Thái độ tham gia giao thông của học sinh THPT trên địa bàn Thành phố Hà Nội - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BÙI ĐỨC TRỌNG THÁI ĐỘ THAM GIA GIAO THÔNG CỦA HỌC SINH THPT
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Tâm lý học THÁI ĐỘ THAM GIA GIAO THÔNG CỦA HỌC SINH THPT
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Tâm lý học
Mã số: 60 31 80

Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Văn Hảo

2.1.1 Học sinh các trường THPT: Chu Văn An, Nhân Chính, Hồ Xuân Hương 37
2.1.2 Giáo viên và phụ huynh học sinh c ủa 3 trường THPT trên 40
2.1.3 Cán bộ chiến sĩ Phòng CSGT - Công an TP Hà Nội 40
2.2 Tổ chức nghiên cứu 40
2.2.1 Thiết kế bảng hỏi 40
2.2.2 Cánh quy ước điểm cho bảng hỏi 42
2.2.3 Khảo sát thử 44
Trang 5
2.2.4 Điều tra chính thức 44
2.2.5 Phân tích các dữ liệu thu được 44
2.3 Quan sát khách quan 44
2.3.1 Mục đích quan sát 45
2.3.2 Địa điểm quan sát 45
2.3.3 Tổ chức quan sát 45
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Kết quả điều tra thực trạng thái độ của học sinh 46
3.1.1 Nhận thức 46
3.1.2 Xúc cảm 55
3.1.3 Hành vi 62
3.1.4 Tương quan giữa các mặt biểu hiện của thái độ 73
3.2 Sự đánh giá của người lớn về thái độ tham gia giao thông của học sinh 78
3.3 Kết quả quan sát khách quan 80
Kết luận 83
Kiến nghị 85
Tài liệu tham khảo 87
Phụ lục 91



7

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

1. Bảng 1: Phân bổ khách thể nghiên cứu (học sinh)
2. Bảng 2: Khái quát nhận thức của học sinh trong việc tham gia giao thông
3. Bảng 3: Nhận thức của học sinh về khái niệm, vai trò của hoạt động TGGT
4. Bảng 4: Tự đánh giá của học sinh về mức độ hiểu biết An toàn giao thông
5. Bảng 5: Nhận thức của học sinh về từng hành vi vi phạm quy tắc TGGT
6. Bảng 6: Tự đánh giá của học sinh về thực trạng việc TGGT
7. Bảng 7: Nhận thức về nguyên nhân của thái độ chưa nghiêm túc khi TGGT
8. Bảng 8: Nhận thức về vai trò của hoạt động tuyên truyền, giáo dục thói quen TGGT
9. Bảng 9: Khái quát về cảm xúc của học sinh khi TGGT
10. Bảng 10: Mức độ quan tâm của học sinh đối với vấn đề An toàn giao thông

