A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Vấn đề trẻ em được quan tâm đặc biệt của các quốc gia và cộng đồng quôc tế. Sáu
trong tổng số tám mục tiêu phát triển thiên nhiên kỷ (MDGs) là nâng cao chất lượng cuộc
sống và thực hiện các quyền lợi của trẻ em. Tạo cho trẻ em điều kiện sống và phát triển
tốt nhất. Tuy nhiên, theo báo cáo của Tổ chức y tế thế giới về về sức khoẻ và bạo lực có
rất nhiều (2002), khoảng 20% phụ nữ và 5-10% nam giới đã từng bị xâm hại tình dục thời
thơ ấu. Các nghiên cứu cho rằng, con số thực tế còn cao hơn do rất nhiều vụ xâm hại tình
dục trẻ em (XHTDTE) không được thông báo và thống kê do người bị hại không
muốn/không dám tiết lộ. Có nhiều lý do khiến các em trở thành nạn nhân của của nạn của
XHTDTE như nghèo đói, di cư, sự biến đổi các giá trị trong gia đình, tình trạng phân biệt
đối xử về giới, quá trình chuyển đổi kinh tế, sự hạn chế trong nhận thức về vấn đề bảo vệ
trẻ em và những vấn đề bất cập trong khung pháp lý và việc thực thi pháp luật liên quan
đến trẻ em. Tất cả những điều trên đang đe doạ đến sự an toàn và phát triển của trẻ em.
Theo thống kê của Bộ Lao động và Thương binh xã hội, hiện nay Việt Nam có
khoảng 27 triệu trẻ em (chiếm 29% dân số). Có thể thấy, trong nhiều năm qua, các vấn đề
về bảo vệ, chăm sóc trẻ em ngày càng được quan tâm tại Việt Nam. Trong số đó, có nhóm
trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt bị lạm dụng, bị bóc lột và buôn bán vì mục đích tình dục; trẻ
em lang thang cơ nhỡ; trẻ em khuyết tật; trẻ em vi phạm pháp luật; trẻ mồ côi; trẻ em bị
ruồng bỏ; trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS; trẻ em sống trong cảnh nghèo đói.
Để đảm bảo các điều kiện phát triển và bảo vệ trẻ em khỏi các hành vi xâm hại nói
chung, xâm hại tình dục nói riêng, nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật để
ghi nhận các quyền trẻ em và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cơ sở giáo dục, gia đình
và các cá nhân trong việc thực hiện các biện pháp phù hợp để bảo đảm trẻ em được sống
an toàn, lành mạnh; phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý các hành vi xâm hại trẻ em. Mặc dù
vậy, hiện nay, tình trạng tội phạm xâm hại tình dục trẻ em diễn biến hết sức phức tạp với
nhiều thủ đoạn mới, tính chất vụ việc đã đến mức nghiêm trọng; sự vô cảm, mất nhân tính
của tội phạm báo động về sự xuống cấp đạo đức của một bộ phận dân cư. Nguy cơ bị xâm
hại tình dục có thể xảy ra đối với trẻ em ở bất kỳ độ tuổi nào, không phân biệt giới tính, từ
1
Phần lớn học sinh THCS, THPT trên địa bàn thành phố Đà Lạt nhận thức chưa
đầy đủ về vấn đề xâm hại tình dục trẻ em; còn thiếu các kỹ năng phòng tránh và đấu tranh
với hành vi xâm hại tình dục trẻ em.
2
5. Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Phân tích, tổng hợp các tài liệu có liên quan đến nội dung kiến thức về
XHTDTE, cơ sở pháp lý trong đáu tranh với hành vi XHTDTE của Việt nam; nhận thức
và thái độ của học sinh về vấn đề XHTDTE làm cơ sở lý luân cho đề tài nghiên cứu;
- Khảo sát nhận thức và thái độ của học sinh THCS, THPT trên địa bàn thành phố
Đà Lạt về vấn đề xâm hại tình dục trẻ em
- Khảo sát nhận thức, thái độ của bậc cha mẹ về vấn đề xâm hại tình dục trẻ em.
- Đưa ra một số giải pháp và xây dựng một số kỹ năng dành cho học sinh THPT
trong việc phòng tránh và đấu tranh với hành vi xâm hại tình dục trẻ em.
6. Phạm vi nghiên cứu:
6.1. Phạm vị về không gian:
Đề tài khảo sát trong phạm vi một số trường THCS, THPT trên địa bàn thành phố
Đà Lạt. Cụ thể:
+ Trường THPT chuyên Thăng Long –Đà Lạt.
+ Trường THPT Trần Phú.
