Biến đổi cấu trúc - chức năng gia đình ở làng Việt vùng châu thổ sông Hồng trước và sau đổi mới (Nghiên cứu trường hợp xã Tam Sơn, Từ Sơn, Bắc Ninh - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

MAI VĂN HUYÊN
BIẾN ĐỔI CẤU TRÚC - CHỨC NĂNG GIA ĐÌNH
Ở LÀNG VIỆT VÙNG CHÂU THỔ SÔNG HỒNG
TRƯỚC VÀ SAU ĐỔI MỚI
(Nghiên cứu trường hợp xã Tam Sơn, Từ Sơn, Bắc Ninh) LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Hà Nội - 2010

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN



1. Lý do chọn đề tài……………………………………………………… 4
2. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn…………………………………… 5
2.1. Ý nghĩa lý luận…………………………………………………………… 5
2.2. Ý nghĩa thực tiễn………………………………………………………… 5
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu………………………………………. 6
3.1. Mục tiêu………………………………………………………………… 6
3.2. Nhiệm vụ…………………………………………………………………. 6
4. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu…………………………… 8
4.1. Đối tượng nghiên cứu……………………………………………………. 8
4.2. Khách thể nghiên cứu……………………………………………………. 8
4.3. Phạm vi nghiên cứu……………………………………………………… 8
5. Phương pháp nghiên cứu……………………………………………… 9
5.1. Thu thập và phân tích nguồn tư liệu thứ cấp………………………… 9
5.2. Phỏng vấn trực tiếp bằng bảng hỏi qua mẫu ngẫu nhiên………… 10
5.3. Phỏng vấn sâu…………………………………………………………… 10
6. Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu. Các biến số và khung phân tích…… 10
6.1.Câu hỏi nghiên cứu………………….……………………………………10
6.2. Giả thuyết nghiên cứu…………………………………………………. 10
6.3. Khung phân tích vấn đề hay là tương quan giữa các biến số…… 11
7. Kết cấu luận văn…………………………………………………… 13

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI… 14
1.1. Định nghĩa và thao tác hóa khái niệm làm việc…………………… 14
1.1.1. Định nghĩa các khái niệm làm việc……………………………… 14
1.1.2. Thao tác hóa khái niệm làm việc……………………………………. 17

2

3 khoa học - kỹ thuật ….…………………………….………………………… 67
3.2.2. Tác động của nền kinh tế thị trường……………………… ……….69
3.2.3. Đời sống gia đình được nâng cao, môi trường xã hội được cải
thiện …………………………………………………………………………….70
3.3. Biến đổi chức năng gia đình và ảnh hưởng của nó đến đời sống gia
đình và xã hội ……………………………………………… 71
3.4. Trở lại 2 tiếp cận "lịch sử - so sánh" và "chức năng - cấu trúc"…… 73
KẾT LUẬN…………………………… ………………… ……… …75
TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………………….78
PHỤ LỤC……………….……….……………….…………………… 82

4 MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Từ ngày Đổi mới (1986) đến nay (2010), dưới sự tác động của nhiều sự
kiện kinh tế - chính trị - xã hội quan trọng, xã hội và văn hóa Việt Nam đã và
đang trải qua những biến đổi cực kỳ sâu sắc, trong đó có sự biến đổi của gia
đình trên cả ba phương diện: cấu trúc, chức năng và các mối quan hệ giữa vợ
và chồng, cha mẹ và con cái,v.v… Trên bình diện khoa học, nhất là Xã hội
học, nhiều tác giả đã cảm nhận được vấn đề này và cố gắng, từ một số góc
nhìn khác nhau, đã phản ánh sự biến đổi đó trong các công trình nghiên cứu
của mình.
Tuy nhiên, nếu nhìn nhận một cách tỉ mỉ và khách quan, ta sẽ dễ dàng

