Xây dựng tiêu chí đánh giá các báo cáo sáng kiến kinh nghiệm trong ngành giáo dục và đào tạo tỉnh Bạc Liêu - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TRỊNH PHƢỚC QUANG XÂY DỰNG TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ CÁC BÁO CÁO SÁNG KIẾN
KINH NGHIỆM TRONG NGÀNH GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TỈNH BẠC LIÊU
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Bạc Liêu - 2013 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

1
MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 3
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 5
PHẦN MỞ ĐẦU 6
1. Lý do chọn đề tài 6
2. Lịch sử nghiên cứu 8
3. Mục tiêu nghiên cứu 12
4. Phạm vi nghiên cứu 12
5. Mẫu khảo sát 12
6. Câu hỏi nghiên cứu 13
7. Giả thuyết nghiên cứu 13
8. Phƣơng pháp nghiên cứu 13
8.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu 13
8.2. Phương pháp bảng hỏi 14
8.3. Phương pháp phỏng vấn sâu 15
9. Kết cấu của luận văn 15
PHẦN NỘI DUNG 16
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ CÁC BÁO CÁO
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 16
1.1. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 16
1.1.1. Nghiên cứu khoa học và Nghiên cứu khoa học giáo dục 16
1.1.2. Các đặc trưng của nghiên cứu khoa học giáo dục 19
1.1.3. Đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học 21
1.1.4. Tiêu chí đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học 28
1.1.5. Đặc trưng khoa học của báo cáo sáng kiến kinh nghiệm 28
1.2. Thực tiễn công tác đánh giá sáng kiến kinh nghiệm trong ngành giáo dục
và đào tạo 29

3
LỜI CẢM ƠN

Với lòng biết ơn, em mong muốn nói lời đặc biệt cám ơn đến PGS. TS
Nguyễn Văn Kim, Phó hiệu trưởng trường Đại học xã hội nhân văn Hà Nội,
người Thầy đã hướng dẫn tận tình để em hoàn thiện được luận văn một cách
logic, khoa học.
Em bày tỏ lòng biết ơn của mình đến các Thầy, Cô lãnh đạo Sở giáo dục
và Đào tạo Bạc Liêu đã tạo điều kiện giúp đỡ để em theo hết khoá học và có
những gợi ý quý báu cho đề tài nghiên cứu này.
Thông qua luận văn này, em cũng xin gửi lời trân trọng cảm ơn đến các
giảng viên tham gia giảng dạy khoá học vì đã cung cấp cho em những kiến thức
về chuyên ngành Quản lý khoa học và công nghệ cũng như cách thức tiến hành
một nghiên cứu khoa học như PGS.TS Vũ Cao Đàm, TS. Trần Văn Hải, PGS.TS
Phạm Ngọc Thanh, TS. Đào Thanh Trường, …
Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn PGS.TS Vũ Cao Đàm, TS. Đào
Thanh Trường vì những ý kiến đóng góp hết sức quí giá cho đề tài nghiên cứu
này.
Tuy nhiên do điều kiện chủ quan và khách quan nên luận văn không thể
tránh khỏi những hạn chế nhất định. Kính mong quý thầy cô giáo, các nhà khoa
học, những người quan tâm đến đề tài cho ý kiến đóng góp để tác giả có thể làm

NCKHGD
Nghiên cứu khoa học giáo dục
6
KQNC
Kết quả nghiên cứu
7
GD&ĐT
Giáo dục và đào tạo
5


6
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Từ trước đến nay, việc đánh giá sáng kiến kinh nghiệm (SKKN) thường
được nhiều cơ sở giáo dục “phó thác” cho các hội đồng đánh giá khoa học của
ngành. Phần lớn các hội đồng này chủ yếu chỉ dựa vào kinh nghiệm nghiên cứu
và lương tri của các thành viên để đưa ra quyết định về kết quả của công trình,
chứ không dựa trên một khung đánh giá cụ thể, chi tiết để tăng mức độ chính
xác của việc đo lường phẩm chất khoa học của sáng kiến kinh nghiệm (SKKN).
Cách làm này tiềm ẩn nhiều bất cập, khiến cho việc đánh giá mang nặng cảm
tính, thiếu chính xác, thậm chí có thể gây ra những tác động tiêu cực
đến công tác đào tạo. Vì thế, yêu cầu cần phải xây dựng các tiêu chí đánh giá
SKKN là rất cấp thiết. Ngoài mục đích bảo đảm tính khách quan, việc xây dựng
các tiêu chí này còn có ý nghĩa rất quan trọng trong dạy học tích cực, cả cho
người dạy lẫn người học.
1.1 Đảm bảo tính khách quan và chính xác trong việc đánh giá SKKN