cực, nhưng “tai nạn giao thông tiếp tục gia tăng” [9, tr22]. Khi so sánh một số tiêu
chí về an toàn giao thông đường bộ của nước ta với các nước trong khối ASEAN
thì số người bị tai nạn giao thông đứng ở thứ bậc cao hơn [39, tr4]. Số người chết
do tai nạn giao thông ở Việt Nam đã được so sánh với số người chết của một cuộc
chiến tranh lớn trên thế giới [4]. Mỗi ngày ở Việt Nam có khoảng 33 người chết
do tai nạn giao thông đường bộ. Điều đặc biệt đáng nói là trong số đó thì tỷ lệ
thanh thiếu niên trong độ tuổi 15 - 24 (chiếm gần 20% dân số Việt Nam) nhưng
chiếm tới gần 40% các vụ tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng [12]. Theo
ông Hans Troedson, Trưởng đại diện tổ chức Y tế thế giới của Liên Hợp Quốc tại
Việt Nam, vấn đề tai nạn giao thông ở Việt Nam hiện nay đã đến mức báo động,
không chỉ về y tế công cộng mà còn là vấn đề kinh tế, xã hội. Theo số liệu thống
kê gần đây của Ngân hàng phát triển Châu Á về thiệt hại do tai nạn giao thông
gây ra tại Việt Nam thì trung bình mỗi năm có hơn 11.000 người chết và hàng
chục nghìn người bị thương do tai nạn giao thông đường bộ. Chỉ tính riêng thiệt
hại về kinh tế do tai nạn giao thông đường bộ gây ra ước tính khoảng 900 triệu
USD/năm [8].
Trong điều kiện hiện nay, đất nước đang xây dựng và phát triển kinh tế xã
hội, phương tiện giao thông và cơ sở hạ tầng gia thông còn lạc hậu, thiếu đồng bộ
thì giải pháp giáo dục ý thức cho người tham gia giao thông có vai trò to lớn
trong việc kiềm chế tai nạn giao thông. Theo ông Ta-ka-gi, tư vấn trưởng của dự
án Quy hoạch tổng thể an toàn giao thông Quốc gia, thuộc Tổ chức hợp tác Quốc 9
tế Nhật Bản (JICA) thì Giải pháp cho giao thông Việt Nam phải bắt đầu từ văn
hoá mà không phải là từ cơ sở hạ tầng [15]. Phân tích nguyên nhân của tai nạn
giao thông cho thấy chủ yếu là do người tham gia giao thông đường bộ gây ra
[39, tr8]. Điều này liên quan tới nhận thức, thái độ, thói quen, kinh nghiệm của
chủ thể tham gia giao thông.
Tầng lớp thanh niên học sinh là chủ nhân tương lai của đất nước, trong

Thành phố Hà Nội - Thành phố có tỉ lệ tai nạn giao thông ở mức cao so với các
tỉnh thành khác ở nước ta hiện nay.

2. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng thái độ tham gia giao thông của học sinh trung học phổ
thông trên địa bàn Thành phố Hà Nội. Trên cơ sở đó đưa ra một số đề xuất, kiến
nghị nhằm góp phần nâng cao nhận thức và hành vi tuân thủ quy tắc an toàn giao
thông của học sinh, hạn chế những sai phạm đáng tiếc xảy ra ở lứa tuổi này. Nâng
cao ý thức và thực hành an toàn giao thông khi các em trưởng thành.

3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Mức độ tích cực và nguyên nhân của thực trạng thái độ tham gia giao
thông của học sinh THPT trên địa bàn Thành phố Hà Nội.
3.2 Khách thể nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên mẫu khách thể
như sau:
Học sinh, phụ huynh và thầy cô giáo tại 3 trường THPT (3 loại hình
trường khác nhau: dân lập, công lập, trường chuyên) trên địa bàn Thành phố
Hà Nội.
Số lượng:
+ Học sinh: 300
+ Thầy cô giáo: 30
+ Phụ huynh: 30

