BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
HOÀNG ANH
ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP CỦA HỌC SINH
THPT TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS BÙI THỊ THÚY HẰNG
HÀ NỘI - 2016
1
Trang
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
01
Lời cảm ơn
06
15
1.1.2. Các nghiên cứu ở Việt Nam
17
1.2. Các khái niệm liên quan
20
1.2.1. Hướng nghiệp
20
1.2.2. Tự hướng nghiệp.
22
1.2.3. Tư vấn hướng nghiệp
22
1.2.4. Đánh giá
22
1.2.5. Nghề nghiệp
23
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG ĐỊNH HƯỚNG VÀ CHỌN NGHỀ
2
34
CỦA HS THPT THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1. Giới thiệu địa bàn nghiên cứu
34
2.1.1. Thành phố Hà Nội
34
2.1.2. Giới thiệu địa bàn khảo sát
35
2.1.2.1. THPT Hoàng Văn Thụ
35
2.1.2.2. THPT Phan Huy Chú – Đống Đa
35
2.1.2.3. THPT Đại Mỗ
36
43
2.2.2.1. Những người ảnh hưởng đến quyết định chọn nghề
43
2.2.2.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến chọn nghề
44
a. Bản thân HS
44
b. Gia đình
46
c. Các yếu tố liên quan đến nhà trường và bạn bè
49
d. Các yếu tố liên quan đến đặc điểm của nghề
50
e. Các yếu tố liên quan đến thị trường việc làm
51
động hướng nghiệp
3.1.4. Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống trong hoạt động GDHN
57
3.1.5. Nguyên tắc tiếp cận hoạt động và nhân cách
58
3.1.6. Nguyên tắc phối hợp và phát huy tiềm năng của các lực lượng
58
giáo dục
3.1.7. Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi
59
3.2. Các biện pháp nhằm nâng cao định hướng nghề nghiệp cho HS
59
THPT
3.2.1. Biện pháp 1: Nâng cao tính trách nhiệm của cán bộ quản lý ở
59
trường trung học phổ thông đối với hoạt động giáo dục hướng nghiệp
3.2.1.1. Mục đích và ý nghĩa
62
3.2.4. Biện pháp 4: Đổi mới bộ máy tổ chức chỉ đạo và thực hiện hoạt
62
động giáo dục hướng nghiệp
3.2.4.1. Mục đích và ý nghĩa
62
3.2.4.2. Nội dung và cách thức thực hiện
62
3.2.5. Biện pháp 5: Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ làm công tác giáo dục
66
hướng nghiệp trong nhà trường
3.2.5.1. Mục đích và ý nghĩa
66
4
3.2.5.2. Nội dung và cách thức thực hiện
3.2.6. Biện pháp 6: Đổi mới nội dung giáo dục hướng nghiệp phù hợp
70
3.2.8.2. Nội dung và cách thức thực hiện
70
3.2.9. Biện pháp 9: Tăng cường xã hội hoá giáo dục hướng nghiệp
71
3.2.9.1. Mục đích và ý nghĩa
71
3.2.9.2. Nội dung và cách thức thực hiện
71
3.2.10. Biện pháp 10: Tăng cường sự ủng hộ của các cấp quản lý về chủ
72
trương đường lối đổi mới hoạt động giáo dục hướng nghiệp
3.2.10.1. Mục đích và ý nghĩa
72
3.2.10.2. Nội dung và cách thức thực hiện
gian học tập, nghiên cứu tại trường.
Mặc dù đã rất cố gắng nhưng luận văn không tránh khỏi những thiếu sót.
Kính mong nhận được sự chỉ dẫn và đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo cùng các
bạn đồng nghiệp để kết quả nghiên cứu được hoàn thiện hơn.
Hà Nội, ngày 15 tháng 3 năm 2016
Tác giả
Hoàng Anh
6
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân, được xuất phát
từ yêu cầu phát sinh trong công việc để hình thành hướng nghiên cứu.
Các số liệu có nguồn gốc rõ ràng tuân thủ đúng nguyên tắc và kết quả trình
bày trong luận văn thu thập được trong quá trình nghiên cứu là trung thực chưa từng
được ai công bố trước đây.
