TRNG I HC QUC GIA H NI
Tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn quốc gia
Khoa xã hội học Lấ TH LINH CHI
Nhn thc, hnh vi ca tr em ng ph
i vi nhng nguy c v hnh vi
xõm hi tỡnh dc tr em
(Qua kho sỏt ti Hu v H Ni)
luận văn thạc sỹ
Chuyên ngành xã hội học
Mã số: 60 31 30 GIO VIấN HNG DN: TS. Nguyễn Quý Thanh
Hà nội, 2007
3.2 Hành vi xâm hại tình dục trẻ em 34
CHƢƠNG II. TRẺ EM ĐƢỜNG PHỐ VÀ VẤN ĐỀ XÂM HẠI 36
TÌNH DỤC TRẺ EM. 36
I. MÔ TẢ MẪU NGHIÊN CỨU 36
1 Lứa tuổi 36
2 Nơi ở hiện tại 36
3 Trình độ học vấn 38
4. Nguyên nhân của hiện tƣợng trẻ em đƣờng phố 40
II. Thực trạng xâm hại tình dục trẻ em đƣờng phố trong mẫu nghiên cứu tại thành phố Huế
và Hà Nội. 42
1.Những hình thức XHTD trẻ em đƣờng phố phổ biến 42
2. Xu hƣớng khác biệt về giới trong nguy cơ bị xâm hại tình dục 44
III. Nhận thức và hành vi tìm kiếm sự giúp đỡ của trẻ em đƣờng phố đối với những nguy
cơ và hành vi xâm hại tình dục 50
1. Nhận thức của trẻ em đƣờng phố đối với những hành vi và nguy cơ bị xâm hại 51
2. Hành vi tìm kiếm sự giúp đỡ của trẻ em đƣờng phố trƣớc nguy cơ bị xâm hại 55
IV. Một số yếu tố ảnh hƣởng đến nhận thức của trẻ em đƣờng phố trƣớc những nguy cơ và
hành vi bị xâm hại tình dục. 58
1 Môi trƣờng sống của trẻ em đƣờng phố 58
2 Môi trƣờng làm việc – Quá trình tiếp nhận thông tin ngoài xã hội 61
3 Sự quan tâm, giáo dục của gia đình đối với trẻ em đƣờng phố 66
3
4. Hiệu quả của các chƣơng trình hành động phòng chống xâm hại tình dục trẻ em
đƣờng phố 69
V. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 76
1. Kết luận 76
2. Khuyến nghị 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
5
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Lạm dụng tình dục trẻ em là một vấn đề gây hậu quả nghiêm trọng đối
với trẻ em trên toàn thế giới nói chung trong đó có Việt Nam. Lạm dụng tình
dục trẻ em diễn ra ở tất cả mọi vùng miền nhƣng phổ biến hơn tại các thành phố
lớn – những nơi đang ngày ngày phải đối mặt với những thay đổi sâu sắc về
kinh tế, văn hoá và xã hội.
Trẻ em đƣờng phố có mặt trên khắp thế giới đặc biệt là những nƣớc thuộc
thế giới thứ 3. Chúng là nạn nhân của sự rạn nứt các mối quan hệ gia đình và xã
hội, là những đứa trẻ dễ bị tổn thƣơng nhất, dễ bị bóc lột dƣới nhiều hình thức.
Có thể nói, trẻ em đƣờng phố là nhóm trẻ em có nguy cơ bị lạm dụng tình dục
cao nhất đặc biệt là nhóm trẻ em gái.
