ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÍ LUẬN CHÍNH TRỊ NGUYỄN TRỌNG LONG Đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của
hệ thống chính trị ở huyện Hoài Đức, tỉnh
Hà Tây hiện nay
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
2.3.5. Một số bài học kinh nghiệm 78
2
Chương 3: Quan điểm, phương hướng và những giải pháp nhằm tiếp tục
đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị ở
huyện Hoài Đức. 81
3.1. Quan điểm và phương hướng đổi mới hệ thống chính trị . 81
3.1.1. Quan điểm đổi mới hệ thống chính trị 81
3.1.2. Những phương hướng cơ bản nhằm đổi mới hệ thống chính trị 85
3.2. Những giải pháp chủ yếu nhằm đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động
của hệ thống chính trị huyện Hoài Đức hiện nay. 89
3.2.1. Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng 89
3.2.2. Đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý
của chính quyền 94
3.2.3. Đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và
các đoàn thể 96
3.2.4. Giải pháp trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ 100
2.2.5. Thực hiện quy chế dân chủ, tăng cường sự kiểm tra giám sát của nhân
dân 103
Kết luận 106
Danh mục tài liệu tham khảo 108
Phụ lục 112
3
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (12/1986) của Đảng xác định: Đối
với nước ta, đổi mới đang là yêu cầu bức thiết của sự nghiệp cách mạng, là vấn
đề có ý nghĩa sống còn. Qua 20 năm đổi mới, với sự nỗ lực phấn đấu cao độ của
toàn Đảng, toàn dân, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý
trị cấp huyện là rất quan trọng bởi cấp huyện là cấp gần với cơ sở nhất, là cầu nối
đưa chủ trương, đường lối chính sách của Đảng vào thực tiễn, trong những năm
qua hệ thống chính trị đã có những đóng góp rất quan trọng vào thắng lợi của sự
nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, tuy vậy bên cạnh những
đóng góp đó vẫn còn nhiều mặt yếu kém, bất cập trong hoạt động của hệ thống
chính trị cấp huyện, trong công tác lãnh đạo, quản lý, tổ chức. Tình trạng quan
liêu, tham nhũng, mất đoàn kết nội bộ còn diễn ra ở nhiều nơi. “Chức năng,
nhiệm vụ của các bộ phận trong hệ thống chính trị chưa được xác định rành
mạch, trách nhiệm không rõ; nội dung và phương thức hoạt động chậm đổi mới,
còn nhiều biểu hiện của cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp” [17, tr.166]. Vì vậy,
đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị đang là vấn đề
bức thiết đối với nước ta trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
hiện nay.
Hoài Đức là một huyện đồng bằng của tỉnh Hà Tây, liền kề với thủ đô Hà
Nội và Thành phố Hà Đông, do vậy Hoài Đức có một vị trí quan trọng về kinh tế
- xã hội cũng như quốc phòng - an ninh, tuy vậy hiện nay Hoài Đức chưa có
được sự phát triển tương xứng với tiềm năng vốn có. Vì vậy, việc đi sâu nghiên
cứu về vấn đề đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị cấp
huyện ở Hoài Đức có ý nghĩa quan trọng bởi nó tác động tới mọi hoạt động đời
5
sống xã hội ở địa phương, tới sự phát triển bền vững không chỉ của huyện Hoài
Đức mà còn của tỉnh Hà Tây.
Vì vậy, tác giả đã lựa chọn đề tài luận văn của mình là: “Đổi mới, nâng cao
hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị ở huyện Hoài Đức, Tỉnh Hà Tây hiện
nay”.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiện nay có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài viết về hệ thống chính
trị ở các góc độ và khía cạnh khác nhau có tính chất lý luận chung. Tiêu biểu
như: Đề tài KX.10.02 “Các quan điểm và nguyên tắc đổi mới hệ thống chính trị
sáng tỏ những quan điểm, chủ trương chính sách, giải pháp của Đảng và Nhà
nước ta về nông nghiệp nông thôn nói chung và về hệ thống chính trị cấp cơ sở ở
nông thôn nói riêng.