Số lượng và tỷ lệ khách thể được phân bố theo bảng dưới đây:
11

10
33
33
34
120
Tổng số
360

- Tỷ lệ học sinh được phân bố đều cho các trường, trong mỗi trường lại
phân bố đều cho các khối 10, 11, 12
- Tỷ lệ học sinh nam và nữ sẽ lấy tỷ lệ ngẫu nhiên theo lớp học
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và phương pháp có liên quan đến đề tài
- Nghiên cứu thực trạng thái độ tham gia giao thông của học sinh THPT
trên địa bàn Thành phố Hà Nội.
- Đề xuất, kiến nghị góp phần hình thành thái độ tích cực, quy tắc ứng xử
đúng đắn của học sinh khi tham gia giao thông, nâng cao ý thức an toàn giao
thông khi các em trưởng thành.
5. Giả thuyết khoa học
Học sinh THPT chưa thực sự có thái độ tích cực trong việc chấp hành các
quy tắc tham gia giao thông.
Nghiên cứu mức độ và nguyên nhân của thực trạng trên sẽ đưa ra được
những kiến nghị góp phần phòng ngừa và hạn chế những sai phạm ở lứa tuổi
này.
6. Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ luận văn, chúng tôi tiến hành nghiên cứu thái độ tham gia
giao thông của trên 300 học sinh tại ba trường THPT trên địa bàn Thành phố Hà
Nội (Thuật ngữ tham gia giao thông trong đề tài này được hiểu là tham gia giao 13
- Mục đích: Tìm hiểu và khai thác kỹ hơn về những biểu hiện thái độ cũng
như hành vi của các em học sinh trong quá trình tham gia giao thông trên đường,
qua đó làm rõ hơn kết quả nghiên cứu.
7.4 Phương pháp trò chuyện
- Mục đích: Tìm hiểu rõ hơn về thái độ của học sinh và thầy cô giáo, phụ
huynh học sinh trước tình trạng tham gia giao thông hiện nay, đồng thời thu thập
thêm thông tin để hỗ trợ cho các phương pháp nghiên cứu khác.
- Cách tiến hành: Tiếp xúc, trò chuyện, trao đổi tự nhiên các vấn đề dựa
trên nội dung của bảng hỏi; trong khi trò chuyện: ghi nhớ, nắm bắt, ghi lại các
biểu hiện, câu trả lời của đối tượng.
7.5 Phương pháp thống kê toán học: Chúng tôi sử dụng phần mềm SPSS
để tính toán và xử lý kết quả nghiên cứu, tỷ lệ trung bình, phần trăm, hệ số tương
quan, độ tin cậy.
bùng nổ của những nghiên cứu về thái độ ở phương Tây. Trong tâm lý học xã hội,
vấn đề thái độ có một vị trí xứng đáng, đặc biệt là những quan niệm mới về định
nghĩa thái độ, cấu trúc và chức năng của nó. Cũng ở thời kỳ này, nhiều thuyết đã
được hình thành làm cơ sở lý luận để lý giải quan hệ giữa thái độ và hành vi như
thuyết “bất đồng nhận thức” (Leon Festinger), thuyết “tự thể hiện”, thuyết “tự tri
giác” (Daryl Bem), thuyết “giá trị” (Edward).v.v. 15
Nhìn chung, xu thế trong các nghiên cứu về thái độ ở phương Tây là nhằm
giải quyết những vấn đề trong thực tiễn như: vận động tranh cử, bầu cử, tiếp thị,
tuyên truyền, bảo vệ môi trường, chữa bệnh v.v. cũng như việc nghiên cứu các
dạng thái độ đã định hình sẵn để có thể dự báo hành vi của cá nhân.
1.1.1.2 Ở Liên Xô (cũ)
Vấn đề thái độ được nghiên cứu khá sớm ở Liên Xô. Người đầu tiên đặt ra
vấn đề thái độ khi nghiên cứu tính cách là A.Ph.Lazuski, ông đã nêu ra những
quan niệm về thái độ trong các nghiên cứu của mình và ông cho rằng thái độ là
khía cạnh quan trọng của nhân cách [29, tr489].
Tiếp theo đó, dựa trên các nghiên cứu của A.Ph.Lazuski và lập trường của
tâm lý học mácxít, V.N.Miasixev (1892 - 1973) đã xây dựng “Học thuyết thái độ
nhân cách”. Trong học thuyết này ông không chỉ nghiên cứu khái niệm, phân loại
thái độ mà còn đưa ra thông số đo thái độ với các chỉ số khác nhau, đồng thời
khẳng định cơ sở sinh lý học của thái độ là phản xạ có điều kiện.
Thuyết “tâm thế xã hội” của D.N.Uznadze cũng đã góp phần tích cực vào
việc nghiên cứu thái độ của các nhà tâm lý học Liên Xô. Theo Uznadze, thái độ
(tâm thế) là trạng thái vô thức xuất hiện khi có sự gặp gỡ của nhu cầu và hoàn cảnh
thỏa mãn nhu cầu, quy định xu hướng biểu hiện của tâm lý và hành vi của con
người, giúp con người thích ứng với điều kiện bên ngoài.
Chính cách tiếp cận và xem xét khái niệm tâm thế theo D.N.Uznadze đã
giúp cho việc xác định nghiên cứu tâm thế xã hội - thái độ trong tâm lý học xã hội