Hà Nội, tháng 3 năm 2016
Người cam đoan
Hoàng Anh
7
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
STT
GD – ĐT
Giáo dục – Đào tạo
6
ĐHQG
Đại học Quốc gia
7
ĐHSP
Đại học Sư phạm
8
GS
Giáo sư
9
HN
Hướng nghiệp
10
PTCS
Phổ thông cơ sở
16
PTTH
Phổ thông trung học
17
TDTT
Thể dục thể thao
18
THCS
Trung học cơ sở
19
THPT
Trung học phổ thông
20
Trang
2.1
Số lượng HS các trường tham gia nghiên cứu
37
2.2
Số lượng HS tham gia nghiên cứu chia theo khối lớp
37
2.3
HS tham gia nghiên cứu chia theo giới tính
37
2.4
Lựa chọn của HS sau khi tốt nghiệp
38
2.5
Lựa chọn của HS sau khi tốt nghiệp nếu tiếp tục học tiếp
44
2.11
Ảnh hưởng từ những yếu tố liên quan đến bản thân HS trong
44
việc đưa ra quyết định chọn nghề
2.12
Giới tính của HS khi chọn nghề
45
2.13
Nghề nghiệp của cha mẹ ảnh hưởng đến chọn nghề
46
2.14
Nghề nghiệp của cha mẹ
47
2.15
tới quyết định chọn nghề của HS
2.20
Nhu cầu hưởng tư vấn, hướng nghiệp
53
3.1
Tổng hợp kết quả lấy ý kiến chuyên gia
73
9
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ/SƠ ĐỒ
Biểu đồ
Tên biểu đồ/sơ đồ
Trang
Các yếu tố ảnh hưởng đến định hướng nghề nghiệp của HS
33
Sơ đồ
1.1
10
53
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Việc lựa chọn định hướng nghề nghiệp không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối
với mỗi cá nhân học sinh mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với chất lượng và cơ
cấu nguồn nhân lực của đất nước. Bởi lẽ, việc lựa chọn định hướng nghề nghiệp
chính xác sẽ giúp cá nhân phát huy tối đa năng lực của bản thân, hứng thú với công
việc, nhờ đó, hiệu quả công việc của họ được nâng cao. Đồng thời, lựa chọn định
hướng nghề nghiệp đúng đắn sẽ giúp cá nhân đáp ứng yêu cầu về chất lượng và cơ
cấu nguồn nhân lực cho xã hội.
Định hướng nghề nghiệp của mỗi cá nhân có thể được bắt đầu từ rất sớm,
trong đó lứa tuổi học sinh THPT là một giai đoạn quan trọng . Vì học sinh THPT là
một lực lượng tiềm năng của nguồn nhân lực. Định hướng đúng trong lựa chọn
ngành nghề của học sinh THPT không chỉ tạo hứng thú cho học sinh ham học mà
đôi khi còn quyết định cả sự thành công của các em. Thực tế hiện nay, việc định
hướng nghề nghiệp của học sinh THPT ở nước ta vẫn chưa được quan tâm đúng
mức. Theo kết quả khảo sát của báo Người lao động, có hơn 60% học sinh thừa
nhận rằng mình không được hướng nghiệp khi chọn ngành nghề đăng ký dự thi ĐH.
Chính vì chưa được định hướng rõ ràng ngay từ khi còn học trong trường
phổ thông nên nhiều học sinh đã chọn ngành, chọn nghề chưa phù hợp với bản thân.
Kết quả là sau 4 – 5 năm học ở trường ĐH nhưng khi ra trường có một lượng lớn
sinh viên thất nghiệp hoặc làm không đúng ngành. Trong khi đó những học sinh học
một số nghề kỹ thuật (thời gian đào tạo 2 – 3 năm) lại dễ dàng xin được việc. Theo
số liệu Bộ Lao động – Thương binh và xã hội công bố năm 2014, hiện nay nước ta
có 72000 cử nhân, thạc sĩ thất nghiệp. Bên cạnh đó, theo công bố của Trung tâm
- Các yếu tố ảnh hưởng đến định hướng nghề nghiệp của học sinh THPT.
3.2. Khách thể nghiên cứu
Hoạt động hướng nghiệp của các trường THPT trên địa bàn thành phố Hà
Nội. Khảo sát với 5 trường THPT trên địa bàn Hà Nội:
- Trường THPT Hoàng Văn Thụ - Hoàng Mai.
