ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
MAI THỊ THANH ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO HÒA HẢO
ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH
THẦN Ở TỈNH ĐỒNG THÁP HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Hà Nội - 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN MAI THỊ THANH
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 8
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 9
7. Kết cấu của đề tài 9
Chương 1: PHẬT GIÁO HÒA HẢO Ở TỈNH ĐỒNG THÁP HIỆN NAY 10
1.1 Khái lược sự hình thành và phát triển của Phật giáo Hòa Hảo 10
1.1.1 Hoàn cảnh ra đời Phật giáo Hòa Hảo 10
1.1.2 Qúa trình tồn tại và phát triển của Phật giáo Hòa Hảo 18
1.2 Giáo lý cơ bản của Phật giáo Hòa Hảo 23
1.2.1 Tư tưởng về Học Phật 24
1.2.2 Tư tưởng về Tu Nhân 28
1.3. Sinh hoạt tôn giáo của tín đồ và cơ cấu tổ chức của Phật giáo Hòa
Hảo ở tỉnh Đồng Tháp hiện nay 36
Chương 2: ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO HÒA HẢO ĐỐI VỚI ĐỜI
SỐNG TÂM LINH VÀ ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG Ở TỈNH ĐỒNG THÁP
HIỆN NAY 44
2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và đời sống văn hóa tinh thần
của tỉnh Đồng Tháp 44
2.2 Phật giáo Hòa Hảo với đời sống tâm linh và đạo đức, lối sống ở tỉnh
Đồng Tháp hiện nay 52
2.2.1 Ảnh hưởng của Phật giáo Hòa Hảo đối với đời sống tâm linh ở tỉnh
Đồng Tháp hiện nay 53
2
2.2.2 Ảnh hưởng của Phật giáo Hòa Hảo đối với đạo đức, lối sống ở
Đồng Tháp hiện nay 60
2.3. Một số giải pháp nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh
đời sống chính trị, văn hóa, tinh thần của xã hội. Tín ngưỡng và tôn giáo gắn
bó lâu dài với dân tộc và phục vụ lợi ích dân tộc trong suốt chiều dài lịch sử
dựng nước và giữ nước. Mục đích của tôn giáo khá phù hợp với mục đích xây
dựng xã hội mới ở nước ta hiên nay. Những giá trị đạo đức của tôn giáo tương
đồng với đạo đức con người Việt Nam, cộng đồng các tôn giáo luôn đoàn kết,
đồng hành và phục vụ lợi ích quốc gia, dân tộc theo tinh thần “sống tốt đời
đẹp đạo”, “đạo pháp – dân tộc – chủ nghĩa xã hội”, “nước vinh đạo sáng”, góp
phần củng cố truyền thống dân tộc, đạo đức gia đình đó là “uống nước nhớ
nguồn”; “hiếu kính cha mẹ” và giúp đỡ người nghèo khó… Nhận thức vị trí,
vai trò của tôn giáo trong giai đoạn hiện nay, Đảng ta đã khẳng định “đạo đức
tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới”[17, tr. 45
– 46] và “tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân,
đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
nước ta. Đồng bào các dân tộc tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết dân
tộc”[17, tr. 48].
