Phát huy vai trò của nông dân huyện Tây Sơn - Phú Thọ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ ĐINH THỊ MAI HƢƠNG

PHÁT HUY VAI TRÕ CỦA NÔNG DÂN
HUYỆN TÂN SƠN - PHÖ THỌ THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP
HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC



LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Văn Dƣơng
HÀ NỘI - 2010

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1. VẤN ĐỀ NÔNG DÂN VÀ PHÁT HUY VAI TRÕ CỦA
NÔNG DÂN TRONG THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP
HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở NƢỚC TA 6
1.1. Giai cấp nông dân và vai trò của nông dân trong quá trình xây dựng và
phát triển đất nước 6
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của nông dân 6
1.1.2. Vai trò của nông dân đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội 14
1.2. Vấn đề phát huy vai trò của nông dân trong quá trình công nghiê
̣
p ho
́
a ,
hiê
̣
n đa
̣
i ho

ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA HIỆN
NAY 67
3.1. Một số phương hướng cơ bản 67
3.1.1. Phát huy vai trò của nông dân gắn với nâng cao nhận thức về mọi mặt
của nông dân 67
3.1.2. Phát huy vai trò của nông dân gắn với quá trình phát triển nông
nghiệp, nông thôn theo hướng hiện đại 70
3.2. Một số giải pháp chủ yếu 73
3.2.1. Giải pháp về giáo dục đào tạo 73
3.2.2. Giải pháp về giải quyết việc làm cho nông dân 77
3.2.3. Giải pháp về xóa đói giảm nghèo 81
3.2.4. Giải pháp về xây dựng nông thôn mới theo hướng đô thị hóa 85
3.2.5. Giải pháp về nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng và các tổ chức trong
hệ thống chính trị 89
KẾT LUẬN 93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
PHỤ LỤC 101

BNG QUY ƯỚC CH VIẾT TẮT TRONG LUN VĂN

BCH: Ban Chấp hành
CNH: Công nghiệp hoá
CNXH: Chủ nghĩa xã hội
CN: Công nghiệp
DV: Dịch vụ
GTSX: Giá trị sản xuất
HĐH: Hiện đại hoá
NN: Nông nghiệp
Nxb: Nhà xuất bản
S: Diện tích

chủ lực của cách mạng, là người bạn đồng minh tự nhiên của giai cấp công
nhân. Chính vì vậy Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến vấn đề nông dân,
phát huy vai trò của người nông dân trong quá trình cách mạng Việt Nam và đã
có những chủ trương, chính sách đúng đắn để đẩy mạnh sự phát triển của nông
nghiệp, nông thôn nhằm phát huy hơn nữa vai trò của người nông dân.
Có thể nói, trong suốt quá trình đấu tranh giành độc lập, tự do cho Tổ
quốc, Đảng ta đã thành công rất lớn trong việc phát huy vai trò đội quân chủ
lực cách mạng của giai cấp nông dân. Dù bất kỳ thời đại nào của cách mạng,
giai cấp nông dân luôn phát huy truyền thống yêu nước và cách mạng vẻ
vang, cống hiến to lớn và quan trọng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng
dân tộc, thống nhất nước nhà, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc
xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt, công cuộc đổi mới từ 1986 đến nay do Đảng ta
khởi xướng và lãnh đạo bước đầu đã đạt được những thành tựu quan trọng,
đưa sự nghiệp cách mạng nước ta vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Trong
quá trình đó, có công góp sức to lớn của giai cấp nông dân. Vì vậy, phát huy
vai trò của người nông dân là yêu cầu cần thiết của cấp Trung ương và cơ sở.
Xuất phát từ chỗ nhận thấy được vai trò và tầm quan trọng của người nông