- Trường THPT Nhân Chính - Thanh Xuân.
- Trường THPT Phan Huy Chú - Đống Đa.
12
- Trường THPT Đại Mỗ - Nam Từ Liêm.
- Trường THPT Bắc Thăng Long – Đông Anh.
4. Giả thuyết khoa học
Hoạt động lựa chọn nghề nghiệp cuả học sinh THPT theo các khuynh hướng
sau:
- Việc lựa chọn nghề nghiệp của học sinh không chỉ xuất phát từ ý kiến chủ
quan của bản thân học sinh mà có sự can thiệp mạnh mẽ từ gia đình, bạn bè.
- Đa số HS lấy tiêu chí thu nhập cao là yếu tố quan trọng nhất để lựa chọn
nghề nghiệp cho bản thân.
- HS nữ thích chọn khối ngành kinh tế, giáo dục, y tế. HS nam thích chọn
khối ngành kỹ thuật, lực lượng vũ trang.
- Học sinh chọn trường dự thi theo năng lực, kết quả học tập ở THPT.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc nghiên cứu về định hướng
nghề nghiệp cho học sinh THPT.
- Phân tích thực trạng vấn đề lựa chọn nghề nghiệp hiện nay của học sinh
THPT.
- Tiến hành khảo sát định tính, định lượng trong việc học sinh THPT lựa
chọn nghề nghiệp của mình.
- Đưa ra những kiến nghị giúp các em có định hướng đúng và lựa chọn nghề
bình đẳng trong phân công lao động xã hội. Đến thế kỷ XIX, khi nền sản xuất xã
hội phát triển cùng với những tư tưởng tích cực về giải phóng con người trên khắp
thế giới thì khoa học hướng nghiệp mới thực sự trở thành một khoa học độc lập.
Cuốn sách “Hướng dẫn chọn nghề” xuất bản năm 1949 ở Pháp được xem là
cuốn sách đầu tiên nói về hướng nghiệp [6]. Nội dung cuốn sách đã đề cập đến sự
phát triển đa dạng của các ngành nghề trong xã hội do sự phát triển của công nghiệp
từ đó đã rút ra những kết luận coi giáo dục hướng nghiệp là một vấn đề quan trọng
không thể thiếu khi xã hội ngày càng phát triển.
Vào những năm 1940, nhà tâm lý học người Mỹ J.L. Holland đã nghiên cứu
và thừa nhận sự tồn tại của các loại nhân cách và sở thích nghề nghiệp. Tác giả đã
chỉ ra tương ứng với mỗi kiểu nhân cách nghề nghiệp là một số nghề nghiệp mà
cá nhân có thể lựa chọn để có được kết quả làm việc cao nhất. Lý thuyết này của
J.L. Holland đã được sử dụng rộng rãi nhất trong thực tiễn hướng nghiệp trên thế
giới.
Trên cơ sở các luận điểm về hướng nghiệp của C.Mác và V.I Lênin các nhà
giáo dục Liên xô như B.F Kapêep; X.Ia Batưsep; X.A Sapôrinxki; V.A
Pôliacôp trong các tác phẩm và công trình nghiên cứu của mình đã chỉ ra mối quan
hệ giữa hướng nghiệp và các hoạt động sản xuất xã hội, và nếu sớm thực hiện giáo
dục hướng nghiệp cho thế hệ trẻ thì đó sẽ là cơ sở để họ chọn nghề đúng đắn, có sự
phù hợp giữa năng lực, sở thích cá nhân với nhu cầu xã hội. [6] Đồng thời các tác
15
giả này cũng đã trình bày những nguyên tắc, phương pháp thực hành lao động nghề
nghiệp cho HS phổ thông tại các cơ sở học tập - lao động liên trường.
Mei Tang, Wei Pan và Mark D.Newmeyer (2008) đã áp dụng mô hình lý
thuyết phát triển xã hội nghề nghiệp (SCCT, Lent, Brown và Hackett, 1994) để
khảo sát các yếu tố tác động đến xu hướng chọn nghề của học sinh trung học.
Những phát hiện của nghiên cứu này chứng minh tầm quan trọng của các yếu tố:
họ.
