Vai trò của giai cấp công nhân Việt Nam trong cuộc đổi mới đất nước - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THỊ THANH HƢƠNG

VAI TRÒ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM TRONG
CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI ĐẤT NƢỚC LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC TRIẾT HỌC


HÀ NỘI- 2009

MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TÌNH HÌNH CHUNG VỀ GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM
VÀ QUAN NIỆM VỀ VAI TRÒ CỦA GIAI CẤP NÀY TRONG
CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC 10
1.1. Tình hình chung về giai cấp công nhân Việt Nam 10
1.2. Quan niệm về vai trò của giai cấp công nhân Việt Nam trong công
cuộc đổi mới 21
Chương 2: THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT
NAM TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC 31
2.1. Thành tựu và hạn chế về vai trò của giai cấp công nhân Việt Nam
trong công cuộc đổi mới đất nước 31
2.2. Nguyên nhân của thực trạng vai trò của giai cấp công nhân Việt
Nam và những vấn đề đặt ra 66
Chương 3: GIẢI PHÁP TIẾP TỤC PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA GIAI CẤP
CÔNG NHÂN VIỆT NAM TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI
ĐẤT NƯỚC 83
3.1. Nhóm giải pháp về nhận thức đối với giai cấp công nhân và vai
trò của nó trong công cuộc đổi mới đất nước 83
3.2. Nhóm giải pháp về đào tạo nghề và giáo dục ý thức chính trị cho giai
cấp công nhân trong công cuộc đổi mới đất nước 86

ninh được giữ vững. Vị thế nước ta trên trường quốc tế không ngừng được
nâng cao. Sức mạnh tổng hợp của quốc gia đã tăng lên rất nhiều, tạo ra thế và
lực mới cho đất nước tiếp tục đi lên với triển vọng tốt đẹp”. Đạt được những
thành tựu rực rỡ ấy có sự đóng góp quan trọng và lớn lao của giai cấp công
nhân Việt Nam.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
ấy, sau 20 năm đổi mới, nền kinh tế - xã hội của nước ta còn tồn tại những

2
mặt hạn chế, phức tạp chưa được khắc phục. Nguy cơ tụt hậu về kinh tế
ngày càng xa. Sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội ngày càng lớn. Tình
trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận
không nhỏ cán bộ, đảng viên. Dưới tác động mặt trái của kinh tế thị trường
làm cho tệ quan liêu, tham ô, tham nhũng, lãng phí diễn ra ngày càng phức
tạp, nghiêm trọng. Những biểu hiện xa rời mục tiêu, lý tưởng chủ nghĩa xã
hội… Tất cả những hiện tượng đó đang tác động không nhỏ đến giai cấp
công nhân Việt Nam, làm suy giảm và hạn chế vai trò của giai cấp công
nhân trong công cuộc đổi mới.
Hiện nay, nước ta đang đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa, tạo nền tảng để phát triển kinh tế, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật ban
đầu cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Với tư cách là giai cấp lãnh
đạo và là lực lượng sản xuất cơ bản của nền công nghiệp hiện đại, giai cấp
công nhân đóng vai trò là lực lượng đi đầu của quá trình ấy. Việc không
ngừng nghiên cứu, làm rõ vai trò của giai cấp công nhân, nhất là trong điều
kiện hiện nay có ý nghĩa quan trọng hơn bao giờ hết.
Từ khi ra đời cho đến nay, trong mỗi giai đoạn cách mạng, Đảng có
những chủ trương, chính sách cụ thể về xây dựng, phát triển và phát huy vai
trò giai cấp công nhân. Điều này được thể hiện rõ nhất từ khi đất nước thực
hiện đường lối đổi mới toàn diện đất nước. Trong “Cương lĩnh xây dựng đất
nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” (1991), Đảng ta chỉ rõ: “Phát

sâu sắc đến sự biến đổi của giai cấp công nhân Việt Nam. Do vậy, nhận thức
và làm rõ vai trò của giai cấp công nhân Việt Nam trong điều kiện hiện nay,
một mặt góp phần vào việc đánh giá đúng đắn thực trạng vai trò của giai cấp
công nhân, để có những chiến lược phù hợp phát huy vai trò của trò của giai
cấp công nhân, mặt khác lý giải những vấn đề mới nảy sinh về vai trò của giai
cấp công nhân trong điều kiện mới.