2
dân, hơn nữa muốn tìm hiểu sâu sắc về con người, về đời sống của người
nông dân huyện mình trong thời kỳ đổi mới nên bản thân tôi đã lựa chọn đề
tài: “Phát huy vai trò của nông dân huyện Tân Sơn - Phú Thọ thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa” để làm luận văn tốt nghiệp. Đồng thời
qua đó tôi hy vọng sẽ đóng góp một phần nhỏ bé của mình vào việc đánh giá
vị trí, vai trò của nông dân, đưa ra những giải pháp nhằm cải thiện và nâng
cao đời sống của người nông dân huyện mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Vấn đề nông dân và phát huy vai trò của nông dân có ý nghĩa chiến
lược đảm bảo sự thành công của cách mạng xã hội chủ nghĩa. Ở nước ta mục
tiêu cụ thể trước mắt là tiến hành thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện

làm sáng tỏ thực trạng và giải pháp phát huy vai trò của nông dân, đẩy mạnh
phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, nhưng
chưa có một công trình nào nghiên cứu cụ thể về vai trò của nông dân huyện
Tân Sơn - Phú Thọ. Những tài liệu, sách báo viết về vai trò nông dân huyện
Tân Sơn cũng rất ít, có chăng cũng chỉ là những bài báo, những báo cáo của
Đảng uỷ huyện, của Hội nông dân huyện Tân Sơn. Trên cơ sở kế thừa có
chọn lọc các kết quả nghiên cứu đã được công bố, lựa chọn những tư liệu quý
giá trên để giúp cho việc tìm hiểu, nghiên cứu đầy đủ về vị trí, vai trò của
nông dân huyện Tân Sơn.
3. Mục đích, đối tƣợng và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu: luận văn nghiên cứu làm sáng tỏ vai trò, đóng
góp của nông dân huyện Tân Sơn - Phú Thọ. Từ đó đề xuất một số giải pháp
nhằm phát huy hơn nữa vai trò của nông dân trong sự nghiệp phát triển kinh
tế - xã hội ở địa phương trong giai đoạn hiện nay.
* Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu vai trò, hoạt
động của nông dân huyện Tân Sơn - Phú Thọ đối với sự nghiệp phát triển
kinh tế - xã hội của huyện Tân Sơn.

4
* Nhiệm vụ nghiên cứu: để đạt được mục đích trên luận văn cần phải
thực hiện những nhiệm vụ sau:
Một là, nghiên cứu và làm rõ những vấn đề lý luận có liên quan đến
vấn đề nông dân và phát huy vai trò của nông dân thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay.
Hai là, trên cơ sở các số liệu đã được khảo sát phân tích một cách hệ
thống thực trạng vấn đề nông dân huyện Tân Sơn - Phú Thọ thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay: những thành tựu, hạn chế, nguyên
nhân và những vấn đề đặt ra.
Ba là, từ đó đề xuất một số phương hướng, giải pháp nhằm phát huy
một cách có hiệu quả vai trò của nông dân huyện Tân Sơn - Phú Thọ thời kỳ

7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục
luận văn gồm 3 chương, 6 tiết.
Chƣơng 1: Vấn đề nông dân và phát huy vai trò của nông dân trong
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta.
Chƣơng 2: Thực trạng phát huy vai trò của nông dân huyện Tân Sơn -
Phú Thọ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Chƣơng 3: Phương hướng và giải pháp phát huy vai trò của nông dân
huyện Tân Sơn - Phú Thọ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
hiện nay.

6
Chƣơng 1
VẤN ĐỀ NÔNG DÂN VÀ PHÁT HUY VAI TRÕ
CỦA NÔNG DÂN TRONG THỜI KỲ ĐẨY MẠNH
CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở NƢỚC TA

1.1. Giai cấp nông dân và vai trò của nông dân trong quá trình xây
dựng và phát triển đất nƣớc
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của nông dân
1.1.1.1. Khái niệm nông dân
Có nhiều quan niệm khác nhau về nông dân, theo Đại từ điển tiếng
Việt, nông dân là “người sống bằng nghề làm ruộng” [65, tr.1283]. Hay một
quan niệm khác “Nông dân - một giai cấp chuyên sản xuất những sản phẩm