Tín ngưỡng, tôn giáo là một nhu cầu không thể thiếu được trong đời
sống tâm linh của một bộ phận nhân dân. Nó gắn chặt với đời sống văn hóa
tinh thần của nhiều dân tộc trong quá trình tồn tại và phát triển theo cả hai
chiều tích cực và tiêu cực. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, nhu cầu tín
ngưỡng tôn giáo của nhân dân có xu hướng gia tăng, hoạt động của các tổ
chức tôn giáo tiếp tục diễn ra phức tạp, các thế lực thù địch trong và ngoài
4
nước luôn lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo để kích động, chống phá Nhà nước
Việt Nam. Do đó, Đảng và Nhà nước ta đã có những chủ trương chính sách
về vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo được thể hiện trong văn kiện hội nghị lần thứ
năm Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản khóa VIII; nghị quyết trung
nhiên đa dạng, ưu đãi và qua quá trình lao động, người dân Đồng Tháp đã tích
lũy được nhiều kinh nghiệm trong sản xuất và qua đó tạo nên những quan hệ
xã hội mang tính cộng đồng. Qua quá trình lao động sản xuất, đấu tranh với
thiên nhiên và xã hội, bảo vệ cuộc sống, duy trì sự sinh tồn của mình thì các
phong tục, tập quán được hình thành và phát triển, bén rễ sâu trong đời sống
tinh thần của họ. Bên cạnh đó tín ngưỡng, tôn giáo cũng giữ vai trò khá quan
trọng trong đời sống văn hóa tinh thần của người dân, nó giúp họ vượt qua
mọi khó khăn trong cuộc sống, hướng cho họ đạt tới cuộc sống tốt đẹp, mở
rộng lòng từ bi giúp đỡ tất cả mọi người. Đồng Tháp là tỉnh có nhiều tôn giáo
như Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo (PGHH) và
đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa…Sự ảnh hưởng của tôn giáo đối
với đời sống văn hóa tinh thần là không thể phủ nhận. Tuy nhiên, tác giả
không thể nghiên cứu hết tất cả các tôn giáo có mặt ở tỉnh Đồng Tháp mà chỉ
chọn PGHH để nghiên cứu, với tên đề tài: “Ảnh hưởng của Phật giáo Hòa
Hảo đối với đời sống văn hóa tinh thần ở tỉnh Đồng Tháp hiện nay” để làm đề
tài luận văn của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
So với các tôn giáo khác thì sách hoặc các công trình nghiên cứu về
PGHH khá ít. Ngoài một số luận văn, luận án và bài báo viết riêng về PGHH
thì phần lớn là những công trình lồng ghép. Dưới đây là một số công trình
tiêu biểu.
- Sách đã xuất bản gồm có:
Nguyễn Văn Hầu (1968), Nhận thức Phật giáo Hòa Hảo, Nxb Hương
Sen. Trình bày nguồn gốc ra đơi của PGHH, quá trình truyền đạo của Huỳnh
Phú Sổ, phân tích một số tư tưởng trong giáo lí PGHH.
Đặng Nghiêm Vạn (1998), Về tín ngưỡng tôn giáo Việt Nam hiên nay,
Nxb Khoa học xã hội. Trong đó trình bày một số vấn đề về lý luận và thực trạng
7
- Một số luận văn thạc sỹ, luận án tiến sỹ cũng đề cập tới vấn đề Phật
giáo Hòa Hảo gồm có:
Bùi Thị Thu Hà(1997), Đảng bộ An Giang vận động quần chúng tín đồ
Hoà Hảo tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước từ 1954-1975, luận văn
Thạc sỹ.
Nguyễn Hoàng Sa (1999), Đạo Hòa Hảo và ảnh hưởng của nó ở Đồng
bằng sông Cửu Long, Luận án tiến sỹ triết học. Nghiên cứu dưới góc độ triết
học, luận án xem xét ý thức tôn giáo Hòa Hảo là sự phản ánh tồn tại xã hội.
Tìm hiểu vai trò và ảnh hưởng của nó trong đời sống tinh thần xã hội ở
Đồng bằng Sông Cửu Long, làm cơ sở vạch ra định hướng, giải pháp phát
huy tính tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của tôn giáo này.
Lâm Quang Láng (2007), Phật giáo Hòa Hảo – hệ thống giáo hội và các tổ
chức chính trị, quân sự thời kỳ 1945 – 1975, Tp. HCM, luận án tiến sỹ. Nghiên cứu
một cách có hệ thống và toàn diện về hệ thống giáo hội và các tổ chức chính trị, vũ
trang của Hòa Hảo. Làm rõ đặc điểm xã hội, nguyên nhân ra đời hệ thống hệ thống
giáo hội và các tổ chức chính trị, quân sự của PGHH. Qua đó rút ra những bài học
lịch sử đóng góp cho sự phất triển đúng đắn của PGHH trong tương lai.