lịch sử khác nhau lại góp thêm vào những nét riêng độc đáo. Nghiên cứu sự
biến đổi cấu trúc – chức năng gia đình ở Tam Sơn trong thời kỳ Đổi mới, xét
trên bình diện lý luận, chính là một minh chứng cho nguyên lý tính thống nhất
trong đa dạng của gia đình nói chung, cũng như tính thống nhất trong đa dạng
trong biến đổi cấu trúc và chức năng của gia đình nói riêng.
2.1.2. Trong việc nghiên cứu đề tài, ngoài cách tiếp cận lịch sử - so
sánh, tác giả còn dựa vào lý thuyết cấu trúc – chức năng trong nghiên cứu
nhân học và xã hội học. Việc vận dụng quan điểm lý thuyết này cũng góp
phần tìm hiểu tính phổ biến cũng như khả năng ứng dụng của nó trong hoàn
cảnh và điều kiện cụ thể của Việt Nam.
2.2. Ý Nghĩa thực tiễn
2.2.1. Kết quả nghiên cứu này sẽ cung cấp thêm luận cứ khoa học cho
các nhà quản lý, nhất là các nhà quản lý ở địa bàn Tam Sơn trong việc hoạch
định các chính sách và biện pháp nhằm phát triển nông thôn, trong đó có các
chính sách về hôn nhân, về vai trò của gia đình trong việc giữ gìn và phát huy
các giá trị văn hóa truyền thống trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế nói

6 chung, cũng như hội nhập giữa Tam Sơn và các vùng miền ở Việt Nam nói
riêng.
2.2.2. Kết quả nghiên cứu của đề tài cũng có thể làm tài liệu tham khảo
cho sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh, cũng như cho tất cả những
ai quan tâm đến chủ đề biến đổi gia đình ở nông thôn hiện nay.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 . Mục tiêu
Nếu mục tiêu của mỗi nghiên cứu Xã hội học – cũng giống như các
khoa học khác nói chung – là tạo ra kiến thức mới, đồng thời bác bỏ những
kiến thức sai lầm hoặc bổ sung cho các kiến thức còn khiếm khuyết, thì mục

1960 1986 2010 Giai đoạn Bao cấp
Nếu gọi mô hình trước đổi mới là mô hình I, còn mô hình trong thời kỳ
Đổi mới là mô hình II, chúng ta có họa hình sau:

1960 1986 2010 Giai đoạn Bao cấp Giai đoạn Đổi mới
Mô hình I Mô hình II

Như vậy, nhiệm vụ đặt ra đối với nghiên cứu này là cần phải điều tra
khảo sát cả hai mô hình. Với mô hình I, cần điều tra hồi cố ở những người có
tuổi đời tương đối lớn, nghĩa là những người mà ở thời điểm từ 1985 trở về
trước họ đã có sự hiểu biết khá tường tận về gia đình riêng hoặc gia đình gốc
của bố mẹ - nơi mà họ đã sống. Còn mô hình II chỉ cần phỏng vấn trực tiếp
bằng bảng hỏi theo mẫu ngẫu nhiên, giống như mọi cuộc điều tra đương đại.

8 Cuối cùng, sau khi đã xử lý số liệu, lấy mô hình I làm chuẩn, rồi lấy mô hình
II so sánh với mô hình chuẩn, chúng ta sẽ thấy được sự biến đổi cấu trúc –
chức năng gia đình ở giai đoạn Đổi mới. Đây chính là nhiệm vụ quan trọng
nhất, đồng thời cũng là giải pháp không thể thiếu để thực hiện mục tiêu đã đề
ra.
4. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu

Phạm vi thời gian của cuộc nghiên cứu là trước và sau Đổi mới. Nhưng
thời điểm tiến hành cuộc khảo sát là năm 2010, có nghĩa là thời kỳ Đổi mới
đã có độ dài 25 năm. Thời điểm được chọn để phỏng vấn hồi cố là ngay trước
1986, cụ thể là năm 1985. Lấy khoảng thời gian tương ứng của thời kỳ Đổi
mới là 25 năm và ngược về trước thì mốc thời gian mở đầu của thời kỳ trước
Đổi mới là năm 1960. Như vậy, phạm vi thời gian của cuộc nghiên cứu có độ
dài 50 năm – trong đó từ 1960 đến 1986 được gọi là thời kỳ bao cấp, còn từ
1986 đến 2010 được gọi là thời kỳ Đổi mới.
4.3.3. Phạm vi vấn đề nghiên cứu
Cấu trúc và chức năng gia đình là những khái niệm có ngoại diên rất
rộng. Chẳng hạn, cấu trúc gia đình có thể được xem xét từ nhiều góc độ: qui
mô, thế hệ, loại hình, giới tính, nghề nghiệp, nhóm tuổi…, song trong nghiên
cứu này tác giả chỉ giới hạn ở việc xem xét 3 yếu tố, đó là: qui mô (số khẩu),
số thế hệ và loại hình gia đình. Cũng như vậy, gia đình vốn có nhiều chức
năng: sinh sản, kinh tế, xã hội hóa, thỏa mãn về tâm linh (thờ cúng), tình cảm,
vui chơi giải trí - ở đây tác giả cũng tự giới hạn ở 3 chức năng đầu.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Thu thập và phân tích nguồn tư liệu thứ cấp
Nhằm tổng hợp các kết quả nghiên cứu biến đổi gia đình từ các công
trình, các bài viết có liên quan của các nhà nghiên cứu trong nước và nước
ngoài đã được công bố. Nguồn tư liệu này không chỉ giúp tác giả có cái nhìn
tổng quát, để thừa kế và định hướng vấn đề nghiên cứu, mà còn để đối chiếu,

10 so sánh với các kết quả thu được từ cuộc khảo sát, qua đó thấy được tính phổ
biến cũng như tính đặc thù trong sự biến đổi gia đình ở Tam Sơn.
5.2. Phỏng vấn trực tiếp bằng bảng hỏi qua mẫu ngẫu nhiên
Để thu thập thông tin về cơ cấu và chức năng của gia đình Tam Sơn

nào?
6.1.2. Những yếu tố nào tác động đến sự thay đổi cấu trúc và chức năng
gia đình đó?
6.1.3. Sự thay đổi cấu trúc và chức năng gia đình ở Tam Sơn trong thời
kỳ Đổi mới có ảnh hưởng gì đến đời sống của gia đình và xã hội?
6.2.Giả thuyết nghiên cứu
6.2.1. Giả thuyết tổng quát
Trong thời kỳ Đổi mới, dưới tác động của sự chuyển đổi nền kinh tế từ
cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường, của công
nghiệp hóa, hiện đại hóa… cả cấu trúc và chức năng gia đình đều biến đổi rất
mạnh mẽ, song không vì vậy mà gia đình mất đi vai trò quan trọng của nó với
tư cách một thiết chế xã hội cả trong phạm vi gia đình - dòng họ, cả đối với
xóm làng và toàn xã hội nói chung.
6.2.2. Các giả thuyết phái sinh
6.2.2.1. Về mặt cấu trúc, gia đình ở Tam Sơn trong thời kỳ Đổi mới
đang vận hành theo xu hướng: quy mô gia đình nhỏ lại, số thế hệ ít đi, các
mẫu hình/ loại hình gia đình ngày càng đa dạng.
6.2.2.2. Về mặt chức năng, trong khi các chức năng sinh sản, xã hội hóa
có phần giảm xuống, thì chức năng kinh tế của gia đình – do tác động của nền
kinh tế thị trường, lại đang được phục hồi và ngày càng tăng lên.
6.3. Khung phân tích vấn đế, hay là tương quan giữa các biến số ề
6.3.1. Biến số phụ thuộc
Sự biến đổi cấu trúc và chức năng gia đình từ trước đổi mới đến nay.
6.3.2. Biến số độc lập
Đó là các nhóm xã hội khác nhau: về mức sống, nghề nghiệp, học vấn,
lứa tuổi… của người được phỏng vấn.