nên ít nhiều họ sẽ gặp bối rối. Vì thế, khung đánh giá sẽ đóng vai trò quan trọng
giúp người viết định hướng trong quá trình viết SKKN.
1.3 Thống nhất phương pháp khoa học trong đội ngũ giảng viên
Ngay trong cùng một bộ môn, giảng viên có thể có nhiều quan niệm khác
nhau về phương pháp nghiên cứu và về cách thức tiến hành viết SKKN, vì họ
thuộc nhiều chuyên ngành khác nhau, có trình độ học vấn khác nhau, được đào
tào từ nhiều nguồn khác nhau,…Có những sự khác nhau có thể chấp nhận được
(chẳng hạn về các trình bày SKKN, về cách gọi tên từng đề mục của SKKN,…),
nhưng cũng có không ít sự dị biệt cần phải mổ xẻ để đi đến thống nhất để bảo
đảm tính khoa học của công trình nghiên cứu.
Trên nguyên tắc, người giáo viên phải hội đủ một số điều kiện nhất định
mới có thể tham gia vào hội đồng chấm SKKN. Nhưng trên thực tế thì nguyên
tắc ấy không được thực hiện đầy đủ vì nhu cầu đào tạo các cấp ở nước ta ngày
càng gia tăng. Vì thế, việc xây dựng bộ tiêu chí đánh giá thống nhất sẽ là cơ sở

8
để giúp hội đồng khoa học ngành đánh giá một cách chính xác, giúp cho người
viết phát huy được kinh nghiệm của mình và viết SKKN đúng theo yêu cầu.
Tóm lại, bộ tiêu chí đánh giá vừa là một định dạng chung cho các hội đồng
đánh giá, đồng thời là kim chỉ nam cho mọi cán bộ, nhất là cán bộ trẻ, trong hoạt
động nghiên cứu khoa học của ngành.
Trên cơ sở đó, là cán bộ đang công tác tại Sở GD&ĐT tôi chọn đề tài
nghiên cứu “Xây dựng tiêu chí đánh giá các báo cáo sáng kiến kinh nghiệm
trong ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bạc Liêu”.
Đề tài này tác giả mong muốn bước đầu tìm hiểu và đề xuất xây dựng bộ
tiêu chí đánh giá các báo cáo sáng kiến kinh nghiệm trong ngành Giáo dục và
Đào tạo tỉnh Bạc Liêu.
2. Lịch sử nghiên cứu
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đánh giá cán bộ và tiêu chuẩn để đánh giá (ĐG),
xây dựng đội ngũ cán bộ nói chung và đội ngũ lãnh đạo, quản lý nói riêng là một

dõi cán bộ sẽ không được liên tục, hệ thống và sẽ khó khăn cho việc đề bạt, bổ
nhiệm hoặc điều động, luân chuyển cán bộ. Nhưng ĐG đúng cán bộ là một công
việc hết sức khó khăn, phức tạp. Trong quá trình ĐG cán bộ, có nhiều tác động
khách quan ảnh hưởng đến việc ĐG cán bộ.
Thực tiễn đất nước ta đã trải qua một quá trình chiến tranh lâu dài, gian
khổ chống xâm lược. Cán bộ và nhân dân ta phải chịu đựng nhiều khó khăn,
thiếu thốn cả vật chất và tinh thần. Đến nay, thời thế cách mạng đã chuyển sang
giai đoạn mới - hoà bình và phát triển, đòi hỏi người cán bộ phải có ý chí nghị
lực và tinh thần mới, đấu tranh với kẻ thù nghèo nàn, lạc hậu. Trong bối cảnh
đan xen giữa yếu tố tích cực và tiêu cực, vấn đề phải có thời gian và tinh thần
kiên quyết, một nghị lực mới, phát huy bản chất của người cộng sản - không bị
cám dỗ bởi những tiêu cực và vững vàng vượt qua được quá trình chọn lọc, thử
thách để đảm bảo được tiêu chuẩn người cán bộ lãnh đạo, quản lý đúng với yêu
cầu mới hiện nay. Làm thế nào để đánh giá đúng được cán bộ một cách chân
thực, khách quan và đúng bản chất người cán bộ không phải dễ. Thưc tiễn hoạt
động đấu tranh cách mạng của Đảng đã cho thấy việc cần.
Nghiên cứu về công tác đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học đã có nhiều
tác giả trong và ngoài nước bàn tới:

10
Trên thế giới, chúng ta có thể kể ra quan điểm của một số tác giả tiêu biểu như:
P. Fasella, trong cuốn “Đánh giá các chương trình nghiên cứu và triển khai
của Cộng đồng Châu Âu” đã đề ra một số nguyên tắc chung của việc đánh giá
R&D là: Quá trình đánh giá cần tiến hành trong mối liên hệ đến việc hình thành
và triển khai các giai đoạn của nghiên cứu; có thể kết hợp đánh giá trong và đánh
giá ngoài. Đánh giá trong thường được thực hiện bởi các nhà quản lý dự án, tham
gia trong quá trình thực hiện đề tài. Còn đánh giá ngoài là đánh giá của các chuyên
gia bên ngoài không tham gia vào chương trình nghiên cứu.
Tuy nhiên theo P. Fasella, việc đánh giá nên được tiến hành với các chuyên
gia ngoài, những người không tham gia vào thực hiện chương trình đó. Tác giả

Trong bài viết “Đánh giá định lượng kết quả nghiên cứu khoa học” của GS.
Hồ Tú Bảo đăng trên tạp chí “Hoạt động khoa học”, số 7/2010 đã giới thiệu khái
niệm và một số đặc điểm cơ bản của các độ đo tiêu biểu dùng để đánh giá định
lượng các ấn phẩm nghiên cứu khoa học, gồm chỉ số trích dẫn, hệ số ảnh hưởng và
chỉ số H.
Vũ Cao Đàm trong bài “Đánh giá nghiên cứu khoa học như thế nào” đăng
trên trang web khoahoc.baodatviet.vn đã nêu rõ đánh giá nghiên cứu khoa học
nên được sử dụng trong một số trường hợp cụ thể, phân loại đánh giá nghiên cứu
khoa học và đề nghị xây dựng một hệ thống đánh giá khoa học với một số cách
tiếp cận và tiêu chí phù hợp để đánh giá khách quan các công trình khoa học.
Có thể thấy các công trình nghiên cứu kể trên đã được tiếp cận ở những
khía cạnh khác nhau của vấn đề đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học như
phương pháp luận cho việc đánh giá: tìm hiểu thực trạng của việc đánh giá và
nghiệm thu kết quả nghiên cứu, hệ thống tiêu chí để phục vụ cho việc đánh giá
đúng chất lượng các công trình nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên, tất cả các công
trình nghiên cứu trên mới chỉ dừng lại ở những cách tiếp đánh giá kết quả
nghiên cứu khoa học nói chung, chứ chưa đề cập đến khía cạnh xây dựng tiêu
chí đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học xã hội. Mặt khác, những nghiên cứu
trên được tiến hành và triển khai ở phạm vi về nội dung, thời gian và không gian
khác nhau. Và cũng có một số đánh giá, hướng dẫn về sáng kiến kinh nghiệm
như:

12
- Bài viết “Đánh giá sáng kiến kinh nghiệm cần một thước đo” của TS. Vũ
Quốc Long trường bồi dưỡng cán bộ giáo dục Hà Nội.
- Các hướng dẫn sáng kiến kinh nghiệm, các tiêu chuẩn đánh giá sáng kiến
kinh nghiệm ở các cơ sở GD&ĐT trong cả nước.
- Tài liệu tập huấn cán bộ về tổ chức hoạt động nghiên cứu khoa học sư
phạm ứng dụng của Chương trình phát triển giáo dục trung học – Bộ GD&ĐT.
3. Mục tiêu nghiên cứu:

Sáng kiến kinh nghiệm thực chất là công trình khoa học, các nhà quản lý
giáo dục có thể dựa trên tiêu chí đánh giá công trình khoa học để đánh giá sáng
kiến kinh nghiệm.
8. Phƣơng pháp nghiên cứu:
Để thực hiện đề tài này, luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận, luận
thuyết của Vũ Cao Đàm trong cuốn “Đánh giá nghiên cứu khoa học” – NXB
KH&KT, năm 2007, cuốn “Phương pháp luận nghiên cứu khoa học” – NXB Giáo
dục, năm 2007 cũng như các tiêu chí, quan điểm đánh giá sáng kiến kinh nghiệm
trong ngành Giáo dục và Đào tạo, hay trong các trường đại học, cao đẳng khác và
các tổ chức khoa học trong và quốc tế. Các chủ trương chính sách của Việt Nam
về đánh giá nghiên cứu khoa học.
Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
8.1. Phƣơng pháp nghiên cứu tài liệu
Nội dung 1: Các bước triển khai một đề tài nghiên cứu khoa học
- Những nguyên tắc căn bản để giúp người bắt đầu làm công tác nghiên cứu
có thể lựa chọn một hướng đi rõ ràng, đặc biệt là vấn đề tìm người hướng dẫn
khoa học và lựa chọn đề tài.
- Cách lập một kế hoạch nghiên cứu vạch ra từng bước đi và công việc cụ
thể, để có định hướng tốt hơn trong quá trình nghiên cứu.
Nội dung 2: Phương pháp tìm kiếm tài liệu tham khảo khoa học
- Cách chuẩn bị cho công tác nghiên cứu?
- Đặc điểm và ưu nhược điểm của mỗi loại tài nguyên, tài liệu khoa học?
- Lập chiến lược tìm kiếm, sử dụng tốt các công cụ để tìm được tài liệu
phục vụ cho nghiên cứu?

14
- Đánh giá và chọn lọc những tài liệu có giá trị tham khảo khoa học cho đề
tài?
Nội dung 3: Khai thác thông tin từ tài liệu khoa học
- Cách đọc và khai thác các tài liệu khoa học một cách hiệu quả?

và thông tin định lượng. Đối với thông tin định tính chúng tôi tiến hành xử lý
logic, nghĩa là đưa ra những phán đoán về bản chất của các sự kiện, đồng thời
thể hiện những liên hệ logic của các sự kiện đang được xem xét. Còn đối với
thông tin định lượng chúng tôi xử lý theo phương pháp toán học bằng bảng số
liệu, biểu đồ.
8.3. Phương pháp phỏng vấn sâu
Với mục đích nhằm thu thập được những thông tin sâu hơn liên quan đến vấn
đề nghiên cứu, chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn một số cán bộ quản lý của trường,
chuyên gia và giảng viên với tư cách là tác giả các SKKN, cụ thể như sau:
- Phỏng vấn 02 cán bộ của trường THPT phụ trách mảng nghiên cứu khoa
học.
- Phỏng vấn sâu 02 giáo viên là tác giả các đề tài nghiên cứu khoa học
thuộc các cấp như cấp cơ sở; cấp trường, cấp Bộ.
- Phỏng vấn 06 cán bộ giáo viên tham gia chấm đề tài SKKN các cấp.
9. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận
văn được kết cấu thành 3 chương:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận cuả tiêu chí đánh giá các báo cáo sáng kiến
kinh nghiệm
Chƣơng 2: Thực trạng đánh giá các sáng kiến kinh nghiệm trong
ngành giáo dục và đào tạo tỉnh Bạc Liêu
Chƣơng 3: Tiêu chí đánh giá các sáng kiên kinh nghiệm trong ngành
giáo dục và đào tạo tỉnh Bạc Liêu