Trẻ em đƣờng phố chiếm một bộ phận không nhỏ trên tổng số trẻ em
Việt Nam Theo ƣớc tính của Bộ Lao động, Thƣơng binh và Xã hội, hiện nay
cơ và hành vi xâm hại tình dục trẻ em” đặt ra các câu hỏi: nhóm trẻ em đƣờng
phố nhận thức nhƣ thế nào về các nguy cơ và hành vi xâm hại tình dục? Sự
nhận thức ấy có mối liên hệ nhƣ thế nào tới thái độ và hành vi tìm kiếm sự giúp
đỡ của các em trƣớc những tình huống bị xâm hại? Nghiên cứu này mong muốn
cung cấp cái nhìn sâu hơn cho các nhà quản lý, các cơ quan chức năng chuyên
trách vấn đề trẻ em đƣờng phố tại hai địa bàn nghiên cứu từ đó có thể xây dựng
hoặc điều chỉnh các chƣơng trình, chính sách, hoạt động phòng chống xâm hại
tình dục trẻ em đƣờng phố. Bên cạnh đó, trên cơ sở phân tích các kết quả
nghiên cứu, chúng tôi cũng hƣớng tới việc đề xuất một số giải pháp, khuyến
nghị tập trung vào lĩnh vực phòng chống xâm hại tình dục trẻ em đƣờng phố với
hy vọng những đề xuất, kiến nghị này sẽ là những gợi ý tốt cho các nhà hoạch
định chính sách. 7
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đƣợc tiến hành nhằm mục đích tìm hiểu những yếu tố tác động đến
nhận thức và hành vi cuả trẻ em đƣờng phố đối với những nguy cơ và hành vi
xâm hại tình dục trẻ em. Trên cơ sở kết quả thu đƣợc, chúng tôi mong muốn sẽ
đề xuất đƣợc một số giải pháp nhằm hạn chế tình trạng xâm hại tình dục trẻ em
đƣờng phố.
2.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm hiểu các hình thức xâm hại tình dục mà trẻ em đƣờng phố đang phải đối
mặt.
- So sánh nguy cơ và hình thức xâm hại tình dục giữa trẻ em trai và trẻ em gái
lang thang đƣờng phố.
- Tìm hiểu nhận thức của trẻ em đƣờng phố đối với những hành vi xâm hại
tình dục trẻ em.
- Tìm hiểu hành vi tìm kiếm sự giúp đỡ của trẻ em đƣờng phố sau khi bị xâm
vấn sâu và thảo luận nhóm đối với lãnh đạo chính quyền địa phƣơng và các ban
ngành chức năng. Phƣờng Phúc Xá và phƣờng Phú Hậu là 2 phƣờng tập trung
nhiều trẻ em lang thang kiếm sống trên đƣờng phố.
Các địa bàn nghiên cứu đều đƣợc lựa chọn dựa trên sự thảo luận với các cán bộ
UBDSGĐTE của 2 thành phố sau khi cân nhắc các đặc điểm kinh tế xã hội của
địa bàn và những đặc điểm của nhóm trẻ em đƣờng phố tại địa bàn nghiên cứu
phù hợp với những tiêu chí lựa chọn mẫu ban đầu.
4. Giả thuyết nghiên cứu và khung lý thuyết
4.1. Giả thuyết nghiên cứu
9
- Trẻ em đƣờng phố không nhận thức đầy đủ về hành vi và những nguy cơ
xâm hại tình dục trẻ em
- Hành vi tìm kiếm sự giúp đỡ của trẻ em đƣờng phố trƣớc những nguy cơ và
hành vi bị xâm hại tình dục phụ thuộc vào nhận thức của trẻ về những hành
vi xâm hại tình dục trẻ em đƣờng phố.
- Trẻ em đƣờng phố có xu hƣớng không tìm kiếm sự giúp đỡ, hỗ trợ sau khi bị
xâm hại tình dục.