toàn quốc và rộng hơn nữa họ chỉ có mối liên hệ làng xã, mối quan hệ họ
hàng. Mối quan hệ của họ chỉ bó hẹp trong làng xã của mình mà thôi. Trình
độ văn hoá của nông dân thấp kém, tư tưởng bảo thủ và họ không có hệ tư
tưởng riêng. Vì vậy, họ không có khả năng tổ chức ra những tổ chức chính trị
của mình, không có khả năng đại biểu cho lợi ích của chính họ mà cần phải có
người khác đại biểu cho họ, đại biểu cho lợi ích của họ. Người đại biểu của họ
đồng thời cũng là người chủ của họ, lực lượng xã hội này được coi như là
quyền uy tối cao của xã hội (điều này thể hiện thông qua Nhà nước) [44,
tr.265].
Qua đây có thể thấy, nông dân là một bộ phận dân cư đông đảo, sống
tập trung ở nông thôn, lao động sản xuất vật chất trong ngành nông nghiệp,
trực tiếp sử dụng các tư liệu sản xuất tự nhiên để sản xuất ra các sản phẩm
nông nghiệp.
Các văn kiện của Đảng ta tuy không nói đến khái niệm nông dân nhưng
qua các quan điểm về nông dân gắn với nông nghiệp, nông thôn có thể khái
quát quan điểm của Đảng về nông dân như sau: “Nông dân là khái niệm chỉ

8
về thân phận hay nghề nghiệp của một nhóm dân cư trong xã hội, phân biệt
với công nhân, trí thức Nông dân theo khái niệm này thường có hai tiêu chí
phân biệt: một là, nghề nghiệp chính là trồng trọt và chăn nuôi; hai là, sinh
sống ở nông thôn (phân biệt với thành thị)” [5, tr.112].
Gần đây có một số công trình nghiên cứu đưa ra khái niệm nông dân
một cách phù hợp hơn, như: “Nông dân được coi là những người nuôi mình
với tư cách là người lao động, trồng trọt trên đất đai và sống trong những làng
mạc nhỏ bé” [1, tr.7]. Hoặc “Nông dân ở nước ta hiện nay là những người
sống lâu đời ở thôn (làng, bản, ấp) lấy sản xuất nông nghiệp (theo nghĩa rộng)
làm nguồn sống chính dưới hình thức hộ gia đình” [2, tr.8].
Tóm lại, theo tác giả luận văn, nông dân ở nước ta hiểu theo nghĩa hẹp
là những người lao động sống bằng nghề làm ruộng, sống ở nông thôn, thu

khác của một người nông dân khác và một gia đình khác, một nhúm những đơn
vị ấy họp thành một làng, một nhúm làng họp thành một tỉnh” [42, tr.515].
C.Mác và Ăngghen cho rằng: “Trong hoạt động sản xuất của họ một
miếng đất nhỏ bé, không cho phép họ áp dụng một sự phân công lao động nào
cả, do đó cũng không cho phép một sự phong phú nào về các quan hệ xã hội”.
Điều này khác hẳn với giai cấp công nhân. Ph. Ăngghen khẳng định rằng: “Gia
đình và ở một mức độ lớn hơn là làng đã tự cấp, tự túc và sản xuất được gần đủ
hết các thứ cần thiết cho mình. Lúc bấy giờ, đó hầu như là nền kinh tế hoàn
toàn tự nhiên, hầu như người ta không bao giờ dùng đến tiền cả” [45, tr.720].
Như vậy, những người nông dân này sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, phân
tán, từng người sản xuất nhỏ trên những mảnh đất nhỏ bé của mình. Nền sản
xuất của họ vẫn là sản xuất tự nhiên, tự cung, tự cấp, tự túc, họ sản xuất phân
tán, giữa họ không có mối liên hệ nào ràng buộc ngoài mối liên hệ địa phương.
Vì vậy, họ sống tản mạn, manh mún, phân tán và giữa họ không có sự đoàn kết
chặt chẽ nào cả, họ chỉ có mối liên hệ làng xã, bó hẹp trong làng xã.

