ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THU TRANG (Màu mận chín , 150 trang, 5quyển) “QUÁ TRÌNH RA QUYẾT ĐỊNH CỦA BỆNH NHÂN
TÂM THẦN TRONG MÔ HÌNH PHỤC HỒI CHỨC NĂNG”
(Nghiên cứu tại Bệnh viện Ban ngày Mai Hương, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số : 60.90.01.01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Hồi Loan
1.1.1. Người bệnh tâm thần 31
1.1.2. Phục hồi chức năng, mô hình phục hồi chức năng và tái hòa nhập gia đình và cộng
đồng 32
1.1.3. Quyết định, ra quyết định và ra quyết định chung (shared decision making) 33
1.1.4. Tư duy 34
1.1.5. Nhóm và nhóm trị liệu 35
1.1.6. Tăng cường năng lực (Empowerment) 35
1.2. Những lý thuyết chính ứng dụng trong nghiên cứu 36
1.2.1. Lý thuyết về Tăng cường năng lực (empowerment) 36
1.2.2. Lý thuyết về Ra quyết định chung (shared decision making) 38
1.2.3. Lý thuyết Quá trình tư duy (Platonov, 1977) 41 2
1.3. Khái quát đặc điểm địa bàn nghiên cứu 44
Chƣơng 2. Mô hình phục hồi chức năng tại Bệnh viện Tâm thần Ban ngày Mai
Hƣơng 47
2.1. Khái quát đặc điểm của mô hình phục hồi chức năng 47
2.1.1. Cơ sở khoa học của mô hình phục hồi chức năng 47
2.1.2. Những đặc điểm về cơ cấu hành chính và đội ngũ chuyên môn của mô hình phục hồi
chức năng 56
2.1.3. Những đặc điểm về kết cấu chương trình và các hoạt động chính trong mô hình phục
hồi chức năng 58
2.2. Đặc điểm của bệnh nhân tâm thần tham gia mô hình phục hồi chức năng 62
2.2.1. Số lượng bệnh nhân tham gia mô hình phục hồi chức năng 62
2.2.2. Cơ cấu bệnh nhân trong mô hình phục hồi chức năng 65
2.2.3. Tình trạng bệnh của bệnh nhân trong mô hình phục hồi chức năng 68
2.2.4. Các nguồn tiếp cận mô hình phục hồi chức năng của bệnh nhân và người nhà bệnh
nhân 71
2.2.5. Những nhu cầu phục hồi chức năng đặc thù của bệnh nhân trong mô hình 72
Bảng 2.1. Theo dõi hoạt động phục hồi chức năng của bệnh nhân tâm thần trong
mô hình phục hồi chức năng sáng ngày 02/05/2013
59
Bảng 2.2. Số lượng bệnh nhân tham gia mô hình phục hồi chức năng trong nửa
đầu tháng 04/2013
64
Bảng 2.3. Cơ cấu tuổi và giới tính bệnh nhân trong mô hình phục hồi chức năng
ngày 02/05/2013
66
Bảng 2.4. Tỉ lệ nam – nữ ở bệnh nhân tham gia mô hình phục hồi chức năng
trong nửa đầu tháng 04/2013
67
Bảng 2.5. Theo dõi nhu cầu phục hồi chức năng của 25 bệnh nhân tâm thần
trong mô hình phục hồi chức năng ngày 02/05/2013
72
Bảng 3.1. Mô hình ra quyết định trị liệu của Charles (Puschner, 2010)
88
5
DANH MỤC HỘP
Hộp 2.1. Trích nội dung hoạt động tâm lý nhóm và kỹ năng tự lập
60
Hộp 2.2. Phân loại bệnh tâm thần trong Chương V-Rối loạn tâm thần và hành vi
(F00-F99) của ICD-10
68
Hộp 3.1. Lược trích “Thang đánh giá chung về hoạt động GAF”
Hiện nay, Việt Nam đang phải đối phó với nhiều vấn đề xã hội đa dạng và phức
tạp, trong đó, sức khỏe tâm thần đang trở thành một vấn đề nổi bật đòi hỏi sự quan tâm và