“Mối quan hệ giữa Đảng, chính quyền và các đoàn thể cấp xã ở nước ta
hiện nay”, do PGS. TS Dương Xuân Ngọc (chủ biên), Nhà xuất bản Chính trị
quốc gia, Hà Nội 1998. “Quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã - Một số vấn đề lý
luận và thực tiễn” do PGS. TS. Dương Xuân Ngọc (chủ biên), Nhà xuất bản
Chính trị quốc gia, Hà Nội 2000.
Một số luận văn, luận án: “Đổi mới và kiện toàn hệ thống chính trị ở cơ sở
nông thôn ngoại thành Hà Nội (cấp xã) trong giai đoạn hiện nay” (Lưu Minh Trị
- luận án PTS Triết học, Hà Nội 1993); “Đổi mới và kiện toàn hệ thống chính trị
cấp cơ sở ở nông thôn qua khảo sát thực tế tỉnh Tuyên Quang”(Đặng Thị Hiền -
luận văn Thạc sĩ triết học, Hà Nội 1993); “Những đặc điểm cơ bản của hệ thống
chính trị đảm bảo tốt dân chủ cơ sở(nghiên cứu từ thực tiễn xã An Đông - huyện
Quỳnh Phụ - Thái Bình” (Hoàng Đức Sơn - luận văn Thạc sĩ Chính trị học, Hà
Nội 2000); “Đổi mới hệ thống chính trị cấp cơ sở vùng dân tộc Chăm tỉnh Ninh
Thuận trong giai đoạn hiện nay” (Nguyễn Đức Ngọc - luận văn Thạc sĩ Triết
học, Hà Nội 2002). Một số bài viết tiêu biểu trên các tạp chí: “Quan điểm và giải
7
pháp để củng cố và tăng cường hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn hiện
nay”(PGS.TS Hoàng Chí Bảo - Tạp chí Dân vận số Xuân 2002), “Đổi mới
phương thức lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của chính quyền cơ sở”(Lê Hữu
Nghĩa - Tạp chí Cộng sản, số 19 - 2001)… “ Củng cố kiện toàn tổ chức cơ sở
Đảng ở nông thôn trong thời kỳ phát triển mới của đất nước” (PGS. TS Dương
Xuân Ngọc - Tạp chí Thông tin lý luận, 11 - 1998), “Kết quả thực hiện quy chế
dân chủ ở cơ sở - Vấn đề đặt ra và giải pháp” (PGS. TS Dương Xuân Ngọc - Tạp
chí Thông tin lý luận, 9 - 2000), “Một số giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả
quy chế dân chủ ở xã” (PGS. TS Dương Xuân Ngọc - Tạp chí Tổ chức Nhà
nước, 8 - 2001)…
* Cơ sở lý luận
Dựa trên quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
về xây dựng hệ thống chính trị; quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam trong
việc đổi mới tổ chức, nội dung và phương hướng hoạt động của hệ thống chính
trị.
* Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp: Logic - lịch sử, phân tích -
tổng hợp, tổng kết thực tiễn, các phương pháp xã hội học như: điều tra, thu thập,
phân tích và xử lý số liệu.
6. Đóng góp của luận văn
Thông qua nghiên cứu ở một địa bàn cụ thể, luận văn góp phần làm sáng
tỏ đặc thù của hệ thống chính trị cấp huyện và hệ thống chính trị huyện Hoài
Đức tỉnh Hà Tây và đề xuất những giải pháp tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu
quả hoạt động của hệ thống chính trị cấp huyện.
Luận văn có thể dùng làm tư liệu tham khảo cho lãnh đạo địa phương
trong quá trình đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị
9
cấp huyện ở Hoài Đức nói riêng và các địa phương khác đang trong quá trình đô
thị hóa, công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận
văn được kết cấu thành 3 chương, 8 tiết.
Chương 1: Hệ thống chính trị và hệ thống chính trị cấp huyện.
Chương 2: Thực trạng đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống
chính trị ở huyện Hoài Đức.
Chương 3: Quan điểm, phương hướng và những giải pháp nhằm tiếp tục
đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị ở huyện Hoài
Đức.
11
hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản.
Hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay bao gồm: Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đoàn
thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Tổng liên
đoàn lao động Việt Nam, Hội nông dân Việt Nam, Hội cựu chiến binh Việt Nam
và các tổ chức chính trị - xã hội hợp pháp khác của nhân dân được thành lập,
hoạt động trên cơ sở liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và
đội ngũ trí thức làm nền tảng, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam,
thực hiện và đảm bảo đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân.