+ Trường THPT Yersin.
+ Trường THCS, THPT Tây Sơn.
+ Trường THCS Phan Chu Trinh.
6.2. Phạm vi thời gian: Năm 2017 và 2018
7. Phương pháp nghiên cứu:
Cơ sở phương pháp luận của đề tài là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử.
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: phân tích, tổng hợp tài liệu liên quan đến vấn đề
2001 và in trong cuốn “Nhận định và trị liệu : Các bài báo chuyên ngành từ Bách khoa
toàn thư về Sức khoẻ Tâm thần” đã đưa ra những khái niệm, phạm vi và phương thức ảnh
hưởng của xâm hại tình dục để nhấn mạnh tác động tiêu cực của việc bị xâm hại đến sức
khỏe tâm thần của các em. Từ đó đề ra những phương pháp can thiệp cũng như phòng
tránh xâm hại tình dục trẻ em.
Bài viết: “Xâm hại tình dục trẻ em” của các tác giả Gavin Andrews, Justine Corry,
Tim Slade, Cathy Issakidis và Heather Swanston đã đưa ra các bằng chứng về mối quan
hệ giữa lạm dụng tình dục trẻ em và chứng rối loạn tâm thần xảy ra sau đó. Để chứng
minh cho luận điểm của mình, các tác giả đã đưa ra những con số về thực trạng, dấu hiệu,
phân loại các hành vi xâm hại tình dục cũng như các nghiên cứu về tâm lý của nạn nhân
được trong quá trình trưởng thành sau khi bị quấy rối, xâm hại tình dục.
1.1.2. Các nghiên cứu trong nước
Bài viết: “Tình trạng trẻ em bị xâm hại tình dục – Những vấn đề cần quan tâm” của
tác giả Ngô Xuân Tín và Nguyễn Ngọc Dung đăng trên báo Cảnh sát nhân dân ngày
29/5/2015 đã chỉ ra 5 nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng xâm hại tình dục gia tăng,
như: sự thiếu quan tâm của gia đình, sự phân hóa giàu nghèo, điều kiện sống chênh lệch,
công tác truyền thông giáo dục, công tác bảo vệ chăm sóc chưa hợp lý và sực tác động
của nền kinh tế thị trường. Từ đó tác giả đã đưa ra nhưng biện pháp nhằm làm tốt công tác
phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh có hiệu quả hơn với xâm hại tình dục trẻ em.
5
Luận án “Các tội xâm phạm tình dục trẻ em trong luật hình sự Việt Nam” (2015)
của ông Nguyễn Tuấn Thiện đã đưa ra một số nội dung cơ bản về các tội xâm phạm tình
dục trẻ em trong bộ luật hình sự với những yếu tố ảnh hưởng gây nên khó khăn, vướng
mắc, bất cập đến quá trình điều tra, xét xử. Từ đó đề xuất các phương án nhằm hoàn thiện
pháp luật hình sự về tội xâm phạm tình dục trẻ em và đưa ra một số giải pháp nâng cao
hiệu quả công tác điều tra, truy tố xét xử các tội xâm phạm tình dục trẻ em trên địa bàn
thành phố Hà Nội.
Báo Thanh niên cũng có một chuỗi bài báo gồm 8 kỳ với những nội dung khác
khác nhau về trẻ em mà có thể đưa ra những định nghĩa khác nhau.
Dưới góc độ triết học, trẻ em được xem xét trong mối quan hệ biện chứng với sự
phát triển xã hội. Con người sáng tạo ra lịch sử và trẻ em là con đẻ của thời đại, của xã
hội. Trong mọi thời đại, tương lai của một quốc gia, dân tộc đều tùy thuộc vào việc chăm
sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em.
Dưới góc độ xã hội học, xác định trẻ em là người có vị thế, vai trò xã hội khác với
người lớn. Điều này thể hiện ở chỗ trẻ em được xã hội quan tâm tạo điều kiện sinh thành,
bảo vệ, nuôi dưỡng, chăm sóc để phát triển thành người lớn. Trẻ em là người chưa đạt tới
sự trưởng thành về thể chất cũng như về tinh thần để được coi là người lớn.
Dưới góc độ tâm lý học, khái niệm “trẻ em” được dùng để chỉ giai đoạn đầu của sự
phát triển tâm lý-nhân cách con người. Các nhà tâm lý học rất quan tâm nghiên cứu sự
phát triển tâm lý của con người nói chung và trẻ em nói riêng trong độ tuổi từ lúc lọt lòng
đến tuổi dậy thì [5, tr.3].