M.J.Burns và các cộng sự (được trích bởi Trần Văn Quí và Cao Hào Thi [9]),
đã cho rằng mức độ nổi tiếng và uy tín của trường, đội ngũ giáo viên danh tiếng
cũng là những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường của học sinh.
M.J.Burns và các cộng sự (được trích bởi Trần Văn Quí và Cao Hào Thi [9]),
cho rằng: “tỷ lệ chọi” đầu vào, điểm chuẩn của trường là những yếu tố ảnh hưởng
đến quyết định chọn trường của học sinh . Theo Cabera và La Nasa (được trích
bởi M.J.Burns ), ngoài mong đợi về học tập trong tương lai thì mong đợi về công
việc trong tương lai cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến quyết
định chọn trường của học sinh. S.G.Washburn và các cộng sự còn cho rằng sự
sẵn sàng của bản thân cho công việc và cơ hội kiếm được việc làm sau khi
tốt nghiệp cũng là những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường của học
sinh.
D.W.Chapman, trong việc chọn trường, các học sinh bị tác động mạnh mẽ
bởi sự thuyết phục, khuyên nhủ của bạn bè và gia đình. Bên cạnh đó, Hossler và
Gallagher (được trích bởi Trần Văn Quí và Cao Hào Thi [9]) còn cho rằng các cá
nhân tại trường học cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến quyết định chọn trường của
học sinh.
1.1.2. Các nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam giáo dục hướng nghiệp tuy được xếp ngang tầm quan trọng với
các mặt giáo dục khác như đức dục, trí dục, thể dục, mỹ dục nhưng bản thân nó lại
rất non trẻ, mới mẻ cả về nhận thức, lý luận và thực tiễn, rất thiếu về lực lượng,
không mang tính chuyên nghiệp... Vì vậy, việc thực hiện không mang lại nhiều
hiệu quả. Vấn đề hướng nghiệp chỉ thực sự nóng lên và được xã hội quan tâm khi
17
nền kinh tế đất nước bước sang cơ chế thị trường với sự đa dạng của các ngành
nghề và nhu cầu rất lớn về chất lượng nguồn nhân lực.
giáo trình của ông như: “Hướng nghiệp cho thanh niên”, Tạp chí Thanh Niên, số 8
năm 1982; báo cáo: “Một con đường hình thành lý tưởng nghề nghiệp cho HS lớn”;
các tác phẩm như: “Nghề nghiệp tương lai - giúp bạn chọn nghề” hay cuốn “Tư
vấn hướng nghiệp - sự lựa chọn cho tương lai”. Trong một công trình nghiên cứu
gần đây ông đã chỉ ra rằng: “Công tác hướng nghiệp góp phần điều chỉnh việc
chọn nghề của thanh niên theo hướng chuyển đổi cơ cấu kinh tế”. Bởi vì theo tác
giả, đất nước đang trong giai đoạn đẩy mạnh sự nghiệp CNH - HĐH, trong quá
trình CNH - HĐH, cơ cấu kinh tế sẽ chuyển theo hướng giảm tỉ trọng nông nghiệp,
tăng tỉ trọng công nghiệp, dịch vụ. Xu hướng chọn nghề của thanh niên phù hợp với
xu hướng chuyển cơ cấu kinh tế là một yêu cầu của công nghiệp.
Nguyễn Văn Hộ [6] cũng là những người đi sâu nghiên cứu về giáo dục
hướng nghiệp. Trong luận án tiến sĩ của mình tác giả đã đề cập đến vấn đề: “Thiết
lập và phát triển hệ thống hướng nghiệp cho HS Việt Nam”. Tác giả đã xây dựng
được luận chứng cho hệ thống giáo dục hướng nghiệp trong điều kiện phát triển
kinh tế - xã hội của đất nước. Năm 2006, Nguyễn Văn Hộ (chủ biên), đã cho ra đời
cuốn sách: “Hoạt động hướng nghiệp và giảng dạy kỹ thuật trong trường THPT”,
cuốn sách đã trình bày một cách hệ thống về cơ sở lí luận của giáo dục
hướng nghiệp, vấn đề tổ chức giáo dục hướng nghiệp trong trường THPT và giảng
dạy kĩ thuật ở nhà trường THPT trong điều kiện kinh tế thị trường và sự
nghiệp CNH - HĐH đất nước hiện nay.