4
Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, nhất là sau khi
các nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, các thế lực phản
động tăng cường tấn công vào học thuyết Mác- Lênin, phủ nhận vai trò sứ
mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Chúng cho rằng, trong thời đại ngày
nay, khi mà nền kinh tế tri thức phát triển mạnh mẽ thì vai trò lịch sử của giai
cấp công nhân không còn nữa, thay vào đó là tầng lớp trí thức. Vì vậy, làm
sáng tỏ vai trò của giai cấp công nhân không chỉ là đòi hỏi trước mắt mà còn
là yêu cầu mang tính chiến lược trong thời kỳ quá độ đi lên xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở nước ta.
Vấn đề sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là nội dung cơ bản của
chủ nghĩa xã hội khoa học nói riêng và của chủ nghĩa Mác nói chung, được
nhiều học giả quan tâm nghiên cứu. Trong những năm gần đây có nhiều công
trình nghiên cứu về giai cấp công nhân ở các góc độ khác nhau.
Để góp phần làm rõ hơn nữa vai trò của giai cấp công nhân trong công
cuộc đổi mới đất nước, tác giả chọn vấn đề “Vai trò của giai cấp công nhân
Việt Nam trong công cuộc đổi mới đất nước”, làm đề tài luận văn tốt nghiệp
cao học của mình.
2. Tình hình nghiên liên quan đến đề tài
Trong nhiều công trình nghiên cứu về giai cấp công nhân, đáng lưu ý là
những đề tài và tác phẩm được in ấn sau:
“Một số vấn đề về giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay”- PTS. Bùi
Đình Bôn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997; và “Giai cấp công nhân Việt

đầu thế kỷ XXI”- Kỷ yếu hội thảo khoa học, Nxb Lao Động, Hà Nội, 2001:
Tác phẩm tập hợp những bài viết của các nhà nghiên cứu về giai cấp công
nhân: Đặc điểm, sự biến đổi cơ cấu giai cấp công nhân trong giai đoạn đầu
công nghiệp hóa, hiện đại hóa, các nhân tố khách quan và chủ quan tác động
đến xu hướng biến đổi giai cấp công nhân.

6
“Ý thức chính trị của công nhân trong một số doanh nghiệp ở Hà Nội
hiện nay”- PGS.TS Phan Thanh Khôi, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003:
Tác giả phân tích ý thức chính trị của giai cấp công nhân và thực trạng ý thức
chính trị của công nhân. Từ đó tác giả đưa ra dự báo về xu hướng biến động ý
thức của công nhân cũng như các giải pháp nhằm nâng cao ý thức chính trị
của công nhân doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài ở Hà Nội hiện nay.
Kỷ yếu hội thảo khoa học: “Giai cấp công nhân Việt Nam- khái niệm
và những đặc điểm cơ bản”- Hội đồng Lý luận Trung ương, Hà Nội, tháng
8/2007: Tác phẩm tổng hợp những bài viết của các nhà nghiên cứu xung
quanh vấn đề làm rõ khái niệm và những đặc điểm cơ bản của giai cấp công
nhân Việt Nam hiện nay, chỉ ra một số vấn đề về xây dựng giai cấp công nhân
Việt Nam trong thời kỳ đổi mới đất nước.
“Đổi mới tư duy về giai cấp công nhân- kinh tế tri thức và công nhân
tri thức”- GS. Văn Tạo, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008: Tác giả đã
khái về nền kinh tế tri thức và giai cấp công nhân. Trên cơ sở đó đưa ra quan
điểm đổi mới tư duy về giai cấp công nhân Việt Nam. Tác giả khẳng định
công nhân tri thức là nhân tố mới trong giai cấp công nhân và đưa ra những
nhận thức mới về về giai cấp công nhân Việt Nam với kinh tế tri thức đầu
thế kỷ XXI.
“Về xu hướng công nhân hóa ở nước ta hiện nay”- TS. Nguyễn An
Ninh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008: Tác giả phân tích về hiện trạng
của giai cấp công nhân hiện nay: Sự phân tầng trong giai cấp công nhân, vấn

từ 1986 đến nay.
Ở các học viện, trường đại học, ngày càng có nhiều luận văn thạc sĩ và
luận án tiến sĩ nghiên cứu vấn đề giai cấp công nhân Việt Nam trong đó, có
những luận văn, luận án điển hình sau: “Xây dựng đội ngũ công nhân Thái