Dưới góc độ khoa học pháp lý, khái niệm trẻ em thường được tiếp cận theo “độ
tuổi”. Điều đó có nghĩa là một cá nhân có thể được coi là người lớn hay trẻ em phụ thuộc
vào năm sinh của người đó tại thời điểm xác định. Độ tuổi của trẻ em được xác định tùy
theo mỗi quốc gia, mỗi nền văn hóa-xã hội cụ thể, thậm chí mỗi quốc gia ở phương diện
pháp lý thì tùy vào đối tượng và mục đích điều chỉnh mà ở một số ngành luật, văn bản qui
phạm pháp luật có sự qui định độ tuổi của trẻ em là khác nhau.
Như vậy, dưới góc độ pháp lý, có thể xem xét khái niệm trẻ em theo hai lĩnh vực,
đó là lĩnh vực pháp luật quốc tế và lĩnh vực pháp luật quốc gia.
1.2.1.1. Khái niệm trẻ em theo Công ước về Quyền trẻ em năm 1989 và pháp luật nước
ngoài.
Theo Tuyên bố về Quyền trẻ em của Liên Hợp Quốc năm 1959 “Trẻ em, do chưa
trưởng thành về tinh thần và thể lực cần có sự bảo vệ và chăm sóc đặc biệt, bao gồm sự
bảo vệ về mặt pháp lý thích hợp, trước cũng như sau khi sinh”.
7
8
Như vậy, việc bảo vệ các quyền của trẻ em tại Liên bang Nga đã được định chế
trong pháp luật và phù hợp với pháp luật quốc tế về quyền trẻ em. Điều đó đã được khẳng
định trong Hiến pháp năm 1992 của Liên bang Nga. Theo đó Hiến pháp năm 1992 của
Liên bang Nga quy định rằng: các nguyên tắc và các quy phạm được công nhận chung
của luật quốc tế là một bộ phận cấu thành của hệ thống pháp luật Liên bang Nga (khoản 4,
điều 15); Liên bang Nga công nhận và bảo đảm các quyền tự do của con người và công
dân phù hợp với các nguyên tắc và các quy phạm được công nhận chung của luật quốc tế
và với Hiến pháp (khoản 1, điều 17); Liên bang Nga bảo đảm các quyền của các dân tộc
phù hợp với các nguyên tắc chung và các quy phạm pháp luật quốc tế với các điều ước
quốc tế mà Liên bang Nga đã ký kết hoặc gia nhập (Điều 69).
Theo pháp luật Liên bang của Hoa Kỳ thì “trẻ em là người dưới 18 tuổi”.
Như vậy, hầu hết các nước đều nhìn nhận khái niệm trẻ em dựa trên cơ sở độ tuổi,
tuy nhiên, mỗi nước có qui định khác nhau về độ tuổi để được coi là trẻ em. Việc qui định
độ tuổi ở mỗi quốc gia phụ thuộc vào sự phát triển về thể chất, tâm sinh lý của trẻ em ở
mỗi quốc gia, điều kiện lịch sử, văn hóa và kinh tế của mỗi đất nước. Do đó, có những
quốc gia qui định độ tuổi thành niên sớm hơn hoặc trễ hơn 18 tuổi như được xác định
trong Công ước về quyền trẻ em.
Tuy độ tuổi được coi là trẻ em ở mỗi quốc gia, mỗi tổ chức có sự khác nhau nhưng
nhìn chung trẻ em ở tất cả các quốc gia đều có các đặc điểm sau:
Thể chất và trí tuệ chưa trưởng thành.
Cần có sự chăm sóc, giáo dục đặc của gia đình, nhà trường, xã hội cả về mặt đạo
đức và pháp lý.
1.2.1.2. Khái niệm trẻ em theo pháp luật Việt Nam
Với tư cách là thành viên của Liên Hợp quốc, Việt Nam là nước đầu tiên ở châu Á
và nước thứ hai trên thế giới tham gia Công ước quyền trẻ em năm 1990.
Trên cơ sở các qui định của Công ước quyền trẻ em, Việt Nam nội luật hóa các qui
đối xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến hoặc quan
điểm khác, địa vị, nguồn gốc dân tộc và xã hội, tài sản, dòng dõi hoặc mối tương quan
khác. Nhưng trẻ em lại là người chưa trưởng thành nên có quyền được chăm sóc, nuôi
dưỡng, bảo vệ và bày tỏ quan điểm, chính kiến của mình về mọi vấn đề liên quan đến bản
thân mình. Bên cạnh đó, ta có thể ngầm hiểu rằng khái niệm trẻ em trong pháp luật Việt
Nam hẹp hơn khái niệm người chưa thành niên, bởi người chưa thành niên bao gồm cả trẻ
em và những người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi.