Cùng với sự phát triển ngày càng sâu, rộng theo hướng ứng dụng vào thực
tiễn của các khoa học, Tâm lý học cũng ngày càng được nghiên cứu chuyên sâu và
ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Trong đó hướng ứng
dụng tâm lý học vào lĩnh vực hoạt động tham gia giao thông và đảm bảo điều kiện
an toàn giao thông bắt đầu được quan tâm nghiên cứu.
Tác giả Taniguchi Shunji (Nhật Bản) [10,tr170-171] cho rằng: trong tâm lý
học có tổ chức Quốc tế IAAP (International Association of Applied Psychology) -
Hiệp hội Quốc tế tâm lý học ứng dụng, trong tổ chức này có một bộ phận chuyên
về tâm lý học giao thông. Tại Nhật Bản, hiện nay đang có tổ chức JATP (Japanese
Association of Traffic Psychology) - Hội tâm lý học giao thông Nhật Bản. Theo
ông thì tâm lý học giao thông có ba mục đích: thứ nhất là mô tả hiện tượng, thứ hai
là giải thích rõ cơ chế của hiện tượng đó và cuối cùng là để dự đoán và phòng ngừa 17
các tai nạn [10,tr170-171]. Và các công trình nghiên cứu của tâm lý học giao thông
tập trung nghiên cứu liên quan tới xe cơ giới với ba mục đích trên.
Ở Việt Nam, lĩnh vực tham gia giao thông và trật tự an toàn giao thông có
nhiều bài viết và một số công trình nghiên cứu ở góc độ khoa học pháp lý. Đáng
kể nhất là đề tài khoa học cấp Bộ (Bộ Công an) có đề tài Những giải pháp tăng
cường công tác đảm bảo trật tự ATGT đường bộ của lực lượng CSGT giai đoạn
2001-2010 (Mã số nghiên cứu- 2000-C26-005) do tác giả Vũ Sĩ Doanh làm chủ
nhiệm đề tài. Đề tài này đề cập ở góc độ pháp lý: tình hình trật tự ATGT đường
bộ ở Việt Nam và những giải pháp để nâng cao chúng từ chức năng của lực
lượng CSGT. Bên cạnh đó, tác giả Đỗ Đình Hoà cũng có công trình nghiên cứu
lý luận về Điều tra tai nạn giao thông trong đó đề cập đến một số yếu tố thuộc
về tâm lý của chủ thể tham gia giao thông như: kỹ năng, ý thức, thói quen v.v.
[23,tr11-15]. Ngoài ra còn một số đề tài nghiên cứu trên quy mô nhỏ như: Luận
văn tốt nghiệp đại học của tác giả Lê Minh Đạt (Học viện Cảnh sát nhân dân,
2003) với đề tài Tai nạn mô tô, xe máy đối với học sinh, sinh viên - thực trạng