16
PHẦN NỘI DUNG
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ

học bao gồm nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng”. [10, tr.1]
Theo Vũ Cao Đàm: nghiên cứu khoa học “là một hoạt động xã hội, hướng
vào việc tìm kiếm những điều mà khoa học chưa biết: hoặc là phát hiện bản chất
sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới; hoặc là sáng tạo phương pháp
mới và phương tiện kỹ thuật mới để cải tạo thế giới”. [8, tr.20]. Về mặt thao tác,
nghiên cứu khoa học là quá trình hình thành và chứng minh luận điểm khoa học
về một sự vật hoặc hiện tượng cần khám phá”. [8, tr.35].
Nghiên cứu khoa học theo quan điểm của Dương Thiệu Tống: là một hoạt
động tìm hiểu có tính hệ thống đạt đến sự hiểu biết được kiểm chứng. Nó là một
hoạt động nỗ lực có chủ đích, có tổ chức nhằm thu thập những thông tin, xem
xét kỹ, phân tích xếp đặt các các dữ kiện lại với nhau rồi rồi đánh giá các thông
tin ấy bằng con đường qui nạp và diễn dịch.
Nghiên cứu khoa học còn được hiểu là sự tìm tòi, khám phá bản chất các
sự vật (tự nhiên, xã hội, con người), nhằm thỏa mãn nhu cầu nhận thức, đồng
thời sáng tạo các giải pháp tác động trở lại sự vật, biến đổi sự vật theo mục đích
sử dụng.
Nghiên cứu khoa học cũng có thể được hiểu là một hoạt động xã hội, với
chức năng tìm kiếm những điều mà khoa học chưa biết; hoặc là phát hiện bản
chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới; hoặc là sáng tạo phương
pháp mới và phương tiện kỹ thuật mới để cải tạo thế giới.
Tóm lại, có nhiều cách hiểu khác nhau về nghiên cứu khoa học, tuy nhiên
trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi hiểu nghiên cứu khoa học là một hoạt
động tìm kiếm, xem xét, điều tra hoặc thử nghiệm. Dựa trên những số liệu, tài
liệu, kiến thức,…đạt được từ các thí nghiệm nghiên cứu khoa học để phát hiện
ra cái mới về bản chất sự vật, về thế giới tự nhiên và xã hội, và để sáng tạo
phương pháp và phương tiện kỹ thuật mới cao hơn, giá trị hơn nhằm ứng dụng
vào thực tiễn phục vụ mục đích của con người.
Với cách hiểu trên về nghiên cứu khoa học, có thể thấy nghiên cứu khoa
học là một loại hoạt động đặc biệt. Nó đặc biệt ở chỗ: công việc tìm kiếm những


phải tìm thấy những sự kiện có liên quan đến đề tài. Bằng các phương pháp:

19
điều tra, quan sát, đo đạc, làm thí nghiệm để có những tài liệu, số liệu cần thiết
cho công việc phục vụ cho một mục đích nào đó tiếp theo. Những việc làm ấy
được gọi là thu thập dữ liệu.
Dữ liệu là sự kiện được thu gọn lại trong các hình ảnh, con số, văn bản
vì vậy nếu việc thu thập dữ liệu không tốt (không thật, không chính xác, không
đa dạng ) thì những kết quả của NCKH sẽ không trung thực, sai lệch với thực
tiễn và tất nhiên sẽ không trở thành khoa học.
(2) Sắp xếp dữ liệu:
Qua những hoạt động nghiên cứu ban đầu, ta thu được rất nhiều dữ liệu.
Cần sắp xếp chúng lại theo hệ thống, thứ, loại, thậm chí có thể sàng lọc bớt
những dữ liệu không cần thiết hoặc quyết định bổ sung thêm dữ liệu mới để
công việc cuối cùng được đơn giản hơn.
(3) Xử lí dữ liệu:
Ðây là công việc quan trọng nhất, giá trị nhất của NCKH. Một lần nữa,
nhà nghiên cứu phải phân tích các dữ liệu để có thể đoán nhận, khái quát hóa
thành kết luận. Nếu dữ liệu là những con số, cần xử lí bằng thống kê, rút ra kết
quả từ các đại lượng tính được. Tư duy khoa học bắt từ đây.
(4) Khái quát hóa toàn bộ công trình, rút ra kết luận chung cho đề tài
nghiên cứu
1.1.2. Các đặc trƣng của nghiên cứu khoa học giáo dục:
Một đề tài nghiên cứu khoa học nói chung phải bao gồm các đặc điểm
như sau:
- Tính hướng mục đích: NCKH là phát hiện khám phá thế giới, phát hiện
những qui luật, tri thức mới và vận dụng những hiểu biết qui luật tri thức ấy và
cải tạo thế giới.
- Tính mới mẽ: NCKH là quá trình thâm nhập vào thế giới những sự vật
và hiện tượng mà con người chưa biết. Vì vậy quá trình nghiên cứu khoa học

giáo dục, Tìm ra mối quan hệ giữa hai hay nhiều biến và quan hệ nguyên nhân
và hệ quả.
(c) Nghiên cứu KHGD nhằm xây dựng những lý thuyết đúng đắn hoặc
phát hiện ra những qui luật. Cong việc này đi từ nghiên cứu trên tập mẫu rồi
khái quát hóa qui luật.