Như vậy, về cơ cấu tổ chức, hệ thống chính trị ở nước ta bao gồm ba bộ
phận: Đảng cộng sản Việt Nam là hạt nhân và là lực lượng lãnh đạo hệ thống
chính trị xã hội chủ nghĩa và toàn thể xã hội; Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam là trụ cột, là trung tâm của hệ thống chính trị; Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội là cơ sở chính trị của nhà nước và xã
hội.
Do điều kiện lịch sử ra đời, tồn tại và phát triển của mình, hệ thống chính
trị ở nước ta hiện nay có bản chất và những đặc điểm sau:
* Về bản chất:
Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai
cấp công nhân Việt Nam, nhân dân ta đã đứng lên làm cách mạng, giành lấy
quyền lực và tổ chức ra hệ thống chính trị của mình. Vì vậy, hệ thống chính trị ở
nước ta có những bản chất sau:
Một là, hệ thống chính trị ở nước ta mang bản chất của giai cấp công nhân,
nghĩa là các tổ chức trong hệ thống chính trị đều đứng vững trên lập trường quan
điểm của giai cấp công nhân. Từ đó quy định chức năng, nhiệm vụ, phương
hướng hoạt động của toàn bộ hệ thống chính trị, đảm bảo quyền làm chủ của giai
cấp công nhân và nhân dân lao động.
13
Tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là sự vận dụng và phát triển sáng tạo
chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể ở nước ta, mà còn là sự bổ sung vào
kho tàng chủ nghĩa Mác-Lênin những luận điểm mới liên quan tới quá trình cách
mạng nhằm đưa một đất nước vốn là thuộc địa, nửa phong kiến ở phương Đông
đi lên Chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn phát triển Tư bản chủ nghĩa.
Do vậy, sự thống nhất giữa bản chất cách mạng và khoa học trong chủ
nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là cơ sở quy định sự thống nhất giữa
tính cách mạng và khoa học trong tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị ở
nước ta hiện nay.
Thứ hai, hệ thống chính trị ở nước ta đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng
sản Việt Nam. Đảng là một tổ chức trong hệ thống chính trị nhưng có vai trò
lãnh đạo các tổ chức trong hệ thống chính trị. Trong điều kiện cụ thể ở nước ta,
do những phẩm chất của mình - Đảng là đại biểu cho ý chí và lợi ích thống nhất
của các dân tộc; do truyền thống lịch sử mang lại và do những thành tựu rất to
lớn đạt được trong hoạt động thực tiễn cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo
của Đảng làm cho Đảng ta trở thành Đảng chính trị duy nhất có khả năng tập
hợp quần chúng lao động đông đảo để thực hiện lý tưởng của Đảng, nhân dân tự
nguyện đi theo Đảng, thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, trong thực tế. Đây là
đặc trưng cơ bản của hệ thống chính trị ở nước ta.
Thứ ba, hệ thống chính trị ở nước ta được tổ chức và hoạt động theo
nguyên tắc tập trung dân chủ.
Việc quán triệt nguyện tắc tập trung dân chủ là nhân tố cơ bản đảm bao
cho hệ thống chính trị có được sự thống nhất về tổ chức và hành động, nhằm
phát huy sức mạnh đồng bộ của toàn hệ thống trong sự kết hợp chặt chẽ sức
mạnh của từng yếu tố cấu thành hệ thống đó. Mặt khác, việc quán triệt nguyên
tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và vận hành cũng cho phép kết hợp hài hoà
giữa việc phát huy sức mạnh của hệ thống chính trị từ cấp trung ương tới cấp cơ
sở thuộc mọi cấp độ tồn tại của nó.
theo định hướng xã hội chủ nghĩa là định hướng cơ bản cho hoạt động của mình.
15
Đây là đặc điểm khác biệt căn bản của hệ thống chính trị ở nước ta với hệ
thống chính trị của các nước tư bản chủ nghĩa, thể hiện tính ưu việt của chế độ xã
hội chủ nghĩa, sự thống nhất lợi ích giữa giai cấp công nhân, nhân dân lao động
cũng như của cả dân tộc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh.