10
4.2. Khung lý thuyt
Nhận thức của TEĐP về nguy cơ và
hành vi XHTDTE
Hành vi tìm kiếm sự giúp đỡ của TEĐP
đối với các tình huống XHTDTE
- Trình độ học vấn
- Lứa tuổi
- Giới tính - Điều kiện sống
- Sự giáo dục của
cha mẹ
- Môi tr-ờng làm
việc
- Các chng
trình truyền
thông
PCXHTDTEDP 11
5. Phng phỏp nghiờn cu
Phng phỏp phõn tớch ti liu th cp
Nghiên cứu sử dụng thông tin, s liu từ các báo cáo tỡnh hỡnh kinh tế - xã
hội, bỏo cỏo v tỡnh hỡnh tr em lang thang ca của cỏc a bn kho sỏt, cỏc
nghiờn cu có liên quan ca cỏc tỏc gi ó c thc hin, một số bài viết trên
- Nhúm tr em ng ph nam : 2 nhúm
- Nhúm tr em ng ph n: 2 nhúm
Mi nhúm gm 6 em. Ti mi thnh ph thc hin mt cuc tho lun vi
nhúm tr em ng ph nam v mt cuc tho lun vi nhúm tr em ng ph
n.
- Nhúm lónh o a phng ni tp trung nhiu tr em ng ph gồm: đi
din UBND, y t, cụng an, cỏn b cụng tỏc xó hi (CTXH), cỏn b
UBDSGTE
20 cuc phng vn sõu ó c thc hin ti hai thnh ph (10 phng
vn sõu/1 thnh ph) vi tr em ng ph: gm nhng tr em ó tng b xõm
hi tỡnh dc.
Nhng tr em ny c la chn t s gii thiu ca cỏn b đội công tác xã
hội, cỏn b UBDSGTE, cán bộ mái ấm 19-5 v t cỏc bng phng vn.
Phng vn sõu cng c thc hin vi 10 i din UBND, y t, cụng an,
cỏn b UBDSGTE, cỏn b CTXH ti phng Phỳ Hu thnh ph Hu v
phng Phỳc Xỏ - Qun Ba ỡnh, H Ni.
Phng phỏp quan sỏt
Phng phỏp quan sỏt c s dng trong quỏ trỡnh thc hin cỏc phng
vn sõu v tho lun nhúm cng nh iu tra thu thp thụng tin nh lng ti
a bn nghiờn cu t ra rt hu ớch.
Đặc biệt một số quan sỏt không tham dự đối với hnh vi giao tip ca cỏc
em i vi khỏch hng v phn ng ca tr em ũng ph trc nhng tỡnh
hung, hnh vi quy ri tỡnh dc ca khỏch hng đã đ-ợc tiến hành tại địa bàn
làm việc của các em. Cỏc quan sỏt ny khụng s dng bng kim. tin hnh
các quan sỏt ny, nhóm nghiên cứu ó trc tip n cỏc a bn tp trung nhiu
13
tr em ng ph lm vic. Ti õy, qua quan sỏt, chỳng tụi nhn thy cú s
khỏc bit liờn quan n yu t gii gia nhúm tr em nam v tr em n trong
hnh vi v thỏi giao tip ca cỏc em vi khỏch hng. Kt hp quan sỏt v
em đƣờng phố). Các cuộc phỏng vấn đƣợc thực hiện ở giai đoạn 1 nhằm mục
đích kiểm tra thử nội dung của các câu hỏi trong bảng phỏng vấn và các bản
hƣớng dẫn phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm cũng nhƣ phƣơng pháp/cách thức
thực hiện phỏng vấn trên cơ sở đó có sự điều chỉnh về nội dung câu hỏi, từ ngữ
sử dụng trong bảng hỏi và rút kinh nghiệm cho công việc điều tra thực địa chính
thức.