- Các bài báo gồm có:
Nguyễn Thị Bảy (2009), Về tính đa nguyên tôn giáo tín ngưỡng ở Miền
tây Nam Bộ, nghiên cứu Đông Nam Á, số 3.
Trần Tiến Thành (2009), Tố chất cứu thế trong giáo lí Phật giáo Hòa
Hảo, Nghiên cứu tôn giáo, số 12.
Nguyễn Hữu Hiệp (2010), Căn cốt giáo lí của Phật giáo Hòa Hảo: “học
phật tu nhân” hay “tu nhân học phật”, Nghiên cứu tôn giáo, số 3.
Các công trình nêu trên đã trình bày được nguồn gốc ra đời, giáo lí và
thân thế của Huỳnh Phú Sổ. Một số công trình nghiên cứu chuyên sâu về
PGHH của Nguyễn Văn Hầu, Nguyễn Hoàng Sa, Lâm Quang Láng…mới chỉ 9
Đề tài được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư
tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về vấn đề tín
ngưỡng, tôn giáo.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp của phép biện chứng duy vật và các
phương pháp như logic và lịch sử, phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch,
so sánh, khái quát hóa, điền dã, khảo sát… nhằm làm rõ những nội dung cơ bản
ảnh hưởng của Phật giáo Hòa Hảo đến đời sống văn hóa tinh thần ở tỉnh Đồng
Tháp.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho sinh viên, cho những người
nghiên cứu về đời sống tôn giáo của nhân dân tỉnh Đồng Tháp. Đồng thời
giúp các cơ quan quản lý nắm rõ tình hình, nhu cầu và ảnh hưởng của Phật
giáo Hòa Hảo đến đời sống tinh thần của nhân dân. Trên cơ sở đó có những
giải pháp thích hợp nhằm hướng nhân dân sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo lành
mạnh, theo đúng hiến pháp và pháp luật.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
đề tài gồm 2 chương 6 tiết.
ngày hàng giờ gây cho người lao động những nỗi thống khổ cực kì to lớn,
những đau thương thật là khủng khiếp, nhiều gấp nghìn lần so với những biến
cố phi thường như chiến tranh, động đất… Đó là nguồn gốc sâu xa nhất của
tôn giáo. Người cũng cho rằng, các thế lực mù quáng ấy chính là: sự phá sản
11
đột ngột, bất ngờ. Bên cạnh đó, tôn giáo ra đời còn do trình độ nhận thức của
con người còn có hạn, có những cái con người biết và chưa biết nên nảy sinh
tâm lí sợ hãi dẫn đến việc cầu xin vào sự che chở, giúp đỡ của Thần, Thánh,
Tiên, Phật Tôn giáo là một hiện tượng xã hội phức tạp, xuất hiện bởi
nguyên nhân xã hội, nguyên nhân nhận thức và tâm lý. Đó cũng là những điều
kiện cần và đủ cho một tôn giáo xuất hiện.
PGHH ra đời cũng không nằm ngoài quy luật chung đó và do là tôn
giáo nội sinh nên nó còn mang những nét đặc trưng của những điều kiện tự
nhiên, chính trị - xã hội và văn hóa của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long.