12
- Nền kinh tế thị
trường
- Tiến bộ khoa học -
kỹ thuật
- Các chính sách của
Nhà nước
- Truyền thống văn
hóa của địa phương
- Các lý do khác

Mô hình
I
(trước
Đổi
mới)

Mô hình
II
(hiện
nay) Những ảnh
hưởng trở lại

Châu thổ sông Hồng và Thời kỳ Đổi mới. Dưới đây sẽ lần lượt trình bày từng
khái niệm.
1.1.1.1. Gia đình
Gia đình là một khái niệm được nhiều ngành khoa học nghiên cứu và
được nghiên cứu từ khá sớm, song đến nay các định nghĩa về về gia đình vẫn
chưa thật sự làm cho các nhà nghiên cứu thỏa mãn. Theo cách nhìn vĩ mô thì
gia đình là một thiết chế xã hội, một đơn vị cơ sở được mọi người công nhận
để thực hiện những chức năng xã hội nhất định mà trước hết là sự tái sản sinh
loài người. Theo cách nhìn vi mô, gia đình được miêu tả là một nhóm gồm
một cặp vợ chồng chung sống với lớp kế cận trực tiếp của họ [34, tr 640].Còn
Liên Hiệp Quốc định nghĩa gia đình là đơn vị cơ bản của tổ chức xã hội và là
môi trường tự nhiên cho sự phát triển và hạnh phúc của mỗi thành viên, nhất
là trẻ em.
Ở Việt nam cũng có tình trạng tương tự. Luật Hôn nhân và Gia đình
của Việt Nam định nghĩa gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau
theo hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát
sinh các nghĩa vụ và quan hệ giữa họ với nhau. Một tác giả còn đưa thêm khái
niệm “hộ” vào trong định nghĩa của mình. Theo tác giả này thì hộ gia đình là
một nhóm những người thường xuyên có quan hệ gia đình hoặc đôi khi không

15 có quan hệ gia đình với nhau nhưng cùng sống chung, cùng sở hữu chung về
tài sản và các tư liệu sản xuất, cùng tham gia các hoạt động kinh tế chung và
cùng hưởng thụ những thành quả sản xuất chung của họ [28, tr 34].
Như vậy, có thể nói, cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa nào về
gia đình mang tính phổ biến, có thể áp dụng trong mọi trường hợp nghiên cứu
về gia đình. Vì vậy, trong nghiên cứu này, chúng tôi tìm hiểu và lựa chọn một
định nghĩa cho gia đình người Kinh ở Việt Nam vào thời điểm đầu thế kỷ

dẫn đến sự biến đổi về mặt hình thái của nó trên tất cả các phương diện cơ
bản như cấu trúc, chức năng và các mối quan hệ vốn có của nó. 16 1.1.1.3. Làng Việt
Nước Việt Nam có 54 dân tộc, trong đó người Việt (Kinh) là một tộc
người có dân số lớn nhất, đã cùng chung sống lâu đời với 53 dân tộc anh em
khác. Tuy nhiên, mỗi dân tộc vẫn có cách tụ cư riêng, với những danh xưng
khác nhau: làng, bản, buôn, sóc, play, ấp, v.v… Khái niệm làng Việt ở đây
được dùng để chỉ đơn vị tụ cư nhỏ nhất của người Việt. Trước đây, làng là
đơn vị hành chính cấp cơ sở của quốc gia – dân tộc, nhưng từ kháng chiến
chống Pháp (1946 – 1954), vai trò này đã chuyển cho xã, làng chỉ còn tồn tại
với tư cách một đơn vị văn hóa và là một bộ phận hợp thành của xã. Nhưng
cũng có những trường hợp đặc biệt, đó là những trường hợp “nhất xã nhất
thôn” – tức vừa là làng vừa là xã, song thông thường thì mỗi xã được cấu
thành từ 3 – 4 làng trở lên. Lấy làng làm đơn vị khảo sát, nhất là khảo sát về
lịch sử, nhà nghiên cứu sẽ tránh được những khó khăn trong việc thay đổi đơn
vị hành chính ở cơ sở.
1.1.1.4. Châu thổ sông Hồng
Châu thổ sông Hồng là cái nôi văn hóa của người Việt. Hiểu được gia
đình và sự biến đổi gia đình của người Việt ở châu thổ sông Hồng là đã hiểu
được một cách cơ bản về gia đình và sự biến đổi gia đình của người Việt trên
phạm vi cả nước nói chung. Hiện nay, châu thổ sông Hồng được quan niệm là
một vùng đất có hình tam giác, đỉnh là Việt Trì, đáy chạy dài từ Phát Diệm
đến vịnh Hạ Long, trong đó bao gồm các tỉnh: Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hà Nội,
Bắc Ninh, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình, Hưng Yên, Hải
Dương, Hải Phòng và Quảng Ninh.