Trong giai đoạn 2, tại thành phố Hà Nội, các cuộc phỏng vấn đã đƣợc
thực hiện với trẻ em đƣờng phố đang học tập tại mái ấm 19-5 của Quận Ba
Đình thuộc phƣờng Phúc Xá từ ngày 5 đến ngày 20 tháng 11 năm 2006. Đây là
thời gian diễn ra Hội nghị cấp cao APEC. Trẻ em đƣờng phố thuộc địa bàn
phƣờng Phúc Xá và Quận Ba Đình đều đƣợc thu gom về mái ấm. Trong thời
gian này, các em không đƣợc làm việc trên đƣờng phố nên các cuộc phỏng vấn
diễn ra tập trung tại 1 địa điểm và khá thuận lợi về mặt thời gian. Tại thành phố
Huế, chúng tôi đã lùa chän địa bàn thu thập thông tin ở một số tuyến đƣờng,
phố tập trung nhiều trẻ em đƣờng phố nhƣ: Lê Lợi, Hàn Thuyên, Lê Thánh Tôn,
Mai Thúc Loan Các cuộc phỏng vấn bảng hỏi, phỏng vấn bán cấu trúc diễn ra
trên đƣờng phố, tại các quán cà phê, từ 7h sáng đến 10h tối là thời gian các em
làm việc. Các cuộc thảo luận nhóm với trẻ em đƣờng phố đƣợc thực hiện tại lớp
học tình thƣơng phƣờng An Cựu. Trẻ em đƣờng phố thƣờng làm việc trên một
phạm vi nhất định. Nhƣng để tránh trùng lặp đối tƣợng vì các em có thể di
chuyển giữa các địa bàn thu thập thông tin, chóng t«i gặp nhau 3 lần cố định
trong 1 ngày để thống kê số lƣợng và thông báo danh sách những đối tƣợng đã
đƣợc hỏi.
15
Từ các cuộc phỏng vấn đã thực hiện ở giai đoạn 1, chúng tôi đã rút ra
một số kinh nghiệm trong việc tiếp cận thu thập thông tin đối với nhóm trẻ em ở
giai đoạn 2.
Tạo dựng sự thân thiện bằng cách làm quen và bắt đầu câu chuyện với sự
cởi mở và tinh thần chia sẻ với các em trƣớc khi đặt ra những câu hỏi.
khi gặp phải những hành vi ở mức độ quấy rối tình dục thì các em do không
nhận thức đƣợc đó là hành vi XHTD hoặc sợ bị đổ lỗi về mình hay do xấu
hổ…mà các em cũng thƣờng có xu hƣớng giữ kín những câu chuyện này.
Xuất phát từ những đặc trƣng văn hóa, xã hội, thành phố Huế là một
thành phố mà sự tồn tại và chi phối của các giá trị đạo đức truyền thống còn rất
mạnh mẽ trong quan niệm và hành vi của các cá nhân. Vấn đề xâm hại tình dục
trẻ em vẫn là một vấn đề nhạy cảm và chƣa đƣợc phổ biến rộng rãi trong cộng
đồng. Bên cạnh đó, nhóm trẻ em đƣờng phố trong không có những cơ hội đƣợc
cung cấp những kiến thức về phòng chống XHTDTE nhƣ nhóm trẻ em đƣờng
phố tại Hà Nội khi tham gia vào các dự án và học tập tại Mái ấm 19-5. Chính vì
vậy, mức độ cởi mở của nhóm trẻ em đƣờng phố tại thành phố Huế trong việc
cung cấp thông tin về những trải nghiệm bị xâm hại tình dục không cao bằng
nhóm trẻ em đƣờng phố tại Hà Nội
Thứ 2, về phía chủ quan, cụ thể là do việc sử dụng phƣơng pháp phỏng
vấn bằng bảng hỏi cũng nhƣ địa điểm diễn ra các cuộc phỏng vấn là trên các
đƣờng phố nên không tránh khỏi những yếu tố gây nhiễu nhƣ: sự tò mò của
những ngƣời xung quanh, bạn bè đi cùng các em, tiếng ồn…nên có thể các em
không cung cấp những thông tin thật về vấn đề này.
Nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở việc tiếp cận với nhóm trẻ em đƣờng
phố sống cùng với cha mẹ, ngƣời thân, sống trong các mái ấm tình thƣơng hoặc
có sự bảo hộ mà chƣa tiếp cận với nhóm trẻ em đƣờng phố là những em lang
thang không nhà cửa, làm các công việc kiếm sống trên đƣờng phố để tồn tại.