can thiệp từ các cấp chính quyền, các ngành nghề và sự nhận thức cũng như tham gia của
cộng đồng. “Số người bị rối nhiễu tâm trí ở Việt Nam ước tính khoảng 10% dân số, tương
đương 8,6 triệu người, trong đó đối tượng tâm thần nặng, người có hành vi nguy hiểm cho
gia đình, cộng đồng (đập phá tài sản, đánh người, đi lang thang) ước tính chiếm 2,5% số
người rối nhiễu tâm trí (tương đương 200 ngàn người). Phần lớn các gia đình có người
tâm thần đã nhiều lần đưa người tâm thần đến điều trị tại bệnh viện, rơi vào cảnh nghèo
đói nên để người tâm thần đi lang thang hoặc nhốt, xích tại gia đình; nhiều người bị rối
nhiễu tâm trí nhưng không được tư vấn, trị liệu tâm lý kịp thời nên trở thành mắc bệnh tâm
thần.” [2, tr. 10]
Do ảnh hưởng của bệnh tật, cùng với sự thiếu thốn trong các dịch vụ chăm sóc, hỗ
trợ chuyên biệt, người mắc các rối loạn tâm thần hiện nay phải đương đầu với nhiều nan
đề trong cuộc sống mà không tìm ra phương thức hiệu quả để đối phó và vượt qua. Người
bệnh tâm thần thường mắc những rối loạn vận động thần kinh khiến cho quá trình ra quyết
định trong cuộc sống, công việc của họ bị gián đoạn và hiệu quả không cao. Chính điều
này càng khiến cho người bệnh khó khăn trong hòa nhập xã hội. Không những vậy, sự
thiếu vắng của các dịch vụ Công tác xã hội trong chăm sóc và phục hồi chức năng cho
người tâm thần đã khiến cho tình trạng của họ ngày càng trầm trọng hơn.
Trước tình trạng đó, xã hội đang dành sự chú ý nhiều hơn tới vấn đề này. Công tác
hỗ trợ chăm sóc người bệnh tâm thần cũng được đề cao hơn trước. Tổ chức y tế thế giới đã
xác định sức khoẻ tâm thần là một ưu tiên toàn cầu. Ở khu vực Tây Thái Bình Dương, Tổ
chức y tế thế giới đang đề nghị chiến lược vùng này là dựa vào cộng đồng như một
phương pháp làm giảm gánh nặng của bệnh tâm thần, suy giảm chức năng tâm thần và
khuyến khích sức khoẻ tâm thần. Trong đó, WHO đã định hướng cho công tác chăm sóc
sức khỏe tâm thần nước ta cũng như khu vực một xu hướng tiến bộ trên thế giới là chăm 7
sóc sức khỏe tâm thần dựa vào cộng đồng. Đặc biệt mô hình phục hồi chức năng theo hình
vẫn chưa được cộng đồng và thậm chí nhiều nhà chuyên môn trong lĩnh vực trợ giúp nhận
thức đúng đắn. Những suy nghĩ kì thị người bệnh tâm thần là người vô dụng, không có khả
năng tự đưa ra những quyết định dù là nhỏ nhất liên quan đến cuộc sống của mình vẫn còn
phổ biến. Bởi vậy, để thúc đẩy quá trình ra quyết định nhằm tạo ra những ảnh hưởng tích
cực tới sự tiến bộ của người bệnh, hỗ trợ họ hòa nhập cộng đồng đúng nghĩa, chuẩn bị tâm
thế để họ tham gia vào các hoạt động đa dạng trong đời sống xã hội, các mô hình phục hồi
chức năng cần đến vai trò của nhân viên công tác xã hội. Đảm nhiệm nhiệm vụ này giúp
cho nhân viên công tác xã hội thực sự tham gia vào quá trình tăng cường năng lực cho
người bệnh một cách toàn diện và bền vững, đảm bảo quyền lợi và phát huy thế mạnh của
những thân chủ này.