quát đến cụ thể, chúng ta đã thao tác hóa khái niệm này qua các chỉ báo khái
niệm ở mức đầu tiên, mức thứ 2, thứ 3…(gọi là chỉ báo trung gian) để đến các
khái niệm thực nghiệm, như gia đình độc thân, gia đình 2 người…, gia đình
một thế hệ, 2 thế hệ…, loại hình gia đình chỉ có vợ chồng, vợ chồng + bố mẹ
hoặc thậm chí chỉ có ông cháu…Các chỉ báo thực nghiệm như vậy giúp cho
việc hình thành bộ câu hỏi định lượng, nhằm đo lường sự biến đổi cấu trúc gia

18 đình trên nhiều phương diện khác nhau như qui mô (số khẩu), số thế hệ và
loại hình gia đình, v.v…
Sơ đồ 1: Thao tác hóa khái niệm cấu trúc gia đình Khác
Vợ/
chồng
+
con Khác
Vợ/
chồng
+
Con
+
bố mẹ
Ông
/bà
+
cháu khác

Độc
thân

Hai
người



Vợ/
chồng
+
con

19 Sơ đồ 2: Thao tác hóa khái niệm chức năng gia đình

Chú thích:
- Sản xuất, kinh doanh: 1: trồng trọt; 2: chăn nuôi; 3: thủ công, dịch
vụ…
- Tiêu dùng: 4: ăn; 5: mặc; 6: ở, đi lại…

tế
Số
con
mong
muốn
Quan
niệm
về số
con
Sản
xuất
kinh
doanh
Tiêu
dùng
Cho
con đi
học
Dạy
bảo
hàng
ngày
Các
công
việc
khác

1
0


Tiếp cận lịch sử - so sánh là cách tiếp cận nghiên cứu coi việc nhìn
nhận một sự vật, hiện tượng trong các xã hội hay các nền văn hóa diễn ra theo
một quá trình, trong đó có nhiều giai đoạn lịch sử cụ thể khác nhau. Trong
mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể, do chịu sự chế định của những điều kiện khách
quan và chủ quan khác nhau, nên các sự vật, hiện tượng – với tư cách là đối
tượng cần quan sát của nhà nghiên cứu – cũng tồn tại dưới những trạng thái
khác nhau. Nếu đem so sánh các trạng thái khác nhau này, chúng ta sẽ dễ
dàng thấy được sự biến đổi của sự vật hiện tượng từ giai đoạn này sang giai
đoạn khác. Quan điểm lịch sử - so sánh có một ý nghĩa phương pháp luận rất
lớn, nó không chỉ giúp cho nhà khoa học xác định rõ đối tượng nghiên cứu
trong từng giai đoạn lịch sử - cụ thể, mà còn tránh được lỗi logic thông
thường là lấy cái nhìn của ngày hôm nay để phán xét những gì đã xảy ra hôm
qua và ngược lại.
Vận dụng cách tiếp cận lịch sử - so sánh vào việc thực hiện đề tài “Biến
đổi cấu trúc – chức năng gia đình làng Việt vùng châu thổ sông Hồng trước và
sau Đổi mới”, chúng ta dễ dàng nhận ra sự biến đổi này cũng diễn ra trong
một quá trình kinh tế - xã hội với hai giai đoạn lịch sử khác nhau: giai đoạn
trước Đổi mới (từ 1985 trở về trước) và giai đoạn Đổi mới (từ 1986 đến nay).
Vậy, xét về mặt lịch sử, hai giai đoạn này khác nhau như thế nào?