- Điều kiện kinh tế - xã hội
Cũng như các tôn giáo khác, PGHH ra đời cũng dựa trên những tiền đề
kinh tế, xã hội và tư tưởng nhất định. Trong những năm đầu của thế kỷ XX,
thực dân pháp đẩy mạnh cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai với một loạt
chính sách kinh tế nhằm vơ vét của cải vật chất, nhất là trong lĩnh vực nông
nghiệp. Sau khi đã xâm lược và ổn định được tình hình, chúng chia Việt Nam
làm ba kỳ với ba chế độ khác nhau để dễ bề cai trị. Tổ chức quản lý hệ thống
chặt chẽ, khai thác triệt để những nguồn lợi tức từ tài nguyên thiên nhiên,
nông nghiệp, thương nghiệp và con người Việt Nam. Thay đổi chính sách
phân phối ruộng đất, chuyển từ công điền sang tư điền, với chế độ đại điền
chủ, đại đồn điền làm lợi cho những kẻ giàu có. Sự thay đổi này phục vụ cho
vài phần trăm dân số, còn hơn 90% nông dân và công nhân làm thuê trong các
cuộc khởi nghĩa điển hình như của Trương Định (1859 – 1867), của Nguyễn
Trung Trực (1861 – 1868), của Phan Văn Đạt và Lê Cao Dũng (1861), của
Nguyễn Hữu Huân (1862), của Âu Dương Luân và Phan Công Tòng (1862),
của Võ Duy Dương (1886)…Sang đầu thế kỷ XX phong trào chống Pháp lại
thêm những hình thức mới mà tiêu biểu là Thiên địa hội của Phan Xích Long
(1913 – 1916), phong trào Đông Du và Duy Tân dưới sự lãnh đạo của Phan
Bội Châu và Phan Chu Trinh…Song do hạn chế về mặt giai cấp và chưa có
một chính đảng lãnh đạo nên các cuộc đấu tranh của nhân dân ta đều bị thực
13
dân Pháp đàn áp đẫm máu. Như vậy, chính sự thất bại, bế tắc trong cuộc sống
và trong đấu tranh đã thúc đẩy một bộ phận quần chúng tìm đến với tôn giáo
để được an ủi, che chở vì tôn giáo là một hiện tượng xã hội phản ánh sự bất
lực, bế tắc của con người trước tự nhiên và xã hội, điều này C. Mác đã khẳng
định: “sự nghèo nàn của tôn giáo vừa là biểu hiện của sự nghèo nàn hiện thực,
vừa là sự phản kháng chống sự nghèo nàn hiện thực ấy. Tôn giáo là tiếng thở
dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng
giống như nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần. Tôn giáo là
thuốc phiện của nhân dân” [ 48, tr. 570]
- Tiền đề tư tưởng
PGHH ra đời còn do sự khủng hoảng, suy thoái của các tôn giáo. Khi
PGHH chưa ra đời thì phần lớn nhân dân theo đạo Phật, đạo Nho, đạo Công
Giáo, đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa… nhưng thời kỳ này các
tôn giáo ấy đều mất uy tín. Đạo Công Giáo dưới con mắt người dân Nam Bộ
gắn liền với sự xâm lược của thực dân Pháp và sự mất nước nên bị nghi ngờ
và chán ghét. Đạo Nho là một học thuyết đạo đức, chính trị chỉ phù hợp với
chế độ quân chủ nông nghiệp. Đạo Phật Tiểu thừa với phương châm “tự độ,
Trong lúc cuộc khởi nghĩa Láng Linh của Trần Văn Thành sắp nổ ra thì
ở Thất Sơn dân chúng lại xôn xao vì nghe tin đồn có một vị Phật giáng thế
truyền đạo cứu đời, đó chính là Đức bổn sư Ngô Lợi (1831 – 1890) và đạo do
ông truyền dạy là đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa. Tư tưởng chủ yếu của đạo Tứ Ân
Hiếu Nghĩa vẫn là “học phật tu nhân” và đặc biệt là thực hiện tứ ân. Học Phật
là học những điều Phật dạy, làm những điều Phật khuyên và muốn làm được
điều đó còn phải biết niệm danh hiệu phật A - di – đà. Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa
quan niệm con người sống phải đạt nhân, phải là người hiếu nghĩa, muốn vậy
phải thực hiện tứ ân mà thực hành tứ ân là tu nhân. Ngoài ra đạo Tứ Ân Hiếu
Nghĩa còn dạy cho tín đồ của mình ấn khuyết, thần chú, luyện linh – khí –
thần. Người Tứ Ân Hiếu Nghĩa có hệ thống chùa chiền khá quy mô, tuy nhiên
đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa được duy trì mang tính hạn chế ở xã Ba Chúc, huyện
15
Tri Tôn, tỉnh An Giang. Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa ra đời sau đã kế thừa những
tinh hoa của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, noi theo tinh thần của tôn giáo này,
đồng thời phát triển nhiều nội dung mới trong quan niệm đạo lý, nghi thức
hành đạo, đối tượng thờ cúng… Như vậy, có thể nói “ở chừng mực nào đó
đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa có quan hệ nguồn gốc với Bửu Sơn Kỳ Hương” [40,
tr. 54]. PGHH ra đời là sự kế thừa của Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương và Đạo Tứ
Ân Hiếu Nghĩa, giáo lý dựa trên truyền thống của các tôn giáo dân tộc và Đạo
Phật được phổ thông hóa. Triết lý mộc mạc, lễ thức đơn giản thích hợp với
tâm lý và tình cảm của người nông dân Đồng bằng Sông Cửu Long.