21
(d) Nghiên cứu KHGD phải nắm vững những thông tin đã có liên quan
đến vấn đề cần nghiên cứu. Phải nắm vững hệ thống các khái niệm dự định sử
dụng và phải có một phương pháp luận đúng đắn.
(e) Nghiên cứu KHGD là phải quan sát mô tả chính xác các sự kiện.
Người nghiên cứu phải tạo ra dụng cụ thu thập, đo đạc các số liệu và phân tích
xử lý số liệu.
(f) Nghiên cứu KHGD là một quá trình có hệ thống , logíc và có mục
đích.
1.1.3. Đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học
a. Đánh giá
Khái niệm “Đánh giá” tương đương với khái niệm “Evaluer” trong tiếng
Pháp và “Evaluate” trong tiếng Anh:
Từ điển Larousse (2002) giải thích “Evaluer” là “Déterminer la valeur, le
prix, l’importance de”, tạm dịch là “Xác định giá trị, giá cả, tầm quan trọng”. Từ
điển Web Dictionary of Cybernetics and System định nghĩa “Đánh giá là sự sử
dụng phương pháp và thủ tục khoa học để thu nhận và hạn chế thông tin nhằm
mục đích so sánh một sự kiện thực tế hoặc một sự kiện trong giả thuyết với mục
tiêu và giá trị chuẩn”
Từ điển Cobuild, 2001 giải thích “Evaluate” là “Khi bạn muốn đánh giá
một người hoặc một sự vật náo đó, bạn cần xem xét chúng để phán xét về
chúng, chẳng hạn, chúng tốt hoặc xấu như thế nào”.
Trong tiếng Việt: “Đánh giá” được hiểu theo một số nghĩa như sau:
+ Xem xét một công việc sau khi đã hoàn tất, xem xét mức độ đạt yêu cầu

chất của sự vật – đối tượng nghiên cứu”. [9, tr.89].
KQNC được thể hiện trên những hình thức rất khác nhau: Có thể là những
thông tin về một quy luật bản chất của sự vật được phát hiện từ trong tự nhiên,
xã hội, tư duy; có thể là những giải pháp trong công nghệ, trong tổ chức và quản
lý; có thể là những vật mẫu với những thông số có giá trị khả thi về mặt kỹ
thuật,…
Bản chất của các kết quả nghiên cứu là những thông tin, do đó chúng ta
chỉ có thể tiếp xúc với các kết quả của nghiên cứu khoa học thông qua các loại
vật mang khác nhau như: các báo cáo khoa học; băng ghi hình, băng ghi âm; bản

23
mô tả quy trình, công thức, kỹ năng, bí quyết,…; vật mẫu (công nghệ mẫu, sản
phẩm mẫu,…).
Như vậy, việc đánh giá kết quả nghiên cứu trên thực tế là đánh giá những
thông tin chứa đựng trong các loại vật mang như đã nói ở trên. Chúng ta cũng
cần phân biệt KQNC với “Hiệu quả nghiên cứu”. Hiệu quả nghiên cứu được
hiểu là “lợi ích thu được sau khi áp dụng kết quả nghiên cứu khoa học”. Như
vậy, hiệu quả nghiên cứu chỉ xác định được sau khi áp dụng KQNC vào thực
tiễn. Do đó, đánh giá hiệu quả nghiên cứu là công việc được thực hiện sau công
việc đánh giá KQNC. Trên thực tế, không phải bất cứ KQNC nào cũng cho thấy
ngay được hiệu quả, đặc biệt là những KQNC của khoa học xã hội. Do đó, đánh
giá hiệu quả nghiên cứu cần phải được tiến hành theo những lộ trình nhất định,
với những tiêu chí và phương pháp đánh giá nhất định. Trong khuôn khổ luận
văn này, chúng tôi chỉ dừng lại ở việc xây dựng những tiêu chí đánh giá kết quả
nghiên cứu khoa học ở giai đoạn đánh giá về số lượng, chất lượng sản phẩm
nghiên cứu của đề tài để đi quyết định nghiệm thu và xác định mức độ đáp ứng
của kết quả nghiên cứu so với mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra.
c. Đánh giá KQNC
Từ việc phân tích khái niệm đánh giá, kết quả nghiên cứu, chúng tôi hiểu:
Đánh giá KQNC: là việc xem xét về mặt số lượng và chất lượng các kết quả


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status