21 Chúng ta đều biết, giai đoạn lịch sử trước Đổi mới ở nước ta chịu sự
chế định của nhiều sự kiện kinh tế - chính trị khác nhau, trong đó có 2 sự kiện
có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Thứ nhất, đó là phong trào hợp tác hóa ở nông
thôn, kể cả trong sản xuất nông nghiệp cũng như trong các ngành nghề khác.
Đặc trưng của giai đoạn này là việc quản lý kinh tế theo cơ chế tập trung quan
liêu bao cấp. Ở nông thôn, tất cả lao động, ruộng đất, trâu bò và các công cụ
sản xuất đều tập trung vào hợp tác xã nông nghiệp. Hợp tác xã không chỉ thực

chìm lấp đi khá nhiều ở thời bao cấp. Bên cạnh việc đổi mới trong quản lý
kinh tế, giai đoạn từ 1986 đến nay ở nước ta cũng là giai đoạn thúc đẩy tiến
trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, giai đoạn mở cửa hội nhập
với khu vực và thế giới, v.v… mà ở thời bao cấp chưa có được.
Hai giai đoạn lịch sử trước và sau Đổi mới (1986) là hai giai đoạn rất
khác nhau không chỉ ở phương diện kinh tế, mà còn cả ở phương diện chính
trị, xã hội và văn hóa. Sự khác biệt này cố nhiên có tác động không nhỏ đến
cấu trúc và chức năng gia đình. Nói theo ngôn ngữ xã hội học là: biến số phụ
thuộc cấu trúc – chức năng gia đình ở hai giai đoạn trước và sau Đổi mới, do
chịu sự chế định của những biến số can thiệp khác nhau, nên tất yếu nó phải
có những trạng thái khác nhau. Như vậy, cách tiếp cận lịch sử - so sánh không
chỉ giúp người nghiên cứu thấy được sự biến đổi, mà cả những nguyên nhân
dẫn đến sự biến đổi ấy.
1.2.2. Tiếp cận theo thuyết chức năng – cấu trúc
Lý thuyết chức năng - cấu trúc, là một lý thuyết rất quan trọng trong
các ngành Nhân học, Dân tộc học, Xã hội học… Lý thuyết này cho rằng:
- Xã hội tồn tại như một hệ thống, trong đó bao gồm các yếu tố có quan
hệ với nhau và mạng lưới các mối quan hệ đó tạo thành cấu trúc của hệ thống;
- Mỗi yếu tố của hệ thống, đến lượt mình, đều có thể là một hệ thống
con và dưới hệ thống con lại có những hệ thống con nhỏ hơn nữa; và
- Mọi hệ thống đều có quan hệ mật thiết với môi trường, kể cả môi
trường tự nhiên và môi trường xã hội bao quanh.

23 Tiếp cận nghiên cứu đề tài “Biến đổi cấu trúc – chức năng gia đình”
chúng ta cần đặt các câu hỏi, ví dụ cấu trúc của gia đình là gì? Trả lời câu hỏi
này, chúng ta dễ dàng nhận thấy cấu trúc gia đình cũng là một hệ thống, bao
gồm các yếu tố quan trọng như qui mô, số thế hệ, các loại hình gia đình và sự


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status