1.1.2. Quan niệm về hệ thống chính trị cấp huyện
Cấp huyện và hệ thống chính trị cấp huyện là cấp trên cơ sở thuộc hệ
thống phân cấp quản lý Nhà nước gồm bốn cấp như hiện nay. Trong cả nước
hiện nay có 663 huyện - quận - thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thì có tới 538 là
huyện, do vậy có thể thấy huyện là đơn vị chiếm đa số trong tổng số đơn vị cùng
cấp ở nước ta.
Nói tới hệ thống chính trị cấp huyện - quận - thị xã, thành phố (thuộc
tỉnh), trong đó huyện chiếm tới gần 82% trong tổng số các đơn vị hành chính cấp
huyện, qua đó có thể nhận thấy cấp huyện ở nước ta chủ yếu là ở nông thôn, hệ
thống chính trị địa phương ở nước ta chủ yếu là hệ thống chính trị cấp huyện. Do
vậy phải coi đây là một điểm quan trọng cần phải đột phá trong đổi mới hệ thống
chính trị, trong đó cần xác định vai trò của Đảng bộ huyện hoặc huyện ủy, chính
quyền huyện (Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân), mối quan hệ giữa Huyện
và cơ sở, của Mặt trận Tổ quốc huyện và các đoàn thể, các tổ chức chính quyền
cấu thành hệ thống chính trị, các phương thức tổ chức, hoạt động cùng các mối
quan hệ giữa chúng.
Như trên đã trình bày, hệ thống chính trị ở nước ta có đặc điểm nổi bật là
tính nhất nguyên chính trị và một Đảng duy nhất cầm quyền lãnh đạo, đó là
Đảng cộng sản. Chỉ có một hệ thống chính trị duy nhất và thống nhất trong cả
nước mà Đảng cộng sản là hạt nhân lãnh đạo. Các khái niệm trung ương- địa
phương- cơ sở (Trung ương - tỉnh, thành - quận, huyện - xã, phường, thị trấn) chỉ
là những cấp độ khác nhau. Do đó hệ thống chính trị cấp huyện có nghĩa là cấp
hướng tới các mục tiêu chung là phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện,
17
chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân địa phương, tất cả vì mục
tiêu chung của xã hội là thực hiện “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ văn minh”.
Trong sự thống nhất của hệ thống chính trị, Đảng là bộ phận hạt nhân, giữ
vai trò lãnh đạo hệ thống; chính quyền là lực lượng chủ đạo, giữ vai trò quản lý,
điều hành và Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân là tổ chức đại diện
quyền làm chủ của các tầng lớp nhân dân. Các cấp ủy, các tổ chức Đảng vừa là
hạt nhân lãnh đạo hệ thống chính trị, lãnh đạo chính quyền và là cầu nối giữa
nhân dân với chính quyền. Chính quyền là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa
phương, trực tiếp quản lý, tổ chức đời sống mọi mặt ở địa phương, phát huy mọi
tiềm năng nhân tài và vật lực trên địa bàn phục vụ sự phát triển kinh tế - xã hội.
Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân ở địa phương là cầu nối giữa nhân
dân với Đảng và chính quyền, đại biểu cho lợi ích của các tầng lớp nhân dân, là
hậu thuẫn của Đảng, chính quyền huyện.
* Tính thống nhất của hệ thống chính trị cấp huyện:
Quan hệ giữa Đảng và chính quyền:
Bản chất của mối quan hệ giữa Đảng và chính quyền cấp huyện là Đảng
lãnh đạo chính quyền (thông qua huyện ủy và thường vụ). Chính quyền triển
khai thực hiện nghị quyết của huyện ủy bằng phương thức quản lí Nhà nước; tổ
chức, tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân tham gia quản lí Nhà nước, quản lí xã
hội và các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội. Mối quan hệ này được thực hiện
thông qua mối quan hệ cụ thể giữa huyện ủy với hội đồng nhân dân huyện; giữa
huyện ủy với ủy ban nhân dân huyện; Bí thư huyện ủy với Chủ tịch ủy ban nhân
dân huyện…
Huyện ủy thực hiện sự lãnh đạo đối với ủy ban nhân dân, hội đồng nhân
dân huyện bằng các chủ trương, chính sách, chỉ thị, nghị quyết và các biện pháp
khác; bằng việc bố trí cán bộ và quyền kiểm tra việc chấp hành chủ trương,
Huyện ủy và đoàn thể cấp trên để xin ý kiến chỉ đạo. Huyện ủy, Ban thường vụ
huyện ủy có quyền chỉ đạo hoạt động của các tổ chức này. Bí thư huyện ủy có
19
quyền thay mặt Huyện ủy, Ban thường vụ huyện ủy để có ý kiến chỉ đạo, chỉ thị,
đôn đốc trưởng các đoàn thể nhân dân. Huyện ủy lãnh đạo các đoàn thể nhân dân
bằng chủ trương, quan điểm; bằng công tác cán bộ; bằng công tác chỉ đạo, đôn
đốc, kiểm tra. Tuy vậy, trong mối quan hệ này, các đoàn thể nhân dân mặc dù
chịu sự lãnh đạo của Đảng nhưng có tính độc lập tương đối, không phải là quan
hệ một chiều. Huyện ủy ra nghị quyết, các tổ chức đoàn thể thực hiện, nhưng ý
kiến, nguyện vọng, sáng kiến đóng góp của nhân dân trong thực tiễn phong trào
của các đoàn thể lại bổ sung cho những quyết định của Huyện ủy.