10
Thứ hai, nông dân có bản chất hai mặt, một mặt họ là những người lao
động - đây là mặt cơ bản, mặt tích cực, mặt khác họ cũng là những người tư
hữu - đây là mặt hạn chế, tiêu cực.
Trong tác phẩm “Vấn đề nông dân ở Pháp và Đức” khi phân tích vị trí
của tiểu nông, Ăngghen đã đi sâu vào phân tích bản chất hai mặt của tiểu
nông. Mặt lao động của tiểu nông, với tư cách là người lao động thì tiểu nông
bị bóc lột nặng nề, họ cũng có nhu cầu được giải phóng, do đó mà họ sẵn sàng
ngả theo công nhân để xoá bỏ chế độ bóc lột tư bản chủ nghĩa. Song mặt
khác, người nông dân là người tư hữu nhỏ. Vì vậy, người nông dân sợ chuyển
giao ruộng đất vào tay toàn thể xã hội, do đó họ không có tính cách mạng mà
thường có thái độ lừng chừng. Khi đã được giải phóng họ thường thoả mãn
với những cái đã có, họ không muốn đi lên chủ nghĩa xã hội. Đây là mặt hạn
chế của nông dân.

nông dân phụ thuộc vào hệ tư tưởng của giai cấp thống trị xã hội đương thời.
Nông dân không có hệ tư tưởng độc lập, tiên tiến, do đó luôn ngả
nghiêng, dao động. Tư tưởng của họ phụ thuộc vào hệ tư tưởng của giai cấp
thống trị xã hội đương thời. Chịu sự tác động rất lớn của những điều kiện kinh
tế - xã hội, hơn ai hết, nông dân có tư tưởng hết sức dao động, ngả nghiêng,
mập mờ và đầy thực tế. Họ chỉ sẵn sàng tin và đi theo giai cấp nào mang lại
lợi ích cho họ nhưng lợi ích mà họ nhìn thấy là lợi ích trước mắt họ nhìn thấy
thông qua đầu óc thực tế.
Mác - Ăngghen cũng lưu ý, chính nền sản xuất nhỏ và tư tưởng tư hữu
đã hạn chế nhiều đến ý thức và kết quả đấu tranh của giai cấp nông dân. Sự
dao động ngả nghiêng ảnh hưởng không ít tới vai trò chính trị của họ nhưng ở
họ vẫn chứa đựng một khả năng cách mạng to lớn. Bởi vậy họ cần có một giai
cấp tiến bộ hơn lãnh đạo.
Nông dân không có hệ tư tưởng độc lập, sự dao động, sự tính toán
mang đầy tính thực tế có thể được xem là một đặc điểm quan trọng của nông

12
dân trong bất kỳ giai đoạn nào. Người nông dân không thể rời xã hội cũ để đi
vào xã hội mới một cách hoàn toàn giản đơn, dễ dàng, ngay tức khắc được.
Nông dân biết rằng xã hội cũ bảo đảm “trật tự” cho anh ta bằng cách làm cho
những người lao động phá sản, biến họ thành nô lệ. Nông dân không biết giai
cấp vô sản có thể đem lại trật tự cho anh ta được không. Lênin viết: “đối với
người nông dân khốn cùng, dốt nát, tản mạn, ta không thể yêu cầu cao hơn
được. nông dân sẽ không tin bất cứ một lời nói nào, bất cứ một cương lĩnh
nào. Và anh ta có lý khi anh ta không tin vào lời nói, vì nếu không thì không
có cách nào khỏi bị lừa bịp. Nông dân chỉ tin vào hành động, kinh nghiệm
thực tiễn” [39, tr.443].
Theo Lênin, trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, khi chưa được giác ngộ
thì lập trường tư tưởng của nông dân ngả nghiêng, dễ dao động. Nhưng tính
không kiên định của nông dân và tính không kiên định của giai cấp tư sản thì