Hiện nay, trong cả nước, chỉ duy nhất có một bệnh viện hoạt động theo hình thức
bệnh viện ban ngày với định hướng chăm sóc sức khỏe tâm thần mới của WHO - chăm sóc
sức khỏe tâm thần vì cộng đồng và dựa vào cộng đồng. Đó là bệnh viện ban ngày Mai
Hương, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. Các nhà tâm lý học tại bệnh viện này – cũng là người
đảm nhiệm một số vai trò của nhân viên công tác xã hội đã tạo ra một khác biệt lớn trong
trị liệu cho bệnh nhân tâm thần tại Việt Nam, nơi mà hầu hết cộng đồng cho rằng các bệnh
tâm thần là vô phương cứu chữa, không có hi vọng phục hồi và bệnh nhân tâm thần là
những người nguy hiểm với cộng đồng. Cùng với các cán bộ khác trong nhóm như bác sỹ,
y tá, điều dưỡng,…, nhà tâm lý học tại mô hình này đã tăng cường năng lực một cách rõ
ràng cho các bệnh nhân tâm thần bằng cách trao cho họ quyền quyết định ở các cấp độ
khác nhau.
Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài này có ý nghĩa quan trọng nhằm giúp chúng ta xây
dựng nhận thức hệ thống và toàn diện trong đánh giá, khẳng định vị thế của quá trình ra
quyết định của người bệnh tâm thần trong mô hình phục hồi chức năng với tư cách một
cách thức tăng cường năng lực cho thân chủ, qua đó, xây dựng cách thức can thiệp giúp
người bệnh tâm thần tham gia tích cực hơn vào quá trình ra quyết định trong những vấn đề 9
liên quan đến bản thân để họ hòa nhập đời sống xã hội tốt hơn, có một chất lượng cuộc
nghèo, người khuyết tật, người đồng tính, người da màu… Trong lĩnh vực chăm sóc sức
khỏe tâm thần, tăng cường năng lực cũng thường xuyên được quan tâm và đề cao. “Hướng
dẫn về tăng cường năng lực trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tâm thần” được Văn phòng
WHO tại khu vực Châu Âu đưa ra vào năm 2010 như một tuyên bố chính thức về nhân
quyền của người bệnh tâm thần cũng như một định hướng, hướng dẫn thực hành cho
những cán bộ làm việc trong lĩnh vực này để đảm bảo hiệu quả điều trị tốt nhất cho người
bệnh. Tài liệu này cung cấp một khung lý thuyết cơ bản cùng những khái niệm thông dụng
về tăng cường năng lực, đặc biệt trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tâm thần. Đáng lưu ý là
trong cẩm nang này là sự ghi nhận một hệ thống những cơ sở pháp lý rõ ràng, đầy đủ của
tăng cường năng lực đối với bệnh nhân tâm thần, cụ thể, khái niệm “tăng cường năng lực”
là một khái niệm trọng tâm trong tầm nhìn tăng cường sức khỏe của WHO vốn được nhận
diện rõ ràng trong: (1) Tuyên bố Alma – Ata; (2) Hiến chương Ottawa về thúc đẩy sức
khỏe; (3) Là một trong sáu thông điệp cơ bản trong Chiến lược Châu Âu về Ngăn ngừa và
kiểm soát bệnh tật không lan truyền (mọi người nên được trao quyền để thúc đẩy sức khỏe
của họ tương tác hiệu quả với các dịch vụ sức khỏe và là một đối tác tích cực trong quản lý
bệnh tật); (4) Tuyên bố sức khỏe tâm thần tại Châu Âu; (5) Kế hoạch hành động trong sức
khỏe tâm thần tại Châu Âu; (6) Hiệp ước Châu Âu về sức khỏe tâm thần và phúc lợi. Cũng
trong cẩm nang này, khái niệm chung nhất về “tăng cường năng lực/empowerment” được
nhìn nhận là cần được thực hiện đồng thời tại cấp độ quần chúng và cá nhân và “tăng
cường năng lực là một quá trình xã hội tương tác trong chính các thành phần của nó
thông qua việc các cá nhân và nhóm đạt được hiểu biết tốt hơn và kiểm soát tốt hơn cuộc
sống của họ. Kết quả là, họ có thể thay đổi môi trường xã hội và chính trị mà họ sinh sống
để thúc đẩy hoàn cảnh sống liên quan đến sức khỏe của mình.” [49, tr.1]
Cùng bàn luận về các nguyên tắc và hướng dẫn thực hành theo cách tiếp cận tăng
cường năng lực cho thân chủ, nhóm tác giả thuộc đại học Utah, đứng đầu là Scott W.