PGHH ra đời còn do ảnh hưởng bởi tín ngưỡng dân gian Nam Bộ. Đó là
tín ngưỡng thờ cúng các loại thần, các vị tổ, tập tục thờ các loài vật, thờ Bà
Chúa, thờ Quan Ông hay là những tập tục cúng lễ trong nông nghiệp và các lễ
hội dân gian. Tất cả điều đó tạo nên một không gian tôn giáo độc đáo. Bên
Người sáng lập ra đạo Hòa Hảo là giáo chủ Huỳnh Phú Sổ. Ông sinh
năm 1920 tại làng Hòa Hảo, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc. Sinh ra trong một
gia đình trung lưu và có uy tín với nhân dân địa phương. Thuở nhỏ, Huỳnh Phú
Sổ đau ốm liên miên và không một lương y nào chữa được. Cuối cùng ông
Huỳnh Công Bộ bèn gửi ông đến núi Trà Sư, ở đó có ông đạo Xom tục danh là
Lê Hồng Nhật là một tu sỹ nổi tiếng giỏi pháp thuật, đã từng chữa nhiều bệnh
bằng bùa ngải để hy vọng Huỳnh Phú Sổ có thể khỏi bệnh. Trong thời gian ở
đây, ông Huỳnh Phú Sổ đã học được nghề y học dân tộc, học được nhiều thuyết
pháp, kinh kệ của đạo Tứ Ân Hiếu nghĩa và Bửu Sơn Kỳ Hương. Đến năm
1937, Huỳnh Phú Sổ trở về quê khi mà bệnh dịch, thiên tai đang hoành hành,
trước tình hình đó ông đã chữa trị cho dân và chữa được những căn bệnh hiểm
nghèo với phương pháp đơn giản, chỉ bằng lá cây, nước lã, giấy vàng.Song
song với việc chữa bệnh thì ông cũng thuyết pháp cho người bệnh nghe về đạo
lý bằng những ngôn từ cao siêu làm cho dân chúng hết sức ngạc nhiên. Huỳnh
Phú Sổ thuyết giảng cả ngày lẫn đêm mà không biết mệt mỏi. Ngoài bệnh nhân
đến chữa trị, còn có những người đến nghe đạo lý xin thơ bài. Trong những lời
17
thuyết giáo có ẩn ý nội dung tiên tri thời cuộc, thức tỉnh lòng người ăn năn cải
hóa và kêu gọi con người làm điều thiện tránh điều ác.
Năm 1939, nhận thấy thời cơ đã đến, ngày 18/5/1939 Huỳnh Phú Sổ
chính thức mở đạo để dẫn dắt người đời tu:
“Ngày nay Điên mở Đạo lành
Khắp trong lê thứ được rành đường tu”[18, tr. 31]
Để người dân hiểu được đạo của mình thì Ông đã dùng nhiều cách
khác nhau, khi thì giả điên giả khùng, giả đui mù, giả làm người tàn tật, thậm
chí giả làm con gái… và đi nhiều nơi để truyền đạo:
huyền bí cảnh tiên cũng không đem lại an lạc cho người dân, Phật giáo được
xem là một tôn giáo của dân tộc bị thực dân chèn ép nhiều bề, mặc dù chấn
hưng nhưng vẫn chưa phát huy được vai trò của mình trong công việc hộ quốc
an dân, đạo Thiên Chúa thì quá xa lạ với người dân. Cộng với việc đói kém,
bệnh dịch hoành hành thì tư tưởng của ông Huỳnh Phú Sổ đã đáp ứng được sự
bức xúc của đa số người dân miền Tây Nam Bộ bấy giờ.