8
Bình đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh” của Lê Lan Anh,
Luận văn Thạc sĩ khoa học Triết học, Hà Nội, 2006; “Vấn đề đình công của
công nhân ở nước ta hiện nay” của Phạm Thị Xuân Hương, Luận án tiến sĩ
triết học, Hà Nội 2001; “Xây dựng kỷ luật lao động của công nhân- một
nhiệm vụ quan trọng thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta” của Ngô
Minh Khang, Luận án PTS Triết học, Hà Nội, 1989; “Giai cấp công nhân Việt
Nam- vai trò và xu hướng biến động về cơ cấu trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội” của Bùi Đình Bôn, Luận án PTS Triết học, Hà Nội 1991; “Sự
phát triển của giai cấp công nhân Việt Nam- vai trò của nó trong quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của Trần Ngọc Sơn, Luận án tiến sĩ Triết học,
Hà Nội, 2001; “Tích cực hóa nhân tố chủ quan để giai cấp công nhân Việt
Nam thực hiện và hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình” của Trần Thị Bích
Liên, Luận án tiến sĩ Triết học, 2001…
Các luận văn, luận án trên đều có phần lý luận chung về giai cấp công
nhân và liên hệ với thực tiễn công nhân nước ta ở những phạm vi tương ứng
mà đề tài quan tâm. Qua đó người đọc hiểu sâu sắc hơn về giai cấp công nhân
thế giới và nhất là công nhân Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước.
Những công trình nghiên cứu và những bài viết trên được tác giả kế
thừa và vận dụng trong quá trình thực hiện luận văn của mình.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Mục đích: Luận văn làm rõ vai trò của giai cấp công nhân Việt Nam
trên các lĩnh vực của đời sống xã hội trong công cuộc đổi mới đất nước, từ đó
đề xuất những giải pháp nhằm phát huy hơn nữa vai trò của giai cấp này trong


10
- Về mặt lý luận: Luận văn góp phần làm luận cứ khoa học cho việc
xây dựng chính sách đối với giai cấp công nhân Việt Nam.
- Về mặt thực tiễn: Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho
việc giảng dạy và nghiên cứu các chuyên đề liên quan ở các trường đại học và
cao đẳng.
8. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo,
đề tài gồm 3 chương, 8 tiết.

11
Chƣơng 1
TÌNH HÌNH CHUNG VỀ GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM
VÀ QUAN NIỆM VỀ VAI TRÕ CỦA GIAI CẤP NÀY TRONG
CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI ĐẤT NƢỚC

1.1. TÌNH HÌNH CHUNG VỀ GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM
Từ nửa đầu thế kỷ XIX, với hai cuộc khai thác thuộc địa của thực dân
Pháp, một lực lượng xã hội mới được hình thành trong lòng xã hội Việt Nam,
đó là giai cấp công nhân. Với tư cách là một giai cấp trong xã hội, giai cấp
công nhân Việt Nam ra đời đã đánh dấu bước ngoặt mới trong tiến trình phát
triển của lịch sử dân tộc. Đặc biệt, từ khi có Đảng ra đời, giai cấp công nhân
Việt Nam thông qua Đảng Cộng sản đã lãnh đạo cách mạng giành được
những thắng lợi vẻ vang, đưa dân tộc ta bước vào kỷ nguyên mới: Kỷ nguyên
của độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Tiếp tục dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, với đường lối đổi mới
toàn diện đất nước, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh
tế quốc tế, giai cấp công nhân không ngừng lớn mạnh và ngày càng phát huy
vai trò to lớn của mình. Hiện nay, giai cấp công nhân Việt Nam, như Văn kiện