Từ những phân tích và phạm vi nghiên cứu của đề tài ở trên về khái niệm trẻ em,
tác giả có thể xây dựng một khái niệm theo quan điểm của riêng mình đó là: trẻ em là
10
những người dưới 18 tuổi, chưa đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, có đầy đủ
các quyền của con người và những quyền đặc thù theo lứa tuổi.
1.2.2. Xâm hại trẻ em và các hình thức xâm hại trẻ em
1.2.2.1. Xâm hại trẻ em
Tổ chức Y tế thế giới định nghĩa “Xâm hại trẻ em bao gồm mọi hình thức ngược đãi
về thể chất và tinh thần, xâm hại tình dục, xao nhãng, bóc lột gây ra những thương tổn về
sức khỏe, tính mạng, khả năng phát triển hay phẩm giá bằng cách lợi dụng chức phận,
lòng tin hoặc quyền hạn”.
Theo quy định tại khoản 5, điều 3 Luật trẻ em thì xâm hại trẻ em là hành vi gây tổn
hại về thể chất, tình cảm, tâm lý, danh dự, nhân phẩm của trẻ em dưới các hình thức bạo lực,
bóc lột, xâm hại tình dục, mua bán, bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em và các hình thức gây tổn hại khác.
Từ hai khái niệm trên chúng ta có thể thấy được. Xâm hại trẻ em có thể là hành
động (bạo lực về thể chất, tinh thần; xâm hại tình dục, bóc lột, mua bán) hoặc không nhất
thiết là hành động (xao nhãng, bỏ mặc trẻ) có chủ ý và làm tổn thương hoặc gây nguy hại
cho trẻ.
Hậu quả của xâm hại trẻ em gây ra những tổn thương nghiêm trọng và lâu dài cả
về thể chất và tâm lý (sự sợ hãi, rối loạn, sự mặc cảm, tự ti, sự phát triển lệch lạc về nhân
cách) đối với nạn nhân trẻ em. Những hậu quả của xâm hại trẻ em cũng ảnh hưởng đến
+ Bóc lột sức lao động ảnh hưởng đến thời gian học tập và vui chơi của trẻ
+ Đánh đập và nhạo báng trẻ ở trường
- Xâm hại về mặt tinh thần
Xâm hại trẻ về mặt tinh thần của trẻ bao gồm các hành vi sau:
+ Xâm hại bằng lời nói (mắng chửi, nhạo báng)
+ Trêu nghẹo trẻ một cách quá đáng
+ Xâm hại sự riêng tư của trẻ
- Xâm hại tình dục (mục 1.1.3)
- Xao nhãng – bỏ mặc, không quan tâm đến nhu cầu của trẻ
+ Không chăm sóc trẻ (không tắm rửa, không cho trẻ ăn)
+ Bỏ bê, không giám sát trẻ
+ Phớt lờ nhu cầu học tập của
+ Phớt lờ nhu cầu được yêu thương của trẻ
+ Không quan tâm đến nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của trẻ
+ Không lo lắng cho trẻ
1.3. Xâm hại tình dục trẻ em
12
1.3.1. Khái niệm xâm hại tình dục trẻ em
Xâm hại tình dục trẻ em (XHTDTE), theo định nghĩa của Finkelhor (2009), bao
gồm toàn bộ hành vi phạm tội về tình dục mà trẻ em dưới 17 tuổi là nạn nhân. Theo định
nghĩa này, người phạm tội hoặc có hành vi XHTDTE có thể là người lớn, quen biết hoặc
không quen biết với trẻ em, thanh niên hoặc trẻ em khác. Bên cạnh những hành vi phạm
tội xâm hại tình dục có giao cấu, định nghĩa này bao hàm cả những hành vi phạm tội mà
người gây tội và nạn nhân thậm chí không có tiếp xúc với nhau về mặt thể xác như bắt trẻ
em nhìn các hành vi tình dục, sử dụng trẻ em để sản xuất các ấn phẩm khiêu dâm, tán
tỉnh, gạ gẫm,…
Luật bảo vệ và hỗ trợ trẻ em bị bạo hành của Mỹ (CAPTA) định nghĩa xâm hại tình
dục trẻ em bao gồm những hành vi sau: “ Sử dụng, thuyết phục, lôi kéo, hoặc sử dụng áp
hình sự và là hành vi phi đạo đức mà xã hội không thể chấp nhận và không thể coi là bình
thường”.
