.
Luận văn này đề cập tới khái niệm sáng chế theo định nghĩa nêu tại
khoản i và ii Điều 2 Hiệp ƣớc Hợp tác về Sáng chế (PCT):
“(i) “đơn” nghĩa là đơn yêu cầu cấp Bằng độc quyền sáng chế; những sự
đề cập đến “đơn” phải được hiểu là sự đề cập đến đơn yêu cầu cấp: Bằng
độc quyền sáng chế, Giấy chứng nhận tác giả sáng chế, Giấy chứng nhận hữu
ích, Mẫu hữu ích, Bằng độc quyền sáng chế bổ sung, Giấy chứng nhận tác giả
sáng chế bổ sung và Giấy chứng nhận hữu ích bổ sung;
(ii) sự đề cập đến “Bằng độc quyền sáng chế” phải được hiểu là sự đề
cập đến Bằng độc quyền sáng chế, Giấy chứng nhận tác giả sáng chế, Giấy
chứng nhận hữu ích, Mẫu hữu ích, Bằng độc quyền sáng chế bổ sung, Giấy
chứng nhận tác giả sáng chế bổ sung, và Giấy chứng nhận hữu ích bổ sung.”
[7, khoản i và ii Điều 2]
Một cách tổng quát, khái niệm “sáng chế” đƣợc sử dụng trong Luận văn
này không chỉ liên quan đến sáng chế mà còn liên quan đến các đối tƣợng
tƣơng tự nhƣ sáng chế, với tên gọi cụ thể tuỳ thuộc vào luật pháp của từng
quốc gia.
1.1.3. Quy định của pháp luật về bảo hộ sáng chế
Nói chung, để đƣợc cấp bằng độc quyền, một sáng chế phải đáp ứng đầy
đủ các điều kiện sau: nó phải thuộc nhóm đối tƣợng có khả năng bảo hộ sáng
17 chế, nó phải đáp ứng các tiêu chuẩn về tính mới, trình độ sáng tạo và khả năng
áp dụng công nghiệp.
5
Xin tham khảo thêm: Cục Sở hữu trí tuệ (2010), Quy chế thẩm định đơn đăng ký sáng chế, Ban hành kèm
theo Quyết định số 487/QĐ-SHTT ngày 31/03/2010 của Cục trƣởng Cục Sở hữu trí tuệ.
6
Xin tham khảo thêm: Trần Văn Hải (2007), Về các thuật ngữ phát minh, phát hiện, sáng chế, Tạp chí hoạt
động khoa học, Bộ Khoa học và Công nghệ, số 6/2007.
18 c) Có khả năng áp dụng công nghiệp.” [16, khoản 1 Điều 58]
Liên quan đến các đối tƣợng loại trừ, Điều 59 Luật Sở hữu trí tuệ Việt
Nam quy định:
“Các đối tượng sau đây không được bảo hộ với danh nghĩa sáng chế:
1. Phát minh, lý thuyết khoa học, phương pháp toán học;
2. Sơ đồ, kế hoạch, quy tắc và phương pháp để thực hiện các hoạt động
trí óc, huấn luyện vật nuôi, thực hiện trò chơi, kinh doanh; chương trình máy
tính;
3. Cách thức thể hiện thông tin;
4. Giải pháp chỉ mang đặc tính thẩm mỹ;
5. Giống thực vật, giống động vật;
6. Quy trình sản xuất thực vật, động vật chủ yếu mang bản chất sinh học
mà không phải là quy trình vi sinh;
7. Phương pháp phòng ngừa, chẩn đoán và chữa bệnh cho người và
động vật.” [16, Điều 59]
Tính mới
Một sáng chế đáp ứng tiêu chuẩn tính mới, nếu có sự khác biệt giữa sáng
chế với tình trạng kỹ thuật hiện có hoặc giải pháp kỹ thuật đã biết.
Công ƣớc Sáng chế châu Âu (các khoản 1 và 2 Điều 54) quy định:
trước ngày ưu tiên trong trường hợp đơn đăng ký sáng chế được hưởng quyền
ưu tiên.