công nhân trong sự nghiệp đấu tranh vì lợi ích của chính mình.
V.I.Lênin đã phân tích cơ cấu không thuần nhất của nông dân Nga
trong điều kiện phát triển của chủ nghĩa tư bản Nga đầu thế kỷ XX và chỉ rõ,
xã hội nông thôn nước Nga có nhiều giai cấp và tầng lớp khác nhau cùng tồn
tại, trong đó có những kẻ chuyên bóc lột bên cạnh những người lao động và bị
bóc lột. Những kẻ bóc lột bao gồm đại nông, địa chủ, chúa đất, cu lắc và tư
bản. Những người lao động và bị bóc lột bao gồm: giai cấp vô sản nông
nghiệp, những người nửa vô sản hay những nông dân có ít ruộng, tầng lớp
tiểu nông và trung nông. Những tầng lớp lao động ấy ở nông thôn được Lênin
gọi là lực lượng đứng giữa tư sản và vô sản. Ở nước Nga cũng như trong tất
cả các nước tư bản thì các tầng lớp này, đặc biệt là giai cấp vô sản nông
nghiệp, nửa vô sản và tiểu nông gộp lại với nhau cấu thành đại đa số dân cư
nông thôn và đó là những tầng lớp khác nhau của nông dân.
Như vậy, theo Lênin thì nông dân là giai cấp được hình thành từ rất lâu
trong lịch sử. Họ là những người sinh sống và lao động ở nông thôn gắn với

14
các tư liệu sản xuất nhỏ lẻ, phân tán mà mình sở hữu. Trong các xã hội có áp
bức bóc lột, giai cấp nông dân bị chèn ép do vậy con đường giải phóngcủa
nông dân là chỉ có thể đi theo giai cấp vô sản tiến hành cuộc cách mạng xã hội
chủ nghĩa.
1.1.2. Vai trò của nông dân đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội
Từ thời xa xưa các triều đại phong kiến đã nhìn thấy vai trò và sức
mạnh to lớn của giai cấp nông dân. Họ là những người đầu tiên khai phá đất
đai, mở mang bờ cõi, lập nên non sông nước Việt Nam hôm nay. Mỗi giai
đoạn lịch sử của đất nước đều gắn với vai trò to lớn của nông dân:
- Vai trò của nông dân trong cách mạng Xã hội chủ nghĩa:
Nông dân nước ta là giai cấp cơ bản trong một nước nông nghiệp.
Trong lịch sử, nông dân Việt Nam đã từng theo đội quân chủ lực chống đế
quốc và phong kiến. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, giai cấp

Đó là nhân tố quan trọng bảo đảm cho sự ổn định chính trị của đất nước, tạo
tiền đề cho đất nước đi lên trong thời kỳ đổi mới.
- Vai trò của nông dân trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội:
Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, nông dân nước ta có vai
trò, vị trí vô cùng quan trọng. Từ những năm 1958 - 1960 đến nay, phong trào
hợp tác hóa nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, cải tiến, quản lý kinh tế
nông nghiệp, thâm canh tăng vụ, xây dựng các công trình thủy lợi, giao thông,
trường học… được nông dân hưởng ứng sôi nổi đã tạo ra cơ sở vật chất ban
đầu của chủ nghĩa xã hội. Những thành công, thất bại trong công cuộc CNH,
hợp tác hóa, chính sách đất đai, chính sách quản lý kinh tế nông nghiệp, nông
thôn v.v. đã để lại những bài học hay, những kinh nghiệm quý cho công cuộc
xây dựng chủ nghĩa xã hội những năm sau này. Những thành tựu trong phát
triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn và những đóng góp to lớn của giai cấp
nông dân những năm đổi mới đã đưa nước ta thoát khỏi khủng hoảng kinh tế -
xã hội, giữ vững sự ổn định chính trị và phát triển của đất nước. Nghị quyết

16
Đại hội đại biểu Hội nông dân Việt Nam lần thứ III khẳng định: “Chính sự
khởi sắc của kinh tế nông thôn trong những năm qua đóng vai trò to lớn, đảm
bảo sự ổn định và phát triển của đất nước trong điều kiện khó khăn gay gắt do
thiên tai và khủng hoảng kinh tế khu vực gây ra” [31, tr.15].
Nước ta trong thời bao cấp, nông dân là những người tiên phong “phá
rào” do chính quyền tạo ra để tự cứu lấy mình và chính họ đã khởi xướng ra
sự nghiệp đổi mới. Và từ chỗ thiếu ăn, Việt Nam đã trở thành một trong
những nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới trong suốt hơn chục năm qua.
Ngày nay, không chỉ có gạo mà vị thế thương mại của nhiều loại nông sản
Việt Nam trên thế giới có thứ hạng cao, kim ngạch xuất khẩu nông sản liên
tục tăng ở mức cao trong các năm gần đây.
- Vai trò của nông dân trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH:
Theo Hồ Chí Minh: giai cấp nông dân là cộng đồng những người lao