khi tham gia giao thông của học sinh. Việc nghiên cứu thái độ tham gia giao
thông hầu như chưa có một công trình nào nghiên cứu. Chúng tôi hy vọng đề tài
Thái độ tham gia giao thông của học sinh THPT trên địa bàn Thành phố Hà Nội
sẽ góp phần làm rõ hơn thái độ của chủ thể khi tham gia giao thông.
1.2 Các khái niệm cơ bản
1.2.1 Thái độ
1.2.1.1 Khái niệm Thái độ
Có thể nói rằng, thái độ là thuật ngữ được sử dụng rất nhiều trong tâm lý
học nói riêng và trong cuộc sống nói chung, nhưng “khái niệm thái độ” thì tương
đối phức tạp. Thuật ngữ “thái độ” (attitude - tiếng Anh) dùng để chỉ tư thế hoặc
dáng điệu của một người. Từ trước đến nay có nhiều nhà tâm lý học nghiên cứu
về thái độ, song định nghĩa về thái độ vẫn chưa được thống nhất.
Các nhà tâm lý học phương tây và Liên Xô (D.N.Uznadze, H.Fillmore,
D.Krech, G.Clauss, D.Myers, V.N.Miasixev, G.W.Allport) bằng những công
trình nghiên cứu và thực nghiệm của mình đã lý giải và đưa ra nhiều định nghĩa
khác nhau về thái độ. Khái quát các định nghĩa trên cho ta thấy quan niệm chung:
Thái độ là trạng thái sẵn sàng phản ứng và thuộc phạm vi bên trong cá nhân
nhưng được biểu hiện và nhận thấy thông qua những hành vi, cử chỉ ở bên ngoài. 19
Ở Việt Nam, một số định nghĩa cũng thể hiện quan điểm như trên: Thái độ
là dáng vẻ, cách, những biểu hiện bên ngoài của tình cảm, ý nghĩ của một người
nào đó đối với công việc hay đối với người khác.
Theo từ điển Tiếng Việt: Thái độ là tổng thể nói chung những biểu hiện ra
bên ngoài (bằng nét mặt, cử chỉ, lời nói, hành động) của ý nghĩ, tình cảm đối với ai
hoặc đối với sự việc nào đó trước một vấn đề, một tình hình [36, tr877].
Trong từ điển Tâm lý học của tác giả Nghiễn Khắc Viện định nghĩa: Thái độ là
những phản ứng tức thì, tiếp nhận dễ dàng hay khó khăn, đồng tình hay chống đối như
đã có sẵn những cơ cấu tâm lý tạo ra định hướng cho việc ứng phó.

đánh giá mang tính chủ quan (trên cơ sở thang giá trị của bản thân) đối với sự vật,
hiện tượng hay con người nào đó có quan hệ.
Tính ý thức của thái độ: Thái độ là một hiện tượng tâm lý có ý thức của
con người. Mức độ ý thức cao hay thấp của thái độ từng người tuỳ thuộc rất nhiều
vào sự phát triển của ý thức công dân, của đạo đức; nó liên quan chặt chẽ với sự
phát triển ý thức trách nhiệm của người đó trước cộng đồng xã hội, gia đình và
bản thân.
Tính bền vững tương đối của thái độ: Là một thuộc tính tâm lý của nhân
cách, thái độ có tính ổn định và bền vững tương đối. Mức độ ổn định và bền vững
của thái độ tuỳ thuộc vào mức độ tích cực và thường xuyên tham gia của cá nhân
vào các mối quan hệ xã hội. Trong cuộc sống, mức độ bền vững và ổn định của
thái độ mỗi người thường biểu hiện ở lập trường (kiên định hay bấp bênh, trước
sau như một hay tiền hậu bất nhất) của họ đối với một loại vấn đề nào đó mà họ
phải đối mặt.
Tính chi phối của thái độ: Là thuộc tính cốt lõi của nhân cách, thái độ quy
định đặc điểm cảm xúc, nhận thức hiện thực khách quan của cá nhân cũng như
hành động đáp lại của họ đối với các tác động đến từ bên ngoài. Có thể nói tất cả
các hiện tượng tâm lý của cá nhân ít nhiều đều chịu sự chi phối bởi thái độ chủ
quan của họ.
1.2.1.3 Cấu trúc tâm lý của thái độ
Tuy còn nhiều ý kiến khác nhau giữa các nhà nghiên cứu, song nhìn chung
phần đông trong số những tác giả này đều thống nhất cho rằng, cấu trúc tâm lý
của một thái độ cụ thể bao gồm ba thành tố: nhận thức, cảm xúc và hành vi. Ba
thành tố này trong đời sống tâm lý của con người tác động qua lại với nhau thành 21
một chỉnh thể thái độ thống nhất. Nói cách khác, sự biểu hiện của từng thành tố
riêng lẻ chưa nói lên thái độ của chủ thể đối với một khách thể nào đó, mà phải là
sự thống nhất của ba thành tố cấu thành mới nói lên sức mạnh của thái độ, điều