hiện trên những điểm chủ yếu sau:
Đảng và Nhà nước coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, không ngừng
quan tâm và tăng cường đầu tư cho giáo dục, đào tạo, nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực, nhờ đó trình độ học vấn của công nhân được nâng lên một
bước. Theo số liệu, tỷ lệ công nhân có học vấn phổ thông trung học năm 1985
là 42,5%, đến năm 2000, tỷ lệ này là 62,2% và hiện nay là 69,3% [2, tr.11].
Cùng với những chuyển biến tích cực đó, tỷ lệ công nhân không biết chữ và
chưa tốt nghiệp cấp I giảm đi. Nếu như năm 1996 tỷ lệ này là 5,1%, thì năm
2005 giảm còn 3,5%. Tỷ lệ công nhân lao động tốt nghiệp cấp III tăng lên,
năm 1996 là 56%, đến năm 2005 tăng lên 82,4%. Số công nhân tốt nghiệp cao

13
đẳng, đại học cũng không ngừng tăng lên và ra nhập ngày càng đông đảo vào
giai cấp công nhân.
Trình độ tay nghề, chuyên môn kỹ thuật của giai cấp công nhân cũng
không ngừng được nâng cao. Số công nhân chưa qua đào tạo giảm từ 46,7%
năm 1996, xuống còn 25,1% năm 2005. Trong khi công nhân kỹ thuật được
đào tạo có bằng cấp tăng từ 8,41% năm 1996, lên 11,83% năm 2005. Chỉ tính
riêng công tác dạy nghề giai đoạn 2001-2006 đã đào tạo cho khoảng 6,6 triệu
người, tăng bình quân hàng năm là 6,5%. Trong đó dạy nghề dài hạn đạt 1,14
triệu người, tăng bình quân 15%/năm; riêng năm 2006 là 260 ngàn người,
tăng 2 lần so với năm 2001. Quy mô dạy nghề trong những năm qua tăng
nhanh, do vậy, tỷ lệ công nhân lao động qua đào tạo nghề từ 13,4% năm
2001, tăng lên khoảng 20% năm 2006 [31, tr.146].
Hiện nay, trình độ chuyên môn nghề nghiệp của công nhân trong các
doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, có trình độ cao đẳng, đại học trở
lên khoảng 19,1%, công nhân chưa qua đào tạo khoảng 17%. Công ty cổ phần
có tỷ lệ công nhân có trình độ chuyên môn, nghề nghiệp chiếm tỷ lệ cao nhất,
khoảng 27,9%, doanh nghiệp nhà nước là 24,3%, hợp tác xã là 20%, doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 14,3%. Công nhân trong các doanh

nghề tương đối cao (khoảng 75.8%) là sự lãng phí về nguồn nhân lực và hạn
chế phát huy khả năng cũng như lòng say mê nghề nghiệp của công nhân.
Cùng với sự phát triển của đất nước, tính giác ngộ giai cấp và ý thức
chính trị của giai cấp công nhân từng bước được nâng lên. Công nhân ngày
càng nhận thức sâu sắc hơn về vị trí, vai trò, trách nhiệm của mình đối với
công cuộc đổi mới đất nước, đối với sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội theo
định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay. Công nhân nhận thức ngày

15
càng sâu sắc hơn về các vấn đề chính trị- xã hội. Họ không chỉ quan tâm đến
việc làm, thu nhập mà đã quan tâm cả đến những định hướng, chính sách,
pháp luật của Đảng và Nhà nước. Một bộ phận công nhân có trình độ hiểu
biết sâu rộng, đã tham gia tích cực vào hoạt động của các tổ chức chính trị- xã
hội, tham gia vào phản biện các chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước.
Theo số liệu, có tới 91,4% công nhân khẳng định quan tâm tới các vấn đề
chính trị- xã hội ở địa phương; 87,4% công nhân cho rằng “vị trí của giai cấp
công nhân là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước”; 89% công nhân cho rằng Công đoàn là tổ chức chính trị- xã hội có
chức năng đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của công
nhân. Có 68,8% công nhân được giới thiệu bộ Luật Lao động; 49,9% công
nhân được giới thiệu Luật Công đoàn; 34,1% công nhân được giới thiệu Luật
Doanh nghiệp [3, tr.13].
Nhìn chung, sự giác ngộ giai cấp, ý thức chính trị và hiểu biết pháp luật
của giai cấp công nhân có những bước chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, dưới
tác động của mặt trái kinh tế thị trường; sự phân hóa về lao động giữa các khu
vực kinh tế, giữa các vùng miền trong cả nước, giữa các khu công nghiệp, khu
chế xuất trọng điểm với các khu công nghiệp, khu chế xuất lân cận…dẫn đến
sự không đồng đều về trình độ nhận thức xã hội, giác ngộ giai cấp, bản lĩnh
chính trị của giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay. Do đó, cũng ảnh hưởng
không nhỏ đến việc phát huy vai trò, tính tiên phong của giai cấp Việt Nam