Boyle đã đề cập đến nguyên tắc thực hành tăng cường năng lực cho thân chủ yếu thế trong
chương 9 của tác phẩm “Thực hành công tác xã hội trực tiếp/ Direct Practice in Social
Work” (2009). Chương 9 với tiêu đề “Tăng cường năng lực và thực hành dựa vào thế
12
2005 được coi là cuốn sách đầu tiên cung cấp cách tiếp cận bài bản từng bước để tăng
cường năng lực cho những khách hàng có vấn đề về sức khỏe tâm thần. Tác phẩm này
được coi như một giáo trình bởi nó được đánh giá là một sự hướng dẫn tốt để tăng cường
năng lực cho những người mắc bệnh tâm thần nặng. Tiến sĩ Kraig J. Knudsen đã nhận xét
rằng “Hiện nay, khi mà phục hồi khỏi bệnh tâm thần đã trở thành một thực tế với nhiều
người thì lĩnh vực sức khỏe tâm thần vẫn chưa có một cách hiểu về phục hồi và chưa có
những công cụ cần thiết để hỗ trợ những người mắc bệnh tâm thần nặng trong cuộc hành
trình của họ… Sách của Donald Linhorst thì khác.” Thực tế, hiện nay, Donald Linhorst là
nhà nghiên cứu nổi bật nhất về lĩnh vực thực hành công tác xã hội trong chăm sóc sức
khỏe tâm thần, đặc biệt thông qua cách thức tăng cường năng lực cho người bệnh. Tuy
nhiên, tác phẩm của ông thường mang tính chất của sách giáo trình hướng dẫn thực hành
với những chỉ dẫn, các phương thức áp dụng tăng cường năng lực vào thực tiễn. Cũng
trong tác phẩm này, quá trình quyết định của bệnh nhân tâm thần được đề cao và coi là
một trong những bước/cách thức quan trọng nhất trong tăng cường năng lực và hỗ trợ bệnh
nhân hòa nhập cộng đồng hiệu quả.
Một tác phẩm nữa đề cập tới biện pháp cụ thể dựa trên cách tiếp cận thực hành tăng
cường năng lực để hỗ trợ bệnh nhân tâm thần là bài báo khoa học “Giáo dục hỗ trợ với tư
cách một phương thức can thiệp tăng cường năng lực cho bệnh nhân tâm thần/ Supported
education as an empowerment intervention for people with mental illness” của tác giả
Chyrell D. Bellamy và Carol T. Mowbray của Đại học Michigan xuất bản năm 1998 là
một trong những nghiên cứu sớm nhất của lĩnh vực này. Nghiên cứu này thực chất là sự
lượng giá một chương trình giáo dục hỗ trợ đặc biệt cho bệnh nhân tâm thần. Chương trình
giáo dục hỗ trợ này có một phần tương đồng với mô hình phục hồi chức năng hiện nay.
Trong đó, yếu tố tăng cường năng lực được phân tích thể hiện chủ yếu ở quá trình, kết quả
chứ không đề cập cụ thể như một phương pháp, cách thức can thiệp như tác phẩm của
Linhorst. Nó nhấn mạnh rằng giáo dục hỗ trợ chính là cách tăng cường năng lực gián tiếp
cho bệnh nhân tâm thần. Bản thân tác phẩm cũng chỉ ra rằng chương trình giáo dục hỗ trợ
này không đặt trọng tâm chính vào việc tăng cường năng lực cho bệnh nhân mà nó chỉ là
14
phẩm này, tăng cường năng lực thường đưa ra những khái quát chung nhất trong định
hướng thực hành với những thân chủ yếu thế điển hình.