duy trì tăng trưởng kinh tế. Có thể nói, lao động nông thôn không chỉ là
nguồn nhân lực chủ yếu và quyết định trong phát triển sản xuất và kinh tế
nông thôn mà còn có đóng góp quan trọng trong các hoạt động kinh tế - xã
hội khác của cả nước, nhất là trong việc cung cấp nguồn lao động cho công
nghiệp hóa, đô thị hóa [12, tr.29-30].
Bên cạnh việc cung cấp nguồn nhân lực, thị trường nông thôn nước ta
có nhiều tiềm năng, đặc biệt là lợi thế dân số đông. Hiện nay, so với khu vực
thành thị, mức tiêu thụ sản phẩm tiêu dùng và tư liệu sản xuất ở khu vực này
lại thấp hơn nhiều vì nông dân còn nghèo. Do vậy tiềm năng sức mua của
nông dân còn rất lớn, cả hàng hóa tiêu dùng và tư liệu sản xuất, nhất là máy
móc phục vụ sản xuất nông nghiệp.
Trong thời gian gần đây, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
cùng với khu vực kinh tế tư nhân đã tạo ra trên 70% việc làm trong xã hội và
đóng góp trên 80% GDP cho đất nước. Hai trụ cột kinh tế quan trọng này phát
triển nhanh dựa vào nguồn lao động từ nông thôn với mặt bằng lương thấp

18
nhờ mức giá lương thực, thực phẩm thấp [53, tr.34]. Bên cạnh đó, thu nhập ổn
định ở nông thôn và tiến bộ rõ rệt về xóa đói giảm nghèo tạo ra môi trường
chính trị - xã hội ổn định. Đây là kết quả trực tiếp của quá trình phát triển
nông nghiệp, nông thôn do người nông dân đóng vai trò chính. Nghị quyết
Trung ương 7, khóa X đánh giá nông nghiệp, nông thôn và nông dân Việt
Nam “có vị trí chiến lược là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển
kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị ” [29, tr.123-124].
Trong công cuộc xây dựng nông thôn mới, nông dân tích cực đóng góp
vào việc xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn và làm công tác từ thiện. Đã có
rất nhiều nông dân tự nguyện hiến đất, hiến tiền để xây dựng trường học, trạm
xá, trạm điện, cầu cống, đường giao thông cho địa phương; sẵn sàng hỗ trợ
giống, vốn, vật tư, kinh nghiệm cho những hộ nông dân khó khăn để nhanh
chóng thoát nghèo, vươn lên làm giàu.

dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, trong hội nhập
quốc tế.
1.2. Vấn đề phát huy vai trò của nông dân trong quá trình công
nghiê
̣
p ho
́
a, hiê
̣
n đa
̣
i ho
́
a ở nƣớc ta hiện nay
1.2.1. Công nghiê
̣
p ho
́
a, hiê
̣
n đa
̣
i ho
́
a và vấn đề phát huy vai trò của
nông dân nói chung
Hiện nay nước ta đang tiến hành CNH, HĐH đất nước. Đây là bước đi
tất yếu trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc nhằm vươn tới văn
minh, hiện đại. Vì vậy, ngay từ những năm 1960, Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam đã đề ra đường lối CNH XHCN và

cái tốt nhân thêm tác dụng, thúc đẩy tiếp tục nảy nở nhiều hơn” [65, tr.1321].
Như vậy, trong thực tế có rất nhiều đối tượng có khả năng phát huy (trong tất
cả các lĩnh vực của tự nhiên, xã hội và tư duy). Cho dù đối tượng nào thì chủ
thể phát huy vẫn là con người. Vì vậy, phát huy vai trò của nông dân là một
trong những nội dung của phát huy nguồn lực con người. Dưới góc độ Triết

Trích đoạn Giải pháp về giải quyết việc làm cho nông dân Giải pháp về xóa đói giảm nghèo Giải pháp về xây dựng nông thôn mới theo hướng đô thị hóa
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status