17
Để tiếp cận với nhóm này, cần phải thiết kế phƣơng pháp cũng nhƣ bộ công cụ
phù hợp.
Mục đích nghiên cứu đặt ra ban đầu là nghiên cứu nhận thức của trẻ em
đƣờng phố nói chung. Trong quá trình nghiên cứu, việc chọn mẫu ban đầu cũng
nhƣ phân tích thông tin, số liệu cũng đi vào so sánh nhận thức cũng nhƣ hành vi
giữa nhóm trẻ em gái và nhóm trẻ em trai đƣờng phố. Tuy nhiên, những phân
ú. Quỏ trỡnh xó hi hoỏ din ra trong cỏc mụi trng xó hi hoỏ, ú l ni cú
th thc hin thun li cỏc tng tỏc xó hi ca cỏc cỏ nhõn nhm mc ớch thu
nhn v tỏi to kinh nghim xó hi. Mụi trng xó hi hoỏ chớnh l vn m
ca nhõn cỏch ng thi l ng ng m rng cỏc kinh nghim xó hi cú
th n vi cỏc cỏ nhõn. Ba mụi trng xó hi hoỏ cỏ nhõn chớnh l: gia ỡnh,
nh trng v xó hi
2
.
Thụng thng thỡ mụi trng gia ỡnh v nh trng l hai mụi trng cú
nh hng ln nht trong vic hỡnh thnh nhõn cỏch ca tr. Tuy nhiờn, vi tr
em ng ph thỡ mụi trng bờn ngoi gia ỡnh li cú tỏc ng nhiu nht bi
phn ln thi gian trong ngy ca cỏc em l trờn ng ph tip xỳc vi cỏc
thnh phn xó hi khỏc nhau. Bờn cnh ú, vỡ nhúm tr em ng ph trong
mu nghiờn cu l nhúm tr vn ang sng cựng gia ỡnh v tham gia hc tp
ti mt s mụ hỡnh giỏo dc nh: lp hc tỡnh thng, trng hc chớnh quy,
mỏi m tỡnh thngnờn mụi trng gia ỡnh v nh trng cng cú nh
hng nht nh i vi quỏ trỡnh hỡnh thnh nhõn cỏch v li ng x ca cỏc
em.
Lý thuyt xó hi hoỏ cỏ nhõn cho phộp chỳng ta gii thớch s nh hng
ca nhng c im c coi l cỏc tỏc nhõn quan trng trong mụi trng xó
hi hoỏ ca tr em ng ph nh hon cnh gia ỡnh, s a dng ca cỏc thnh
phn xó hi trong cỏc quan h giao tip trờn ng ph, s phc tp ca cỏc
2
Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng (Đồng chủ biên), Xã hội học, NXB ĐHQG Hà Nội, 2001
19
vấn đề xã hội diễn ra hàng ngày, cách tiếp nhận thông tin của trẻ em đƣờng phố,
những trải nghiệm đối với hành vi xâm hại tình dục…đến quá trình nhận thức,
ứng xử và hành vi của trẻ em đƣờng phố nói chung và đặc biệt là đối với những
20
1.2 Lý thuyết học hỏi x· héi
Lý thuyết học hỏi xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc lý giải hành
vi của trẻ em đƣờng phố trƣớc những hành vi và nguy cơ xâm hại tình dục trẻ
em. Tuy nhiên, trƣớc khi tìm hiểu lý thuyết học hỏi xã hội, chúng ta sẽ đi vào
một số quan điểm về nhóm đồng đẳng và vai trò của nó đối với sự hình thành
và phát triển nhân cách của cá nhân và ở một phạm vi hẹp hơn, đối với sự hình
thành nhận thức và hành vi của cá nhân sẽ làm sáng tỏ hơn cho việc vận dụng lý
thuyết học hỏi xã hội sau này.