● Ra quyết định ở bệnh nhân trong hệ thống chăm sóc sức khỏe tâm thần
Bàn luận về quyền và quá trình ra quyết định ở bệnh nhân tâm thần theo cách tiếp
cận tăng cường năng lực thường được biết đến trong các nghiên cứu cũng như các sổ tay,
tài liệu hướng dẫn thực hành với người bệnh với tên gọi “ra quyết định chung/ shared
decision making”. Ra quyết định chung là chủ đề cho rất nhiều nghiên cứu ở các khía cạnh
cụ thể khác nhau, nhưng nhìn chung phản ánh một nguyên tắc thực hành mang tính cải
cách trong lĩnh vực y tế, phát huy tối đa nhân quyền và đảm bảo tối ưu cho hiệu quả can
thiệp với người bệnh. Một điểm chung dễ nhận thấy ở những công trình nghiên cứu về “ra
quyết định chung” là sự đồng thuận và thống nhất trong quan điểm, nhìn nhận của các tác
giả về bản chất của nó, từ khái niệm, hiệu quả và quá trình. Tuy nhiên, mỗi tác giả lại tiếp
cận dưới một góc nhìn khác nhau, tập trung vào một trọng tâm khác nhau của hoạt động
này. Những quan điểm đa dạng và phong phú đó đã góp phần làm phong phú thêm hệ
thống lý thuyết chung về “ra quyết định chung”, đặc biệt trong lĩnh vực sức khỏe tâm thần.
Nhìn chung, trong hệ thống lý thuyết về “ra quyết định chung” trong lĩnh vực chăm
sóc sức khỏe tâm thần, mỗi tác giả/nhóm tác giả đã tập trung vào một chiều cạnh để phân
tích, làm rõ về nó. Những yếu tố được quan tâm, nghiên cứu và bổ trợ lẫn nhau gồm có:
Cơ sở khoa học của ra quyết định chung
Những khái niệm cơ bản và biểu hiện của ra quyết định chung
Hiệu quả của việc áp dụng ra quyết định chung trong trị liệu lâm sàng đối
với người bệnh và quá trình trị liệu
Những yêu cầu cơ bản trong cơ sở thực hành và với điều kiện của người
bệnh để tiến hành ra quyết định chung
Những chủ đề chính mà người bệnh quan tâm trong quá trình ra quyết định
chung
Các mô hình/khung lý thuyết/quá trình ra quyết định chung
định liên quan đến bệnh nhân được làm rõ hơn khi đề cập đến người giám hộ được chỉ
định. Mục này giúp chúng ta có cơ sở nhìn nhận việc ra quyết định liên quan đến người 16
bệnh trong những trường hợp được cho là người bệnh không tự ra được quyết định cho
chính mình. Cụ thể, trong trường hợp này, bệnh viện sẽ không đưa ra quyết định về việc ra
viện của người bệnh cho đến khi được nghe về nguyện vọng này và khi người giám hộ
được chỉ định và người giám hộ sẽ được tham vấn để đưa ra quyết định. Người giám hộ sẽ
không đảm nhiệm vai trò của nhân viên Công tác xã hội hay nhân viên quản lý ca mà sẽ
làm việc cùng với họ. Nhân viên quản lý ca vẫn sẽ cần nhận diện và định vị được các lựa
chọn về nơi ở phù hợp theo mối quan tâm và các quyết định cuối cùng của người giám hộ.
Như vậy, việc thuyên chuyển người bệnh sẽ được xem xét toàn diện hơn chứ không chỉ do
phía bệnh viện quyết định.