Những điều chưa rõ ràng trong cách định nghĩa thế nào là XHTDTE phần nào cho
thấy khó có thể phân định đâu là xâm hại, lạm dụng và đâu là hành động vượt quá giới
hạn mà người có hành vi không mong muốn thực hiện hoặc vô tình gây ra. Có nhiều tranh
luận xung quanh những hành vi XHTDTE mà không có tiếp xúc trực tiếp như lôi kéo, gạ
gẫm, thực hiện hành vi tình dục. Mặc dù hành vi này là phạm luật xét từ khía cạnh pháp
lý, nhưng có những nghiên cứu đã chỉ ra rằng hành vi này có thể gây ra tác động về lâu
dài đến nạn nhân so với hành vi vuốt ve, hoặc có giao cấu (T.P. Ho, 1993)
Các định nghĩa về XHTDTE có thể khác nhau giữu các nghiên cứu. Hoặc các nền văn
hóa, nhưng nhìn chung nó đều đề cập đến những hành vi nhất định mà tất cả các nền văn hóa
và các định nghĩa khác nhau đều chấp và đồng tình. Sự bí mật, sử dụng quyền lực không
đúng chỗ, và việc làm méo mó mối quan hệ giữa trẻ em và người lớn là những yếu tố quan
trọng khi xem xét về vấn đề xâm hại tình dục trẻ em. Những nhân tố khác sẽ được cân nhắc
và xem xét khi người có hành vi XHTDTE là phụ nữ, trẻ em hoặc thanh thiếu niên.
1.3.2. Một số yếu tố có liên quan tới nguy cơ xâm hại tình dục trẻ em
Mọi trẻ em đều có nguy cơ bị xâm hại hoặc lạm dụng tình dục. Tuy nhiên, có một
số nhóm trẻ em đặc biệt có nguy cơ cao hơn so với những trẻ em khác. Đó là những trẻ
em thiêu nàng, kém phát triển về thể lưc và trí tuệ, trẻ em nhóm các dâm tộc thiểu số, trẻ
em đường phố, trẻ em trong các trại tị nạn, trẻ em không sống cùng gia đình, trẻ em ở
những nơi có thảm hoạ thiên nhiên hoặc những nơi có xung đột chính trị, bất ổn trẻ em
sống ờ những khu ổ chuột và trẻ em hoạt động mại dâm. Trẻ em bị xâm hại tình dục có
nhiều nguy cơ bị khai thác tình dục. Song cũng cần lưu ý ràng không chỉ các nhóm có
14
nguy cơ cao như vậy cần được chú trọng trong công tác phòng chống, mà trẻ em ở những
nhóm khác như trẻ em trong gia đình cũng không nên xem nhẹ.
Giới là một yếu tố có liên quan đến nguy cơ của xâm hại tình dục (Annie Cossins
hiện khi đứa trẻ có những biểu hiện tổn thương về cơ thể và sức khoẻ (John
Frederick,2010)
Văn hoá và tôn giáo. Do những chuẩn mực về văn hoá và tôn giáo, trẻ em vị thành
niên có xu hướng di chuyển nhiều nên có nguy cơ bị xâm hại bởi những trẻ em đồng trang
lứa và xét theo khía cạnh văn hoá, trẻ em vị thành niên hoặc những trẻ em trong độ tuổi
dậy thì, đặc biệt là trẻ em gái được công nhận về mặt xã hội là đã trưởng thành và có khả
năng tự quyết định cuộc đời của mình. Nhìn chung, ở độ tuổi vị thành niên, người ta
thường cho rằng trẻ em gái có nguy cơ bị xâm hại tình dục cao hơn so với trẻ em trai. Tuy
nhiên, trẻ em trai lại có nguy cơ cao bị xâm hại tình dục ở những nền văn hoá không chấp
nhận tình dục ngoài hôn nhân và coi trọng trinh tiết của phụ nữ chưa kết hôn (John
Trederrick, 2010,UNCEF). Một vấn đề khác khác đáng lưu ý khi xem xét các hành vi nào
xâm hại tình dục là sự khác biệt văn hoá. Sự phát triển của trẻ em và những đòi hỏi của xã
hội người lớn đã áp đặt và hình thành nên những thói quen và tập tục nuôi dưỡng và chăm
sóc trẻ em. Ví dụ, việc nuôi dưỡng trẻ em của người Trung Quốc được coi là “quá thoải
mái”. Vì vậy, việc bà ngoại ngủ với cháu là điểu hiển nhiên và hoàn toàn có thể chấp nhận
được nhưng lại bị kết tôi ở bối cảnh văn hoá khác. Bố cảnh văn hoá và dự luận xã hội ở
nhiều nền văn hoá chính là yếu tố để đổ lỗi cho nạn nhân khi có hành vi xâm hại tình dục
xảy ra (Kelvin Lalor và Rosaleen Mclilvaney, 2010). Hơn nữa, do tính nhạy cảm của vấn
đề, do xấu hổ hoặc vì thể diện gia đình nên việc tiết lộ và báo cáo các trường hợp bị xâm
hại tình dục ở trẻ em rất hạn chế
Các nghiên cứu ở khu vực Nam Á cho rằng, trong số trẻ em trong nhóm tuổi 612,trẻ em trai thường được coi là nhóm dễ tổn thương hơn so với trẻ em gái trong môi
trường ngoài gia đình bời vì những luật lệ xã hội và phong tục ở các quốc gia này bảo vệ
và giám sát đối với trẻ em gái nhiều hơn, trong khi trẻ em trai lại khá thoải mái và không
bị lệ thuộc và rằng buộc bởi những luât lệ xã hội. Chính những luật lệ này đã khiến trẻ em
trai trở thành nhóm có nguy cơ bị xâm hại tình dục bởi vì trẻ em trai thường được xem là
có khả năng tự bảo vệ mình và xã hội có xu hướng không nhìn nhận hiện tượng xâm hại
tình dục đối với trẻ em trai và mối quan hệ tình dục giữa nam giới đối với nam giới (Jon
Frederick, 2010).