Quan hệ giữa chính quyền và các đoàn thể.
Ngoài mối quan hệ giữa Đảng và chính quyền, giữa Đảng và các đoàn thể
nhân dân thì quan hệ giữa chính quyền, cụ thể là Hội đồng nhân dân, ủy ban
nhân dân với các đoàn thể nhân dân là rất quan trọng, đặc biệt là với Mặt trận Tổ
quốc. Hiến pháp năm 1992 khẳng định: Mặt trận Tổ quốc là cơ sở chính trị của
Nhà nước ta, là nơi tập hợp lực lượng, động viên các tầng lớp nhân dân trong
việc xây dựng chính quyền và thực hiện các chương trình, mục tiêu do Huyện ủy
và Hội đồng nhân dân đề ra. Mặt trận Tổ quốc được giao nhiệm vụ chủ trì, hiệp
thương, lập danh sách các ứng cử viên để dân bầu vào Hội đồng nhân dân. Mặt
trận Tổ quốc là một thành phần của Hội đồng bầu cử, tham gia tổ chức và giám
sát cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân. Chủ tịch Hội đồng nhân dân phải thông báo
bằng văn bản đến Mặt trận Tổ quốc về tình hình hoạt động của Hội đồng nhân
dân và nêu những kiến nghị với Mặt trận Tổ quốc hai lần trong năm. Ngược lại,
trong kỳ họp Hội đồng nhân dân, đại diện của Mặt trận Tổ quốc cùng đại diện
của các đoàn thể nhân dân phải báo cáo hoạt động của mình trong việc xây dựng
chính quyền. Đại diện của Mặt trận Tổ quốc huyện và các đoàn thể nhân dân
được mời dự các cuộc họp của ủy ban nhân dân về những vấn đề có liên quan.
Những quy định trên xác định mối quan hệ giữa các thành viên của hệ
cơ sở thuộc thẩm quyền của mình đồng thời kiến nghị lên cấp trên những phản
ánh của cơ sở không thuộc thẩm quyền.
21
- Hệ thống chính trị cấp huyện tổng kết những kinh nghiệm từ thực tiễn
việc chỉ đạo các hoạt động ở cơ sở để từ đó góp phần đề xuất những vấn đề đã
được thực tiễn kiểm nghiệm vào việc điều chỉnh, bổ sung và hoàn chỉnh đường
lối, cơ chế, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước.
Như vậy, hệ thống chính trị cấp huyện có ảnh hưởng lớn tới sự ổn định và
phát triển ở địa phương. Thực tế cho thấy ở địa phương nào xây dựng được hệ
thống chính trị vững mạnh thì ở đó kinh tế phát triển, tình hình chính trị xã hội
ổn định và ngược lại, những nơi hệ thống chính trị cấp huyện yếu kém sẽ kéo
theo sự yếu kém của hệ thống chính trị cơ sở làm giảm niềm tin của quần chúng
nhân dân vào Đảng, chính quyền gây mất ổn định chính trị - xã hội.