Nhóm đồng đẳng là một nhóm ngƣời có cùng chung một đặc điểm nào đó
nhƣ lứa tuổi, địa vị xã hội, sở thích hoặc nghề nghiệp Nhóm đồng đẳng đóng
vai trò quan trọng trong việc phát triển nhân cách của một cá nhân. Với một số
nhóm xã hội, nhóm đồng đẳng đóng vai trò quan trọng hơn cả so với vai trò của
gia đình hay nhà trƣờng hay các thể chế xã hội trong quá trình xã hội hoá cá
nhân. Nhóm đồng đẳng có vai trò quan trọng trong việc tạo áp lực nhóm đối với
mỗi hành vi của các thành viên. Việc một cá nhân hành động ngƣợc lại với
nhóm đồng đẳng có thể khiến cá nhân ấy cảm thấy tách rời nhóm
4
. Với những
đặc thù về môi trƣờng gia đình, xã hội, môi trƣờng xã hội hoá đƣợc coi là có ý
nghĩa quan trọng nhất đối với trẻ em đƣờng phố là môi trƣờng xã hội, bởi phần
lớn thời gian trong ngày của các em dành cho đƣờng phố, nơi diễn ra rất nhiều
các tƣơng tác xã hội với chủ yếu với 2 nhóm: khách hàng và những đứa trẻ
đƣờng phố khác. Theo quan điểm trên thì nhóm đồng đẳng của trẻ em đƣờng
phố chính là nhóm bao gồm những đứa trẻ đƣờng phố có mối quan hệ với nhau
dựa trên một đặc điểm chung hay giống nhau nào đó bất kỳ. Và sự hình thành
cũng nhƣ phát triển nhận thức, hành vi của trẻ em đƣờng phố phụ thuộc, chịu
ảnh hƣởng rất nhiều từ những trẻ em đƣờng phố khác trong nhóm của chúng.
đến việc định hƣớng hành vi ứng xử của trẻ em đƣờng phố, trở thành những
khuôn mẫu hành vi.
2. Tổng quan nghiên cứu
Cho đến nay, có khá nhiều cuộc nghiên cứu, khảo sát về trẻ em đƣờng
phố đƣợc thực hiện với những quy mô và mức độ khác nhau, với sự tham gia
của nhiều cơ quan nhà nƣớc, tổ chức xã hội và tổ chức phi chính phủ. Các
5
Social learning theory,
Truy cËp lÇn cuèi: 23 giê, 15/11/2007 22
nghiên cứu đã đƣa ra những phát hiện về trẻ em đƣờng phố tập trung vào các
khía cạnh nhƣ phân loại/nhóm trẻ em đƣờng phố, hoàn cảnh sống và nguyên
nhân hiện tƣợng trẻ em đƣờng phố, nguyên nhân khiến trẻ em đƣờng phố tham
gia vào tệ nạn xã hội v.v.
Phân loại nhóm trẻ em đƣờng phố
Trong nghiên cứu “Trẻ bụi đời tại thành phố Hồ Chí Minh” (1992) tác
giả Timothy.W.Bond đã phân loại nhóm trẻ em đƣờng phố để mô tả trẻ em
đƣờng phố tại địa bàn này. Theo đó, nhóm trẻ đƣờng phố đƣợc phân làm 3
nhóm dựa trên tiêu chí về nơi ở nhƣ sau:
- Nhóm A: gồm những trẻ em đã rời bỏ gia đình hoặc không có gia đình,
nhà cửa và ngủ ngoài phố
- Nhóm B: là những trẻ em ngủ ngoài đƣờng phố cùng gia đình hoặc ngƣời
bảo hộ.
- Nhóm C: là những trẻ em có gia đình hoặc ngƣời bảo hộ và thƣờng ngủ
trong nhà.