B.Ph.Lomov gọi là “Không gian chủ quan đa chiều”. Có thể hiểu “Không gian chủ
quan đa chiều” là cấu trúc vĩ mô của thái độ, trong khi hiểu cấu trúc của từng thái
độ chủ quan cụ thể trong đó là cấu trúc vi mô của thái độ chủ quan nói chung [27].
1.2.1.4 Chức năng của thái độ
Trong cuộc sống, mỗi cá nhân lại thể hiện mình ra bên ngoài thông qua
phong cách và những hành động riêng. Khả năng ứng xử theo một cách thức nhất
định của cá nhân thực hiện được là nhờ thái độ có các chức năng sau [21,tr18]:
Chức năng thích nghi: Nhằm đạt mục đích đã đề ra, trong nhiều trường
hợp, cá nhân điều chỉnh và thay đổi thái độ do tác động của môi trường như thái
độ a dua, lựa chiều ý kiến số đông.
Chức năng tiết kiệm trí lực: Cá nhân tiết kiệm sức lực, năng lực nhờ thần kinh,
cơ bắp trong hoạt động nhờ các khuôn mẫu hành vi quen thuộc đã được hình thành.
Chức năng thể hiện giá trị: Thông qua sự đánh giá một cách có chọn lọc về
đối tượng qua biểu lộ cảm xúc, hành động cũng như ý định hành động, cá nhân
thể hiện giá trị nhân cách của mình.
Chức năng tự vệ: Trong tình huống có xung đột nội tâm, con người tìm
cách thay đổi thái độ như tự bào chữa, biện minh cho hành vi mâu thuẫn với thái
độ, qua đó làm giảm căng thẳng, tạo cân bằng nội tâm.
Chức năng điều chỉnh hành vi và hoạt động: Thái độ đảm bảo sự tham gia
của cá nhân vào cuộc sống xã hội, quy định phương pháp hoạt động và mối quan
hệ của cá nhân với người khác. Qua đó, quy định tính chất và mức độ tham gia
của họ vào sự phát triển các quan hệ xã hội.
1.2.1.5 Cơ chế hình thành thái độ
Theo M.Vorwerg và H.Hiebsch(Đức), thái độ của cá nhân được hình thành
thông qua 4 cơ chế tâm lý xã hội: bắt chước, đồng nhất hoá, giảng dạy và chỉ
dẫn[1,tr19].
Bắt chước: Là sự hình thành thái độ bằng con đường tự phát. Nghĩa là cá
nhân học các phương thức hành vi hoặc phản ứng mà không cần sử dụng các kỹ
thuật giáo dục theo một phương thức nào đó. Theo Miller và Dollard thì có 4
nhóm người chính khiến cho ta thích bắt chước và dễ gây ảnh hưởng tới người