Trong thời gian gần đây nhằm hiện thực hoá những phương hướng, mục tiêu
mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã đề ra về giáo dục hướng nghiệp và phân
luồng HS phổ thông. Đã có rất nhiều những nghiên cứu về hướng nghiệp bằng
nhiều cách tiếp cận khác nhau tạo nên một giai đoạn mới với sự đa dạng
trong nghiên cứu khoa học hướng nghiệp ở Việt Nam.
Kết quả nghiên cứu của Khoa Tâm lý – Đại học sư phạm Hà Nội [11] đã rút
ra kết luận: (1) Các hình thức hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông hiện tại
chưa thực sự phong phú và được tổ chức thường xuyên. Nhiều hình thức hấp dẫn,
có sức thuyết phục tốt như tham quan thực tế các cơ sở sản xuất địa phương, nghe
19
20
K.K. Platônốp - một trong những nhà tâm lý học nổi tiếng của Nhà nước
Xô Viết cho rằng : "Hướng nghiệp, đó là một hệ thống các biện pháp tâm lý - giáo
dục, y học, Nhà nước nhằm giúp cho con người đi vào cuộc sống thông qua việc lựa
chọn cho mình một nghề nghiệp vừa đáp ứng nhu cầu xuất hiện, vừa phù hợp với
hứng thú năng lực của bản thân. Những biện pháp này sẽ tạo nên sự thống nhất giữa
quyền lợi của xã hội với quyền lợi của cá nhân" hoặc như viện sĩ C.Ia.Batưsép xác
định: “ Hướng nghiệp là một hoạt động hợp lý gắn với sự hình thành ở thế hệ trẻ
hứng thú và sở thích nghề nghiệp vừa phù hợp với những năng lực cá nhân, vừa đáp
ứng đòi hỏi của xã hội đối với nghề này hay nghề khác ...” [6, tr5]
Theo Phạm Tất Dong khái niệm hướng nghiệp được hiểu trên hai bình diện:
- Trên bình biện xã hội: Hướng nghiệp như là một hệ thống tác động của xã hội
về giáo dục, về y học, kinh tế học nhằm giúp cho thế hệ trẻ chọn được nghề vừa phù
hợp với hứng thú, năng lực, nguyện vọng, sở trường của cá nhân, vừa đáp ứng nhu
cầu nhân lực của các lĩnh vực sản xuất trong nền kinh tế quốc dân.
- Trên bình diện trường phổ thông: Hướng nghiệp được coi là công việc của tập thể
giáo viên, tập thể sư phạm, có mục đích giáo dục học sinh trong việc chọn nghề,
giúp các em tự quyết định nghề nghiệp tương lai trên cơ sở phân tích khoa học về
năng lực, hứng thú của bản thân và nhu cầu nhân lực của các ngành sản xuất trong
xã hội. [2]
Hướng nghiệp là các hoạt động nhằm hỗ trợ mọi cá nhân chọn lựa và phát triển
chuyên môn nghề nghiệp phù hợp nhất với khả năng của cá nhân, đồng thời thỏa
mãn nhu cầu nhân lực cho tất cả các lĩnh vực nghề nghiệp (thị trường lao động) ở
cấp độ địa phương và quốc gia.
Lâu nay chúng ta vẫn tưởng rằng hướng nghiệp chỉ là sự lựa chọn một nghề
nghiệp mà mình yêu thích, chọn một trường đại học phù hợp với mình, tuy nhiên
đây chỉ là phần ngọn của một quá trình, một hoạt động trong số rất nhiều các hoạt
nghề phù hợp trong tương lai.
1.2.4. Đánh giá
Đánh giá là quá trình xem xét, bình phẩm về các đặc trưng, thuộc tính hay giá
trị của một sự vật hoặc hoạt động, hiện tượng nào đó theo các tiêu chí và chuẩn mực
so sánh nhất định (định lượng hoặc định tính).[4]
22
Bảo đảm tính khách quan là một yêu cầu cơ bản của mọi hoạt động đánh giá,
đặc biệt là trong lĩnh vực đánh giá nghiên cứu khoa học. Yêu cầu khách quan cần
được thực hiện trong suốt quá trình đánh giá từ việc xác định mục đích, yêu cầu,
quy trình và phương pháp đánh giá, hệ thống tiêu chí…nhằm phản ánh trung thực
các kết quả, giá trị nghiên cứu không bị chi phối bởi định kiến chủ quan của người
đánh giá.