Như vậy, với không gian sinh tồn ưu đãi của thiên nhiên, đồng ruộng
mênh mông nhiều sông rạch, người dân Nam Bộ lại chung sống với nhiều dân
tộc khác nhau như người Chăm, người Hoa, người Khơ Me… nên đã tiếp thu
nhiều yếu tố của các nền văn hóa khác nhau. Do đó, người dân Tây Nam Bộ
có một bản sắc độc đáo về cá tính. Họ có tư duy mở, phóng khoáng, chân thật,
thoải mái, bộc trực, yêu thiên nhiên, sống tình cảm, đạo nghĩa…với những cá
tính đó đã góp phần tạo nên nét riêng trong việc hình thành các Đạo giáo ở
Nam Bộ nói chung, trong đó có PGHH nói riêng.
1.1.2 Qúa trình tồn tại và phát triển của Phật giáo Hòa Hảo
Sau khi chọn ngày 18 tháng 5 năm 1939 làm ngày khai đạo. Huỳnh Phú
Sổ tiếp tục chữa bệnh và thuyết giảng, tuy đã gây được niềm tin ở một số
người nhưng chưa có pháp môn tu hành là điều mà những người tu hành cần
phải có, để nương theo đó mà tu học. Do đó, Huỳnh Phú Sổ đã chăm chú vào
việc viết Sấm Giảng để trình bày và phổ truyền giáo pháp của mình. Tác
19
phẩm phần lớn thuộc loại văn vần, nhằm để cho hạng “dân quê ít học, dễ đọc
và dễ nhớ” [41, tr. 34]
- Quyển thứ nhất: Sấm giảng khuyên người đời tu niệm, bao gồm 912
câu viết vào năm 1939 tại Hòa Hảo.
- Quyển thứ hai: Kệ dân của người khùng, gồm 476 câu, viết tại Hòa
dựa vào điều lệ hay nội quy nào. Tuy vậy, Huỳnh Phú Sổ cũng đã có ý niệm về
hình thức ban trị sự gồm có một Hội Trưởng, một Phó Hội Trưởng, một Thư ký,
một Thủ bổn, một viên tổ chức, một viên liên lạc, một viên tuyên truyền, một số
kiểm soát và cố vấn. Sau khi chỉnh đốn xong cơ cấu cấp tỉnh, Huỳnh Phú Sổ mới
nghĩ tới chỉnh đốn sắp xếp cơ quan trung ương. Ban trị sự trung ương do Huỳnh
Phú Sổ giữ chức hội trưởng, ông Lương Trọng Tường giữ chức thư ký, ngoài ra
còn một số chức vụ khác trong ban trị sự trung ương. Ở đây Huỳnh Phú Sổ tập
hợp một số người như Lê Trọng Tường, Lê Quang Liêm, Trần Văn Soái (Năm
Lửa), Hồ Nhật Tân tăng cường hoạt động chính trị, tổ chức vũ trang.
Năm 1945, thấy cảnh nhân dân lầm than, nước nhà nguy biến Huỳnh
Phú Sổ đã đứng lên bảo vệ quốc gia và cứu nguy dân chúng, thành lập “Phật
giáo liên hiệp hội” để đoàn kết Phật giáo và “Việt Nam Độc lập vận động hội”
để dành lấy độc lập cho nước nhà. Sau ngày quân Nhật đầu hàng, đồng bào ta
đang lo sợ cảnh thù trong giặc ngoài thì Huỳnh Phú Sổ liên hiệp với các Đảng
phái tôn giáo để thành lập “Mặt trận quốc gia thống nhất” chống giặc ngoại
xâm. Mặt trận này đã sát nhập với “Mặt trận Việt minh” mà chính Huỳnh Phú
Sổ là đại diện đầu tiên ở miền Nam Việt Nam. Sau đó “mặt trận quốc gia liên
hiệp” được thành lập và sau khi tổ chức này giải tán thì các thủ lĩnh bèn thành
lập “liên hiệp quốc dân đồng bào” để lãnh đạo cuộc kháng chiến chống pháp.