Đối với khái niệm “ra quyết định chung/ shared decision making”, mặc dù có rất
nhiều khái niệm khác nhau được phát triển qua nhiều nghiên cứu và hội thảo, tựu chung,
“ra quyết định chung/ shared decision making” được hiểu là một triết lý và cũng là một
quá trình. Nó đòi hỏi sự cộng tác giữa bệnh nhân và nhà hành nghề, làm việc cùng nhau để
thu thập những test đánh giá, trị liệu và các gói hỗ trợ dựa trên xu hướng lựa chọn của
bệnh nhân, kinh nghiệm của nhà trị liệu và các bằng chứng nghiên cứu.
Để làm rõ hơn cho khái niệm “ra quyết định chung”, Tổ chức Sức khỏe (Anh
Quốc) thông qua tác phẩm “Evidence: Helping people share decisions” (2012) đã làm rõ
những biểu hiện và yêu cầu cụ thể đối với việc đưa ra quyết định chung trong lĩnh vực
chăm sóc sức khỏe tâm thần giữa cán bộ y tế và bệnh nhân. Đây là một sổ tay hướng dẫn
cơ bản về mọi yếu tố cần thiết của “ra quyết đinh chung/ shared decision making” dưới
dạng một bản tóm lược những rà soát dựa trên bằng chứng diện rộng. Tài liệu này được
khái quát từ 976 tài liệu khoa học khác nhau để đảm bảo tính hệ thống và khách quan của
dữ liệu.
Về ý nghĩa, hiệu quả của việc ra quyết định chung, rất nhiều nghiên cứu đã chứng
minh bệnh nhân được hưởng lợi rất nhiều về hiệu quả trị liệu và phục hồi khi tham gia quá
Khá tương đồng, Lee M (2012), thông qua kết quả nghiên cứu về phân tích các yếu
tố đạo đức trong quyền tự chủ của bệnh nhân tâm thần ở Đài Loan đặt trong mối tương
quan giữa mô hình ra quyết định của Jonsen và đạo Khổng. Nghiên cứu này đã chỉ ra bệnh
nhân tâm thần hoàn toàn có thể thể hiện sự tự chủ của họ khi mà các quyết định do cá nhân 18
họ đưa ra không ảnh hưởng tới các mục tiêu của quá trình điều trị. Bản chất của sự tự chủ
này là sự tôn trọng của những người xung quanh, gồm cả người nhà và cán bộ y tế với
những thiên hướng lựa chọn cũng như nhân quyền của người bệnh. Điều này có ảnh hưởng
lớn tới chất lượng cuộc sống của người bệnh. Do những quyết định này có thể ảnh hưởng
tới quyền lợi của gia đình người bệnh, gia đình, đặc biệt là gia đình Đài Loan – nơi chịu
ảnh hưởng sâu sắc của Khổng Giáo, có vai trò to lớn trong quá trình ra quyết định tới các
vấn đề của người bệnh. Nghiên cứu cũng đề cập tới công cụ đánh giá khả năng MacArthur
(MacCAT-T) thường được sử dụng đánh giá khả năng ra quyết định của bệnh nhân. Khi
một bệnh nhân được chẩn đoán không đủ khả năng ra quyết định, đại diện của bệnh nhân
cần phải ra quyết đinh y khoa dựa trên quyền lợi của bệnh nhân. Trên thế giới cũng đã tồn
tại những tư liệu chính thống ghi nhận giá trị đạo đức của quyền tự chủ của người bệnh
như Psychiatric Advance Directives (PADs) cho phép các cá nhân mắc bệnh tâm thần lưu
giữ lại những xu hướng lựa chọn của họ trong trị liệu trong tương lai đề phòng nếu tình
trạng của họ có xấu hơn trong tương lai. Tự chủ là giá trị cốt lõi để trao quyền cho bệnh
nhân để họ làm việc nhằm đạt đến sự phục hồi. Đặc biệt, Lee M còn khái quát bộ 7 tiêu chí
đánh giá một bệnh nhân không đủ khả năng đưa ra quyết định. Đây là một nội dung quan
trọng để đánh giá liệu khi nào một bệnh nhân thực sự sẵn sàng ra quyết định cho chính bản
thân họ.