Các yếu tố nguy cơ xuất phát từ hệ thống xã hội
dưới hình thức xâm hại tình dục đụng chạm vào thể. Song môi trường học đường cũng là nơi
có thể thúc đẩy các hoạt động phòng chống XHTDTE và các thầy cô giáo là những người
thường xuyên gặp gỡ học sinh và có thể nhận ra những biểu hiện của các em bị xâm hại tình
dục cho dù bị xâm hại ở nhà, ở nơi công cộng hay trong nhà trường (John Trederick, 2010)
1.3.3. Các hình thức xâm hại tình dục trẻ em
17
1.3.3.1. Xâm hại trẻ bằng cách đụng chạm
Bao gồm:
- Làm tình sử dụng miệng (khi một người đàn ông ấn dương vật của hắn ta vào miệng
một trẻ).
- Hôn hít hoặc ôm trẻ theo kiểu tình dục.
- Giao hợp hoặc làm tình qua đường hậu môn (khi một người đàn ông đút dương
vật ủa hắn ta vào âm đạo hoặc hậu môn của trẻ).
- Sờ mó vào bộ phận sinh dục của trẻ (các bộ phận gợi dục) hoặc bắt trẻ sờ mó vào
bộ phận sinh dục của người lớn hoặc của một đứa trẻ lớn hơn.
- Ép trẻ thực hiện hành vi mại dâm (trả tiền sau khi giao hợp).
1.3.3.2. Xâm hại trẻ bằng cách không đụng chạm
Bao gồm:
- Dùng lời nói hoặc cho trẻ xem sách báo, tranh ảnh khiêu dâm để làm cho trẻ sốc,
làm cho trẻ hưng phấn tình dục hoặc làm cho trẻ quen với tình dục.
- Cho trẻ nghe hoặc nhìn những người khác làm tình.
- Bắt trẻ đứng ngồi theo tư thế gợi dục để chụp ảnh (khiêu dâm).
1.3.4. Đối tượng của những hành vi xâm hại tình dục
Tất cả trẻ em đều có nguy cơ bị xâm hại tình dục không phân biệt dân tộc, học vấn,
điều kiện kinh tế, lứa tuổi, giới tính, đặc điểm cá nhân. Tuy nhiên một số trẻ em thuộc các
nhóm sau được nhận diện là có nguy cơ cao hơn so với những trẻ khác:
- Trẻ em từ các gia đình khó khăn
- Trẻ em sống trong gia đình khuyết thiếu chỉ có cha hoặc mẹ
dụng bạo lực, sự đe doạ hay “lòng tốt” để bắt trẻ thực hiện hành vi tình dục thì kết quả
của việc xâm hại này vẫn sẽ gây tổn thương cho trẻ.
1.3.6. Dấu hiệu nhận biết trẻ em bị xâm hại tình dục
1.3.6.1. Dấu hiệu từ phía của trẻ em
Thông thường, ở những trẻ em bị xâm hại tình dục thường ít có dấu vết bên ngoài
cơ thể. Nhiều trường hợp không có bằng chứng của sự hoảng loạn hoặc tổn thương thể
chất. Vì vậy, việc khuyến khích trẻ chủ động nói ra được vấn đề mình gặp phải là cách tốt
nhất. Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng, khi một trẻ em bị xâm hại tình dục bộc lộ với
người lớn và nhận được sự giúp đỡ thì sẽ ít bị tổn thương và tình trạng bị xâm hại cũng
không dài như trường hợp trẻ không nói ra và không nhận được bất kỳ sự giúp đỡ nào.