2. Sáng chế được coi là chưa bị bộc lộ công khai nếu chỉ có một số người
có hạn được biết và có nghĩa vụ giữ bí mật về sáng chế đó.
3. Sáng chế không bị coi là mất tính mới nếu được công bố trong các
trường hợp sau đây với điều kiện đơn đăng ký sáng chế được nộp trong thời
hạn sáu tháng kể từ ngày công bố:
a) Sáng chế bị người khác công bố nhưng không được phép của người có
quyền đăng ký quy định tại Điều 86 của Luật này;
b) Sáng chế được người có quyền đăng ký quy định tại Điều 86 của Luật
này công bố dưới dạng báo cáo khoa học;
c) Sáng chế được người có quyền đăng ký quy định tại Điều 86 của Luật
này trưng bày tại cuộc triển lãm quốc gia của Việt Nam hoặc tại cuộc triển
lãm quốc tế chính thức hoặc được thừa nhận là chính thức.” [16, Điều 60]
20 Trong các quy định liên quan đến tính mới đƣợc trích dẫn trên đây, quy
định về tính mới nói chung là tƣơng tự nhau. Tính mới ở đây đƣợc hiểu là tính
mới trên phạm vi toàn thế giới, chứ không chỉ xem xét ở phạm vi quốc gia
đăng ký sáng chế. Một giải pháp bị bộc lộ công khai dƣới hình thức sử dụng,
mô tả bằng văn bản hoặc bất kỳ hình thức nào khác ở trong nƣớc hoặc ở nƣớc
ngoài trƣớc ngày nộp đơn đăng ký sáng chế (hoặc trƣớc ngày ƣu tiên trong
trƣờng hợp đơn đăng ký sáng chế đƣợc hƣởng quyền ƣu tiên) thì bị coi là
không đáp ứng tiêu chuẩn tính mới.
Trình độ sáng tạo
Sáng chế đƣợc coi là có trình độ sáng tạo nếu nó không hiển nhiên đối
với ngƣời bất kỳ có trình độ trung bình trong lĩnh vực kỹ thuật tƣơng ứng.
Công ƣớc Sáng chế châu Âu (Điều 56) quy định:
không ít các quyết định của thẩm định viên của cơ quan sáng chế bị toà án bác
bỏ hay quyết định của toà án cấp dƣới bị toà án cấp trên bác bỏ. Một số ví dụ
về các trƣờng hợp bị coi là không đáp ứng tiêu chuẩn trình độ sáng tạo là: sự
thay đổi kích thƣớc đơn thuần; hoán đổi các bộ phận; thay đổi nguyên liệu;
hoặc sự thay thế đơn thuần bởi bộ phận hay chức năng tƣơng đƣơng.
7
Khả năng áp dụng công nghiệp
Một sáng chế, để đƣợc cấp bằng độc quyền sáng chế, phải là một sáng
chế có khả năng đƣợc áp dụng cho các mục đích thực tế chứ không chỉ thuần
tuý là lý thuyết. Nếu sáng chế là sản phẩm thì sản phẩm đó phải có khả năng
đƣợc sản xuất. Nếu sáng chế là một quy trình thì quy trình đó phải có khả
năng thực hiện hay sử dụng quy trình đó trong thực tiễn.
“Khả năng áp dụng” và “khả năng áp dụng công nghiệp” lần lƣợt là các
thuật ngữ phản ánh khả năng thực hiện giải pháp theo sáng chế trong thực tế.
Thuật ngữ “công nghiệp” đƣợc hiểu theo nghĩa rộng nhất của nó, bao gồm hầu
hết các hình thức hoạt động có đặc tính kỹ thuật của con ngƣời. Yêu cầu này
nhằm phân biệt các ngành kỹ thuật ứng dụng và kỹ thuật thực hành, so với
thẩm mỹ và mỹ thuật. Cho đến nay, yêu cầu về khả năng áp dụng công nghiệp
không phải là một trở ngại thực tế quan trọng đối với khả năng đƣợc cấp bằng
độc quyền sáng chế, bởi vì ngƣời nộp đơn sẽ không bỏ các chi phí và nỗ lực
7
Xin tham khảo thêm: Trung tâm thƣơng mại quốc tế UNCTAD/WTO, Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới
(2004), Những điều cần biết về sở hữu trí tuệ, Tài liệu hướng dẫn dành cho các doanh nghiệp xuất khẩu vừa
và nhỏ, Cục Sở hữu trí tuệ, ISBN 978-92-805-1873-3.