Đặc biệt, trong các nghiên cứu về ra quyết định chung giữa bệnh nhân tâm thần và
cán bộ y tế, các khung lý thuyết hay mô hình ra quyết định rất được chú trọng. Puschner
(2010) đã khái quát các mô hình ra quyết định phổ biến trên thế giới trong nghiên cứu của
mình. Cụ thể, ông đưa ra phát triển một khung lý thuyết chung về quá trình ra quết định
dưới góc độ của bệnh nhân (Rothert, 1997). Khung này đã chỉ ra rằng việc ra quyết định
chọn
Quyết
định
Hành
vi
Đầu
Ra
Giá trị
(những lợi
ích)
Sức khỏe tâm thần, Ban quản trị dịch vụ sức khỏe tâm thần và lạm dụng chất thuộc Sở Sức
khỏe và Dịch vụ con người Mỹ (2010) đã trình bày những nội dung cơ bản về Gói hỗ trợ
ra quyết định. Là công cụ để giúp khách hàng hiểu và làm rõ các lựa chọn và ưu tiên lựa
chọn để phân tách quyết định trong ra quyết định chung ở nhiều dạng khác nhau: tờ rơi in
hoặc các công cụ tương tác điện tử. Một vài được thiết kế để khách hàng sử dụng dịch vụ
sức khỏe tâm thần sử dụng trong quá trình cán bộ chăm sóc tư vấn. Nó có tác dụng: nâng
cao hiểu biết về các lựa chọn trị liệu, hỗ trợ những kì vọng thực tế hơn về đầu ra của trị
liệu, tăng cường sự thoải mái của khách hàng với các lựa chọn, giảm bớt số lượng khách
hàng đưa ra những quyết định không chắc chắn, tăng sự tham gia của khách hàng vào việc
ra quyết định mà không làm tăng sự lo âu ở họ, làm tăng sự đồng thuận giữa các giá trị và
lựa chọn của khách hàng. Sự hài lòng của khách hàng với quá trình ra quyết định hay
quyết định cuối cùng vẫn chưa cho thấy nó bị ảnh hưởng bởi việc sử dụng gói hỗ trợ ra
quyết định.
Ngoài ra, còn rất nhiều nghiên cứu khác đã phản ánh những rào cản trong quá trình
ra quyết định của người bệnh, quan điểm, thái độ của những bên liên quan đến quá trình ra
quyết định chung, thực trạng ứng dụng và hiệu quả thực tế của ra quyết định chung giữa
cán bộ y tế lâm sàng và bệnh nhân trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tâm thần, qua
những phát hiện trong nghiên cứu của Magenta Simmons, Sarah Hetrick and Anthony
Jorm (2010), Claudia Goss, Francesca Moretti, Maria Angela Mazzi, Lidia Del Piccolo, 21
Michela Rimondini and Christa Zimmermann, (2008), Puschner (2010), De las Cuevas
(2012),
Tóm lại, qua các nghiên cứu trên thế giới, có thể thấy được rằng những nghiên cứu
và các văn bản chính thống được lưu hành và ứng dụng trong các cơ sở thuộc lĩnh vực
chăm sóc sức khỏe tâm thần khá phong phú. Cụ thể, đối với cả đề tài về cách tiếp cận tăng
cường năng lực và ra quyết định chung giữa bệnh nhân tâm thần và cán bộ lâm sàng khá
đồ sộ, đa dạng về cả lĩnh vực tập trung cũng như góc độ phân tích. Tuy nhiên, rất ít thấy
nghiên cứu triển khai cụ thể về đề tài trên trong mô hình phục hồi chức năng, đặc biệt là
ương I: “Nghiên cứu phương pháp định lượng SEROTONIN trong huyết tương bệnh nhân
trầm cảm” (2011, đề tài cấp cơ sở, chủ nhiệm đề tài TS. Kiều Công Thuỷ) và đề tài “Nhận
xét tác dụng lâm sàng của QUETIATIN (SEROQUEL) trên bệnh nhân tâm thần phân liệt”
(2012, đề tài cấp cơ sở, chủ nhiệm đề tài Th.S Phùng Thanh Hải). Những đề tài này tập
trung nghiên cứu ở góc độ hóa dược để đánh giá hiệu quả cũng như tìm ra phương thuốc
phù hợp với bệnh nhân mắc những dạng tâm thần cụ thể.