Những dấu hiệu sau đây ở trẻ có thể gợi ý tới việc trẻ đã bị xâm hại tình dục:
Biểu hiện bên ngoài
• Quần áo bị rách, nhàu nát, bẩn.
19
• Có vết máu hoặc vết bẩn trên quần áo, cơ thể
•
Thay đổi tâm trạng, trở nên thu mình, trầm cảm, cáu giận bất thường hay trở nên
hung hăng.
•
Bỏ nhà, đi đâu đó một thời gian.
•
Học hành sa sút, bỏ học không lý do.
Biểu hiện hành vi
•
Di chuyển khó khăn, ngồi khó khăn
•
Có những hành vi sờ mó cơ quan sinh dục, thủ dâm, chăm chút hình thức bên
ngoài quá mức...
•
Thích hoặc sợ nói (né tránh) về chủ đề tình dục
•
Có biểu hiện nói dối
•
Giờ giấc sinh hoạt thay đổi
•
Xa lánh, ngại tiếp xúc với mọi người
Biểu hiện về tinh thần
•
Người bị xâm hại tình dục trẻ em không chỉ gây tổn thương nặng nề cả về cơ thể và
tâm lý của trẻ trong một thời gian dài mà còn tác động tiêu cực đến mỗi gia đình và cộng
đồng.
1.2.7.1. Đối với trẻ em (nạn nhân)
Những vấn đề về cảm xúc và tinh thần
Trẻ bị xâm hại tình dục có nguy cơ lớn bị căng thẳng sau chấn thương, thường gặp
phải những triệu chứng lo âu, trầm cảm và ý định tự tử. Những vấn đề này gây ảnh hưởng
đến sự phát triển bình thường của trẻ.
Chúng sẽ phải sống trong những tháng ngày đau khổ, sợ hãi, gặp nhiều vấn đề về
sức khỏe như rối loạn giấc ngủ, rối loạn ăn uống… Những đứa trẻ bị lạm dụng còn có xu
hướng hành vi bạo lực, không nghe lời và chống đối khi trưởng thành.
Nguy cơ cao phạm pháp và phạm tội
Nguy cơ này sẽ cao gấp 3 - 5 lần ở trẻ và người lớn bị xâm hại tình dục. Những
vấn đề về cảm xúc và tinh thần có thể khiến trẻ có hành vi phạm pháp, học hành kém, bị
đuổi học. Tỷ lệ bỏ nhà đi ở trẻ bị xâm hại cao gấp đôi trẻ bình thường.
Lạm dụng chất kích thích từ khi còn nhỏ hoặc khi trưởng thành
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh người lớn có lịch sử bị xâm hại tình dục khi còn
nhỏ có tỷ lệ lạm dụng hoặc phụ thuộc vào chất kích thích cao gấp 3 - 4 lần, trong đó lạm
dụng dược chất phổ biến hơn lạm dụng rượu. Độ tuổi sử dụng chất kích thích là 14.4 ở
nạn nhân xâm hại, so với 15.1 tuổi ở người thường.
Khó khăn trong học tập
Đây là một triệu chứng hậu quả điển hình của xâm hại tình dục ở trẻ em. Tiền sử bị
xâm hại tình dục gia tăng nguy cơ bị đuổi học. Các nghiên cứu đã chứng minh nạn nhân
21
bị lạm dụng đi kèm với tỷ lệ vắng mặt ở trường, ở lại lớp, gia tăng nhu cầu giáo dục đặc
biệt và khó khăn trong việc thích nghi với trường học.
Những vấn đề về hành vi tình dục và hành vi tình dục quá độ
của những vụ tấn công tình dục còn có thể bị viêm nhiễm kéo ... Điều đó ảnh
hưởng trực tiếp đến sức khoẻ sinh sản và hạnh phúc gia đình ...
- Gây ra nhiều nguyên nhân dẫn đến vô sinh, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ
sinh sản và hạnh phúc gia đình của các em về sau.
Vòng tròn xâm hại
Trẻ bị xâm hại tình dục có thể tiếp tục bị người khác xâm hại trong suốt quãng đời
còn lại. Vì những trải nghiệm bị xâm hại khi còn là một đứa trẻ, chúng có thể lớn lên và
tin rằng tình dục là cách duy nhất để thể hiện cảm xúc và sự an toàn. Bị đối xử tồi tệ và bị
xâm hại tình dục có thể trở thành hình mẫu trong cuộc sống của chúng.