Hoạt động nghiên cứu khoa học là những hoạt dộng trí tuệ đaực thù được thực
hiện bởi cá nhân hoặc một nhóm các nhà khoa học trong môi trường và các điều
kiện nhất định (môi trường nghiên cứu, trang thiết bị, kinh phí, thời gian….) nên
việc đánh giá nghiên cứu cần xem xét một cách toàn diện mọi mặt, các nhân tố
khách quan hoặc chủ quan tác động và ảnh hưởng trong quá trình nghiên cứu.
1.2.5. Nghề nghiệp
Nghề là thuật ngữ để chỉ một hình thức lao động sản xuất nào đó trong xã hội.
Theo từ điển Tiếng Việt (1998) định nghĩa: “Nghề là công việc chuyên làm,
theo sự phân công lao động của xã hội”.
Theo nghĩa rộng, dưới góc độ hướng nghiệp nhà bác học Nga E.A.Climôp định
nghĩa như sau: Nghề là các nhóm chuyên môn gần nhau. Còn chuyên môn là một
dạng hoạt động mà trong đó con người dùng trí lực và thể lực của mình tạo ra
những phương tiện cần thiết cho xã hội tồn tại và phát triển. [1, tr 49]
Theo tác giả Nguyễn Hùng thì: “Những chuyên môn có những đặc điểm chung,
gần giống nhau được xếp thành một nhóm chuyên môn và được gọi là nghề. Nghề
là tập hợp của một nhóm chuyên môn cùng loại, gần giống nhau. Chuyên môn là
hoạt động được chủ thể tổ chức chặt chẽ theo một lôgíc hợp lý về không gian, thời
gian, về nguồn lực tương ứng với những gì mà chủ thể có được nhằm đạt tới những
yêu cầu đặt ra cho một lĩnh vực nghề nghiệp hoặc cụ thể hơn là của một nghề nào
đó. [6, tr 12]
Trong nhà trường, chủ thể của hoạt động định hướng nghề nghiệp là học sinh,
song với tuổi đời còn trẻ, kinh nghiệm, vốn sống và trình độ nhận thức xã hội còn
nhiều hạn hẹp, nên họ cần có sự trợ giúp của các lực lượng giáo dục. Lúc này hoạt
động định hướng nghề nghiệp của học sinh trở thành đối tượng lao động giáo dục
của thầy, cô giáo, của các tổ chức chính trị, xã hội trong trường học nhằm giúp cho
24
quá trình định hướng nghề của học sinh diễn ra thuận lợi, đạt tới sự tương hợp cần
thiết giữa nguyện vọng cá nhân với yêu cầu của nghề trong những điều kiện kinh tế
- xã hội cụ thể. Ở đây, các lực lượng sư phạm trong nhà trường trở thành chủ thể
của một hoạt động đặc thù - hoạt động hướng nghiệp - một trong những nhiệm vụ
giáo dục toàn diện đối với học sinh. Để thực hiện có hiệu quả hoạt động này, các
lực lượng sư phạm trong nhà trường cần hiểu rõ đặc điểm định hướng nghề của học
sinh với những yếu tố tạo thành như nhận thức nghề, thái độ nghề, lựa chọn nghề và
quyết định nghề. [6, tr 12]
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến định hướng nghề nghiệp của học sinh THPT
1.3.1. Những đặc điểm cơ bản về tâm lý và nhân cách của HS THPT
Lứa tuổi HS THPT được xác định là những học sinh đang học trong trường
THPT có độ tuổi từ 15 đến 18 tuổi. Đây là giai đoạn phát triển và dần hoàn thiện
các cấu trúc tâm lý, các phẩm chất nhân cách và thể chất, chuẩn bị cho các em bước
vào cuộc sống xã hội với tư cách như một con người trưởng thành.
a. Đặc điểm hoạt động học tập:
Kinh nghiệm sống của HS THPT đã trở nên phong phú, các em đã ý thức
được rằng mình đang đứng trước ngưỡng cửa cuộc đời. Do vậy thái độ có ý thức
đối với học tập ngày càng phát triển và trở nên có lựa chọn hơn đối với mỗi môn