chỉnh những hành động.
Thái độ và tính cách: Trong tâm lý học đại cương, tính cách được hiểu là
sự kết hợp độc đáo các đặc điểm tâm lý ổn định của con người, bao gồm một hệ 24
thống thái độ đối với hiện thực được thể hiện ra ngoài thông qua hệ thống hành vi
cử chỉ, cách nói năng tương ứng. Như vậy, quan hệ giữa thái độ với tính cách là
quan hệ giữa cái bộ phận và cái tổng thể.
Thái độ và ý chí: ý chí được hiểu là mặt năng động của ý thức, thể hiện ở
khả năng đề ra mục đích và nỗ lực vượt qua khó khăn trong khi hành động nhằm
đạt mục đích đó, trong khi thái độ được hiểu là thành tố định hướng hành vi xã
hội của con người. Sự nỗ lực vượt khó khăn trong khi hành động của ý chí được
định hướng, điều khiển, điều chỉnh bởi thái độ, làm cho hành động đạt được mục
đích đã đề ra. Do đó, trong mối quan hệ này thái độ được hiểu là sự thể hiện của
các phẩm chất ý chí (tính mục đích, tính kiên trì, tính quả quyết). Và vì vậy ý chí,
thái độ là hai thành phần của một hệ thống chức năng - ý thức.
Tóm lại, thái độ chủ quan của cá nhân có quan hệ không thể tách rời với
các thuộc tính khác của một nhân cách thống nhất, trọn vẹn. Việc phân tích như
trên chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận phục vụ cho việc nghiên cứu thái độ một cách
rõ ràng và tường minh hơn mà thôi.
1.2.2 Tham gia giao thông
1.2.2.1 Khái niệm Tham gia giao thông
Trong tiến trình phát triển của lịch sử loài người, con người đã phải tổ chức và
tham gia vào rất nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau của đời sống xã hội như: hoạt
động lao động sản xuất, hoạt động nghiên cứu khoa học, hoạt động học tập, hoạt
động vui chơi giải trí trong đó có hoạt động giao thông vận tải.
Để hiểu khái niệm tham gia giao thông, trước tiên chúng ta phải xem xét và
xuất phát từ hai khái niệm thành phần là: khái niệm “giao thông” và khái niệm
“tham gia”.

lại, vận chuyển của cá nhân hay nhóm xã hội.
Như vậy, tham gia giao thông là một phương thức hoạt động, là nhu cầu
khách quan của con người trong đời sống xã hội. Cũng như quá trình tham gia
vào các hoạt động khác của con người, trong quá trình tham gia giao thông chủ
thể cũng bộc lộ và thể hiện những đặc điểm tâm lý như: ý thức, thái độ, thói quen,
hành vi ứng xử, văn hoákhi tham gia giao thông.
1.2.2.2 Người tham gia giao thông
* Người tham gia giao thông: 26
Hoạt động giao thông là sự phối hợp đồng bộ, khoa học và thống nhất giữa
ba yếu tố cấu thành: Người tham gia giao thông - Phương tiện tham gia giao
thông - Cơ sở vật chất, công trình giao thông. Trong đó người tham gia giao
thông được xem là yếu tố quan trọng nhất, đóng vai trò là chủ thể của hoạt động
này [23,tr11,15].
Thông thường trong cuộc sống người ta hay đồng nhất khái niệm “người
tham gia giao thông” với khái niệm “người đi đường”. Tuy nhiên thuật ngữ
“người đi đường” chưa phản ánh hết tính chất cũng như nghĩa vụ, trách nhiệm
của chủ thể tham gia giao thông.
Theo tác giả Nguyễn Duy Lãm trong cuốn “Sổ tay thuật ngữ pháp lý” đã
chỉ ra: “Người tham gia giao thông là người có những hoạt động trên đường giao
thông. Người tham gia giao thông gồm người điều khiển và sử dụng các loại
phương tiện giao thông; người dẫn, dắt, cưỡi súc vật, người đi bộ, người làm các
công việc khác trên đường bộ, đường đô thị” [28,tr256].
Luật giao thông đường bộ (2009) có quy định: “ Người tham gia giao thông
gồm người điều khiển; người sử dụng phương tiện giao thông đường bộ; người
điều khiển, dẫn dắt súc vật và người đi bộ trên đường bộ; người điều khiển
phương tiện tham gia giao thông gồm người điều khiển xe cơ giới, xe thô sơ, xe
máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ, người lái xe là người điều khiển


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status