Nếu không được hỗ trợ và giúp đỡ để có thể hàn gắn từ sự xâm hại, những cậu bé
bị xâm hại có thể trở thành những người đi xâm hại khi chúng lớn lên. Vòng tròn xâm hại
tạo ra những thế hệ nạn nhân khác và những kẻ phạm tội tương lai. Tổn thương gây ra do
hành vi xâm hại tình dục trẻ không chỉ làm tổn hại đến trẻ và gia đình chúng mà còn ảnh
hưởng tiêu cực đến cả cộng đồng. Ví dụ, những người bị xâm hại tình dục có thể cảm
thấy hổ thẹn và cô độc một cách bất công, đôi khi có thể trở nên phá phách hoặc bạo lực
hoặc trở nên nghiện rượu hoặc ma túy.
1.3.7.2. Đối với gia đình nạn nhân
Những người thân trong gia đình, đặc biệt biệt là cha mẹ trẻ sẽ bị tổn thương năng
nề, họ đau đớn, thất vọng và xót xa với những gì mà đưa con nhỏ của mình phải trải qua,
23
họ phải chứng kiến con cái mình sống trong trạng thái hoảng loạn. Hơn nưa, mặc dù họ là
nạn nhân nhưng gia đình các em vẫn phải chịu những lời xì xào, bàn tán của mọi người
xung quanh, đôi khi cả là sự coi thường, nhạo báng và khinh miệt, ảnh hưởng trực tiếp
đến các thành viên trong gia đình gây ảnh hưởng đến việc hoà nhập cộng đồng của đứa
trẻ. Đau xót hơn khi thủ phạm chính là người thân trong gia đình của các em. Hành động
trái với luân thường đạo lý ấy dễ dẫn đến bất hoà sâu sắc trong gia đình, khiến phá vỡ
hạnh phúc trong gia đình và gây nhiều tai tiếng và nghiêm trọng hơn là sự trả thù đến từ
Do yêu cầu của lao động, của cuộc sống, con người thường xuyên tiếp xúcvới các
sự vật hiện tượng xung quanh, qua đó con người nhận thức được các nétcơ bản của sự vật
hiện tượng (Ví dụ con người gò đá thấy lửa)Cứ như vậy, nhận thức của con người ngày
càng được mở rộng.
Theo từ điển triết học: Nhận thức là quá trình tái tạo lại hiện thực ở trong tưduy
của con người, được quyết định bởi quy luật phát triển xã hội và gắn liền cũngnhư không
thể tách rời khỏi thực tiễn, nó phải là mục đích của thực tiễn, phảihướng tới chân lý khách
quan.
Theo Cuốn “Giải thích thuật ngữ Tâm lý – Giáo dục học: “Nhận thức làtoàn bộ
những quy trình mà nhờ đó những đầu vào cảm xúc được chuyển hoá,được mã hoá, được lưu
giữ và sử dụng.Hiểu Nhận thức là một quy trình, nghĩa là nhờ có quy trình đó mà cảm xúccủa
con người không mất đi, nó được chuyển hoá vào đầu óc con người, được con người lưu giữ
và mã hoá,…
Theo Từ điển Giáo dục học: “Nhận thức là quá trình hay là kết quả phảnánh và tái
tạo hiện thực vào trong tư duy của con người”. Như vậy, Nhận thức
được hiểu là một quá trình, là kết quả phản ánh. Nhận thức là quá trình con ngườinhận
biết về thế giới, hay là kết quả của quá trình nhận thức đó (Nhận biết là mứcđộ thấp, hiểu
biết là mức độ cao hơn, hiểu được các thuộc tính bản chất).
Các quan niệm khác về nhận thức: “Nhận thức là hành động bằng trí tuệ, để hiểu
biết các sự vật hiện tượng”. Như vậy, Nhận thức và trí tuệ được đồng nhất như nhau. Nhờ
hoạt động trí tuệ nàymà con người mới hiểu biết được sự vật hiện tượng.
Nhà Tâm lý học người Đức cho rằng : “Nhận thức là sự phản ánh hiện
thực
khách quan trong ý thức của con người, nhận thức bao gồm; Nhận thứccảm tính và
Nhận thức lý tính, chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau vàcơ sở, mục đích và
tiêu chuẩn của Nhận thức là thực tiễn xã hội ”. Khái niệm của nhà Tâm lý học người
Đức đã phản ánh tương đối đầy đủ nội hàm của Nhận thứcvà chúng ta sử dụng
khái niệm niệm này