là 1,61 triệu người (bằng 18,1%), trong tổng số 8,89 triệu công nhân. Trong
khi đó, công nhân làm việc trong thành phần kinh tế tư nhân, tập thể có xu
hướng tăng lên. Năm 1986 có khoảng 1 triệu người (bằng 3,25%), đến năm
2000 tăng lên 4,41 triệu người (bằng 72,3%), tỷ lệ này tiếp tục tăng lên 6,59
triệu người (bằng 74,2%) vào năm 2005, đến đầu năm 2007 tăng khoảng 9,16
triệu người. Công nhân trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
cũng không ngừng tăng lên: Năm 1986, khu vực này mới chỉ thu hút khoảng

17
100.000 công nhân lao động trực tiếp, chiếm tỷ lệ chưa đáng kể, đến năm
2000 tăng lên 266 800 công nhân (bằng 3,8%), năm 2005 là 676 100 công
nhân (bằng 7,8%), đến đầu năm 2007 có khoảng 1,4 triệu công nhân
[31, tr.41; 2, tr.10].
Như vậy, công nhân trong thành phần kinh tế nhà nước có xu hướng
giảm về tỷ lệ trong cơ cấu giai cấp công nhân, nhưng đây vẫn là lực lượng
chủ đạo trong quá trình phát triển kinh tế nước ta theo định hướng xã hội chủ
nghĩa. Trong khi đó, công nhân trong khu vực kinh tế tư nhân, tập thể, kinh tế
có vốn đầu tư nước ngoài không ngừng tăng lên cả về số lượng tuyệt đối và tỷ
lệ trong cơ cấu giai cấp công nhân, lực lượng này đang đóng góp ngày càng
nhiều trong nền kinh tế quốc dân.
Cùng với quá trình thực hiện đường lối đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước, cơ cấu ngành nghề của giai cấp công nhân ngày
càng đa dạng và có sự chuyển biến quan trọng. Công nhân không chỉ hoạt
động trong các ngành công nghiệp nặng (cơ khí, khai mỏ, luyện kim), xây
dựng và dịch vụ, mà cả trong các ngành công nghiệp nhẹ, ngành nông- lâm-
ngư nghiệp; không chỉ hoạt động trong các ngành công nghiệp truyền thống
mà cả trong các ngành công nghiệp hiện đại như điện tử, tin học, các ngành tự
động hóa… tạo nên sự đa dạng về cơ cấu ngành nghề của giai cấp công nhân.
Hiện nay, nền kinh tế nước ta đang có sự chuyển biến theo hướng hiện
đại, kéo theo sự chuyển biến trong ngành nghề của giai cấp công nhân. Nhìn

mạnh của từng vùng miền, nhiều trung tâm kinh tế, trung tâm công nghiệp,
các khu chế xuất vừa và nhỏ hình thành và phát triển, đã giải quyết việc làm
tại chỗ cho nhiều lao động. Tuy nhiên, qua 20 năm đổi mới, nhìn chung sự
phân bố các ngành công nghiệp ở nước ta chưa đồng đều, chưa rộng khắp.
Chủ yếu tập trung ở những vùng kinh tế trọng điểm, những nơi có điều kiện
thuận lợi về địa lý, giao thông, trong khi những vùng miền xa trung tâm chưa