22
23 Nếu Bằng độc quyền sáng chế đƣợc cấp, thông tin về Bằng độc quyền
sáng chế sẽ đƣợc đƣa vào Đăng bạ sáng chế quốc gia và Bằng độc quyền sáng
chế đƣợc công bố.
Quyền ƣu tiên của đơn
Theo Điều 4 Công ƣớc Paris, bất kỳ ngƣời nộp đơn nào (thuộc các quốc
gia thành viên) đã nộp đơn đăng ký sáng chế hợp lệ hoặc ngƣời thừa kế hợp
pháp của ngƣời đó, trong quá trình nộp đơn ở nƣớc khác sẽ đƣợc hƣởng quyền
ƣu tiên trong thời hạn ấn định là 12 tháng.
Ở Việt Nam, nguyên tắc ƣu tiên đƣợc quy định nhƣ sau:
“ Người nộp đơn đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu có
quyền yêu cầu hưởng quyền ưu tiên trên cơ sở đơn đầu tiên đăng ký bảo hộ
cùng một đối tượng nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:
a) Đơn đầu tiên đã được nộp tại Việt Nam hoặc tại nước là thành viên
của điều ước quốc tế có quy định về quyền ưu tiên mà Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam cũng là thành viên hoặc có thoả thuận áp dụng quy định như
vậy với Việt Nam;
b) Người nộp đơn là công dân Việt Nam, công dân của nước khác quy
định tại điểm a khoản này cư trú hoặc có cơ sở sản xuất, kinh doanh tại Việt
Nam hoặc tại nước khác quy định tại điểm a khoản này;
c) Trong đơn có nêu rõ yêu cầu được hưởng quyền ưu tiên và có nộp bản
sao đơn đầu tiên có xác nhận của cơ quan đã nhận đơn đầu tiên;
d) Đơn được nộp trong thời hạn ấn định tại điều ước quốc tế mà Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.” [16, Điều 91]
Việt Nam là thành viên của Công ƣớc Paris, các đơn sáng chế xin hƣởng
quyền ƣu tiên theo Công ƣớc Paris phải đƣợc nộp trong thời hạn 12 tháng kể
từ ngày nộp đơn đầu tiên.
giữa con ngƣời và môi trƣờng để làm dễ dàng cho sự thích nghi của con
ngƣời. Con ngƣời tồn tại luôn bị chi phối và chịu sự tác động của thế giới.
Cũng chính vì vậy, việc nhận thức đƣợc thế giới là mục đích quan trọng của
con ngƣời. Thông tin chính là chiếc cầu nối giữa thế giới với con ngƣời.
10
Con ngƣời thông qua việc tiếp nhận thông tin làm tăng hiểu biết cho
mình và tiến hành những hoạt động có ích cho cộng đồng. Thông tin đƣợc lƣu
trữ trên nhiều dạng vật liệu khác nhau nhƣ đƣợc khắc trên đá, đƣợc ghi lại trên
giấy, trên bìa, trên băng từ, đĩa từ, v.v Các vật có thể mang thông tin đƣợc
gọi là vật mang tin.
8
Xin tham khảo thêm: Bộ Khoa học và Công nghệ (2007), Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN, sđd.
9
http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C3%B4ng_tin: Thông tin, cập nhật ngày 25.04.2011.
10
Xin tham khảo thêm: Nguyễn Hữu Hùng (2004), Từ thông tin tới thông tin học, Tạp chí Thông tin tư liệu,
Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ quốc gia, số 4 năm 2004, mục nghiên cứu và trao đổi.