Năm 1946, để giữ mối đoàn kết trong nhân dân, Huỳnh Phú Sổ đã chấp
nhận tham gia Ủy ban hành chính với tư cách Ủy viên ban kháng chiến. Ông
liên kết các chiến sỹ quốc gia với tín đồ Hòa Hảo để thành lập “Mặt trận Dân
chủ xã hội Đảng” (gọi tắt là Đảng dân xã). Đảng này chủ trương công bằng xã
21
hội và dân chủ hóa. Đồng thời Huỳnh Phú Sổ cũng cử người ra hải ngoại,
đoàn kết các nhà “cách mạng quốc gia lưu vong” để thành lập “Mặt trận
các phe nhóm Hòa Hảo ngoài giáo hội cũng nổi lên hoạt động tranh giành tín
đồ, gây ảnh hưởng để tìm kiếm lợi ích chính trị, kinh tế. Tiêu biểu là nhóm
của Đức Hoài Sanh, Nguyễn Long Châu, Mai Văn Dậu…Cuộc tranh dành
quyền lực, địa vị, thanh toán, bài xích lẫn nhau giữa các phe phái PGHH chỉ
dừng lại khi lực lượng cách mạng tiến hành tổng khởi nghĩa mùa xuân năm
1975 giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Đảng Dân Xã tan rã, Ban trị
sự giải tán, tín đồ Hòa Hảo trở về với cách tu hành giản dị, tu tại tâm, trở lại
tìm kiếm chính mình, để cảm nhận và thực hành những điều Giáo Chủ đã dạy.
Trong khoảng thời gian này đất nước cũng hết sức khó khăn, vừa thoát khỏi
chiến tranh, lại vừa mới bắt đầu xây dựng xã hội mới, người nông dân luôn là
người bị nhiều thiệt thòi, nhưng cũng chính họ đã giúp đất nước dành được
độc lập và cùng với nhân dân cả nước góp phần xây dựng quê hương đất
nước. Trong những nỗ lực đó, có sự đóng góp của nông dân Hòa Hảo.
Tháng 6 năm 1999, Ban Tôn giáo chính phủ đã ra quyết định công nhận
PGHH là một trong các tôn giáo chính thức được hoạt động ở Việt Nam. Một
ban đại diện được lựa chọn để chăm lo công việc chung của Đạo, kinh sách
được in ấn, được tổ chức các ngày lễ trọng, được thờ cúng và thực hành các
nghi thức thờ cúng. PGHH đã tổ chức ba kỳ đại hội: Đại hội lần thứ nhất
được tổ chức vào tháng 5 năm 1999; Đại hội lần thứ hai được tổ chức vào
tháng 6 năm 2004 và Đại hội lần thứ ba được tổ chức vào tháng 12 năm
2009. Với việc kiện toàn tổ chức, bao gồm Ban Trị sự 2 cấp: cấp toàn đạo và
cấp cơ sở. Ban Trị sự Trung ương Phật giáo Hòa Hảo là tổ chức đại diện hợp
pháp duy nhất của đồng bào theo Phật giáo Hòa Hảo (27 thành viên). Theo
Hiến chương mới sửa đổi, bổ sung của Phật giáo Hòa Hảo nhiệm kỳ 3 (2009
– 2014), ở các tỉnh có đông tín đồ PGHH còn được thành lập Ban Đại diện
Phật giáo Hoà Hảo tỉnh (trước đây gọi là Đại diện tỉnh).