19
thực sự thu hút được các dự án lớn, còn ít các khu công nghiệp, khu chế
xuất… Điều này kéo theo tình trạng phân bố không đồng đều công nhân lao
động giữa các vùng miền, giữa các vùng trung tâm và xa trung tâm, vùng núi,
biên giới, hải đảo.
Nhìn chung, công nhân nước ta tuổi đời tương đối trẻ, năng động, trong
đó, công nhân từ 18 đến 30 tuổi chiếm 48,9%, số công nhân trên 50 tuổi chỉ
khoảng 4,8%. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, có số lượng công
nhân tuổi đời trẻ (từ 18 đến 30 tuổi) chiếm tỷ lệ cao nhất với 74,4%, trong khi
chỉ có khoảng 2% có tuổi đời trên 50 [2, tr.11].
Cơ cấu tuổi nghề của công nhân nước ta tương đồng với cơ cấu tuổi
đời, với 54,7% công nhân có số năm làm việc dưới 5 năm (tỷ lệ này ở doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 72,7%, trong doanh nghiệp tư nhân là
69,4%, trong doanh nghiệp ngành nông- lâm- thủy sản là 55,6%), khoảng
10.8% công nhân có thâm niên làm việc dưới 1 năm và chỉ có 9,7% công
nhân có thời gian làm việc trên 20 năm, số này tập trung chủ yếu ở doanh
nghiệp nhà nước và doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hóa [2, tr.11; 3, tr.8].
Như vậy, cơ cấu tuổi đời, tuổi nghề công nhân nước ta còn trẻ, một
mặt cho thấy, thời gian họ ra nhập vào giai cấp công nhân còn ngắn, chưa
được tôi luyện nhiều trong phong trào công nhân, và nếu không được quan
tâm giáo dục, rèn luyện thì họ dễ bị lôi cuốn bởi mặt trái kinh tế thị trường.
Mặt khác, cũng cho thấy, họ tham gia vào giai cấp công nhân chủ yếu trong
thời kỳ đổi mới, không bị ảnh hưởng của cơ chế cũ, do vậy, nhìn chung họ

hiện triệt để kéo theo quyền lợi của người công nhân, người lao động không
được đảm bảo, cũng như quan hệ giữa công nhân và người sử dụng lao động
có những diễn biến phức tạp.

21
Cùng với quá trình chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế theo hướng hiện đại
đã giải quyết nhu cầu việc làm của khối lượng lớn công nhân, lao động, góp
phần giải quyết tình trạng thiếu việc làm và thất nghiệp trong xã hội. Tuy
nhiên, về lâu dài, tính chất ổn định của việc làm chưa cao. Theo số liệu, chỉ có
83% công nhân trong các loại hình doanh nghiệp đang có việc làm ổn định.
Tỷ lệ này cao nhất ở doanh nghiệp nhà nước với 87,6% và thấp nhất là doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với 73,8%; có tới 14,7% công nhân thường
xuyên thiếu việc làm hoặc có việc làm nhưng không ổn định. Tỷ lệ này ở
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 20%, doanh nghiệp nhà nước là
10,7%, doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hóa là 9,3%, doanh nghiệp tư nhân
là 17,1% và hợp tác xã là 14,4% [3, tr.8]. Với số liệu trên cho thấy, chỉ có
công nhân trong các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp nhà nước đã cổ
phần hóa là có việc làm tương đối ổn định. Còn công nhân làm việc trong các
loại hình doanh nghiệp khác, nhất là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
thường bấp bênh, không ổn định. Điều này tác động không nhỏ đến đời sống
mọi mặt người công nhân như thu nhập, tỉnh cảm giai cấp, ý thức chính trị,
tâm lý vô sản
Bên cạnh đó, công nhân có việc làm nhưng số công nhân làm việc
chưa đúng với chuyên môn đào tạo còn cao. Theo số liệu có 26,3% công nhân
trong các loại hình doanh nghiệp làm việc không đúng hoặc gần đúng với
chuyên môn được đào tạo. Có 64,6% công nhân làm việc đúng với chuyên
môn được đào tạo, tỷ lệ này ở doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là
33,9%, doanh nghiệp tư nhân là 26,6%, hợp tác xã là 26,1%, doanh nghiệp
nhà nước là 25,6% và doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hóa là 20,7% [3,
tr.8]. Công nhân làm việc không đúng với chuyên môn được đào tạo có ảnh

với yêu cầu của thực tiễn, mạng lưới các tổ chức này còn mỏng. Hiện nay, có
khoảng 49% doanh nghiệp đã có Đảng bộ, chi bộ, 83,5% doanh nghiệp đã


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status