Thứ hai, hệ thống chính trị cấp huyện cũng với đầy đủ các tổ chức như hệ
thống chính trị quốc gia, đó là tổ chức Đảng, chính quyền (Hội đồng nhân dân,
Uỷ ban nhân dân), Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân (Đoàn thanh niên,
Hội phụ nữ, Hội nông dân, Hội cựu chiến binh), trong đó:
Đảng bộ huyện, đặc biệt là Ban chấp hành Đảng bộ là hạt nhân chính trị,
trực tiếp thực hiện vai trò lãnh đạo của Đảng đối với các nhiệm vụ và hoạt động
ở địa phương. Đảng bộ huyện là một bộ phận của hệ thống chính trị cấp huyện
nhưng lại có vai trò lãnh đạo hệ thống chính trị và lãnh đạo mọi mặt đời sống xã
hội ở địa phương.
Chính quyền huyện có chức năng quản lý Nhà nước trên tất cả các lĩnh
vực của đời sống xã hội ở địa phương, thực hiện việc kiểm tra, giám sát mọi hoạt
động ở cơ sở, của công dân và các đơn vị trên địa bàn về việc chấp hành pháp
luật của Nhà nước và các quy định của địa phương, của cấp trên, phát huy vai trò
năng động, sáng tạo của cơ sở để trên cơ sở đó phát huy quyền làm chủ của nhân
dân trong việc phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở địa phương.
Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân ở huyện có vai trò quan trọng
hệ thống chính trị cấp huyện. Do vậy, việc đổi mới hệ thống chính trị nói chung
và hệ thống chính trị cấp huyện nói riêng trong thời gian tới phải chú ý tới các
yếu tố địa lý, kinh tế, văn hóa, xã hội… để có mô hình tổ chức và phương thức
23
hoạt động phù hợp với từng địa phương. Chỉ có như vậy, quá trình đổi mới, nâng
cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị cấp huyện mới đạt được kết quả
cao.
1.2.2. Vai trò của hệ thống chính trị cấp huyện
Muốn đổi mới hệ thống chính trị cấp huyện, trước hết phải thấy được vai
trò của cấp huyện. Theo cách hiểu trước đây, thậm chí ngay cả trong giai đoạn
hiện nay thì toàn quốc, cả nước là cái toàn thể, cái lớn nhất và dưới nó là các địa
phương (tỉnh, thành phố), đó là cái nhỏ hơn và cuối cùng là cơ sở (xã, phường,
thị trấn). Theo đó thì quận, huyện mang đặc thù trung gian, nối liền trực tiếp với
bên trên (tỉnh, thành phố) và bên dưới (xã, phường, thị trấn), với cách hiểu này
huyện được ví như một mắt khâu trung gian, chu chuyển hai đầu: lên trên (Trung
ương) và xuống dưới (cơ sở). Mặc dù đây là không phải là quan niệm thành văn
có tính chất lý luận mà là quan niệm thực tiễn, tuy vậy cách nhìn này tồn tại từ tổ
chức bộ máy và quan hệ quản lí theo kiểu hành chính quan liêu, lâu ngày đã
nhiễm vào tư duy, ý thức của mỗi người trong nhận thức và ứng xử. Đó là tâm lý
coi Trung ương là quan trọng nhất rồi sau đó đến tỉnh rồi mới đến huyện. Kiểu
quan niệm này đã làm giảm đi vai trò của hệ thống chính trị cấp huyện. Rõ ràng,
cấp Trung ương là rất quan trọng vì đó là cấp chiến lược, nơi vạch ra đường lối,
chính sách nhằm định hướng chỉ đạo sự phát triển chung và điều hành hoạt động
từ tổng thể nhưng cũng đồng thời phải xác định, khẳng định tầm quan trọng từ
nó, vốn có và phải có ở các cấp khác, cấp huyện.
Mỗi cấp không biệt lập, mỗi cấp có tầm quan trọng riêng của nó, do vị trí,
vai trò của mỗi cấp là do kết quả của đời sống của dân, do đòi hỏi của sự phát
triển thực tế ở đó quy định trong sự tác động cuộc sống của dân, do đòi hỏi của
sự phát triển thực tế ở đó quy định trong sự tác động ràng buộc, chi phối lẫn
Chỉ có như vậy việc đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính
trị cấp huyện mới đạt kết quả cao.
1.3. Hiệu quả hoạt động và yêu cầu đổi mới hệ thống chính trị cấp huyện
1.3.1. Hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị cấp huyện