Cũng đi vào phân nhóm trẻ em đƣờng phố nhƣng trong nghiên cứu: “Tìm
hiểu các gia đình có hoàn cảnh khó khăn: Nghiên cứu tình huống một số gia
LĐTBXH thực hiện vào tháng 9 năm 1995 ở 17 tỉnh thành trong cả nƣớc với
2345 em đƣợc phỏng vấn trong độ tuổi dƣới 16 đã chỉ ra rằng nguyên nhân thực
chất của việc trẻ em rời bỏ gia đình không phải bắt nguồn từ sự chối bỏ của gia
đình mà nguyên nhân lớn nhất bắt nguồn từ kinh tế gia đình khó khăn (66,5%
trẻ trở thành trẻ em đƣờng phố do gia đình nghèo, 8,6% do cha mẹ li dị, 4,6% là
do gia đình ghét bỏ, 6,4% do bạn bè rủ rê và 2,7% do học dốt). Sự rời bỏ gia
đình của các em chỉ là sự di cƣ tạm thời đến những nơi có điều kiện sống tốt
hơn và dễ kiếm tiền hơn. Nghiên cứu cũng cho rằng, nhóm trẻ em đƣờng phố
24
rất dễ thích nghi với cuộc sống mới và không muốn quay trở về quê nhà nữa.
Một phát hiện của nghiên cứu cũng rất đáng lƣu tâm đó là trẻ em đƣờng phố là
nhóm có nguy cơ phạm pháp cao, chúng dễ có những hành vi phạm pháp, kết
thành băng nhóm trộm cƣớp, nghiên hút, mại dâm v.v…
Một nghiên cứu khác về trẻ em đƣờng phố “Khảo sát trẻ lang thang
đƣờng phố ở TP HCM” do UNICEF tài trợ (1994) cũng đề cập đến lý do xa
nhà, xa gia đình sống lang thang của trẻ đƣờng phố. Kết quả nghiên cứu cho
thấy không chỉ do gia đình nghèo, muốn kiếm tiền phụ giúp gia đình mới khiến
cho trẻ em di cƣ ra thành phố mà còn vì hoàn cảnh gia đình tác động nhƣ: cha
mẹ li dị, mồ côi cha mẹ, hay do bạn bè rủ rê lôi kéo, muốn sống cuộc sống tự
lập…
Trong “Tìm hiểu về trẻ em đƣờng phố ở Hà Nội qua một cuộc khảo sát”
(1996) tác giả Phùng Tố Hạnh đƣa ra nhận định rằng nguyên nhân của hiện
tƣợng trẻ em đƣờng phố là do những biến đổi về kinh tế tác động đến lĩnh vực
an ninh xã hội mà điển hình là lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ và giáo dục. Tác giả
cho rằng, những biến động của kinh tế thị trƣờng khiến ngân sách y tế bị cắt
giảm, chi phí khám chữa bệnh tăng thay cho bao cấp trƣớc đây đã làm cho các
gia đình nghèo không thể tiếp cận đƣợc với các dịch vụ y tế. Việc chăm sóc sức
khoẻ của bà mẹ mang thai bị ảnh hƣởng đã làm cho tỷ lệ suy dinh dƣỡng, chậm
phát triển, số trẻ em mồ côi tăng lên. Bên cạnh đó, Hệ thống giáo dục gặp nhiều
Bên cạnh đó, nhiều tài liệu nghiên cứu khác còn đề cập đến các hoạt
động sinh hoạt tinh thần của trẻ em đƣờng phố và cho rằng, các em rất thiếu
một sân chơi lành mạnh, các em chƣa đƣợc quan tâm, hỗ trợ về mặt tinh thần
chính vì vậy mà các em dễ bị lôi kéo vào những hoạt động phạm pháp, tệ nạn
xã hội. Trẻ đƣờng phố cũng giống nhƣ bao đứa trẻ khác, chúng cần đƣợc bảo
bọc, che chở và dậy dỗ nhƣng chỉ khác là chúng lại không đƣợc hƣởng những
điều đó mà lại đƣợc xã hội dạy cho cách kiếm sống, cách tự vệ để tồn tại.
Những nguyên nhân khiến trẻ đƣờng phố sa vào các tệ nạn xã hội