Thứ ba, nhóm đề tài nhận được nhiều sự quan tâm, nghiên cứu của các nhà chuyên
môn trong bệnh viện là nhóm những đề tài đánh giá hiệu quả mô hình. Nếu như đề tài của
Bệnh viện Tâm thần Trung ương I đánh giá khái quát mô hình về chỉ số sự hài lòng của
người nhà bệnh nhân về giao tiếp của điều dưỡng qua đề tài “Đánh giá sự hài lòng của
người nhà bệnh nhân đối với giao tiếp của điều dưỡng tại Bệnh viện Tâm thần Trung ương
I” (2011, đề tài cấp cơ sở, chủ nhiệm đề tài Điều dưỡng Đỗ Thị Thanh Thuỷ) thì những
nghiên cứu của Bệnh viện Tâm thần Ban ngày Mai Hương lại quan tâm tới đánh giá hiệu
quả tái hòa nhập gia đình và cộng đồng của người bệnh qua những biện pháp can thiệp, trị
liệu cụ thể ở những hình thức khác nhau trong mô hình phục hồi chức năng hiện có. Chẳng
hạn như các đề tài:
“Áp dụng nội dung tâm lý nhóm nhằm đánh giá hiệu quả tái hòa nhập giữa gia
đình và cộng đồng của người bệnh tâm thần phân liệt bằng liệu pháp phục hồi
chức năng tâm lý xã hội và lao động liệu pháp” (2002), 01C – 08/07 -2002, thuộc
chương trình 01C – 08, đề tài cấp cơ sở, chủ nhiệm đề tài: Bác sĩ chuyên khoa II
Đỗ Thúy Lan. 23
“Đánh giá hiệu quả tái hòa nhập gia đình và cộng đồng của người bệnh tâm
thần phân liệt bằng liệu pháp phục hồi chức năng tâm lý xã hội và lao động
liệu pháp” (2003), 01C – 08/07 – 2002 – 2, 01C – 08, đề tài cấp thành phố, chủ
nhiệm đề tài: bác sĩ chuyên khoa II Đỗ Thúy Lan.
“Áp dụng âm nhạc trị liệu nhằm đánh giá hiệu quả tái hòa nhập giữa gia đình
và cộng đồng của người bệnh tâm thần phân liệt bằng liệu pháp phục hồi chức
khoa, Đại học Thái Nguyên do Bác sỹ chuyên khoa II Bùi Đức Trình chủ biên (2008) cung
cấp một hệ thống hiểu biết nền tảng trong lĩnh vực tâm thần học dưới góc độ lâm sàng.
Tương tự, tài liệu “Hướng dẫn triển khai đề án trợ giúp xã hội và phục hồi chức năng cho
người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí dựa vào cộng đồng (giai đoạn 2011 – 2020)” của
Cục Bảo trợ xã hội, Bộ Lao động – Thương binh và xã hội (2011) là một trong những tài
liệu hiếm hoi tại Việt Nam đề cập tới mô hình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng cho
bệnh nhân tâm thần mà trong đó, các biện pháp hỗ trợ, can thiệp liên ngành, bao gồm cả
Công tác xã hội được đề cập tới. Việc thúc đẩy người bệnh ra quyết định cũng được nhắc
tới nhưng mới dừng ở mức độ rất sơ lược, chưa đi vào chi tiết và bản chất.
Ngoài ra, nếu tìm hiểu những nghiên cứu về tăng cường năng lực cho người bệnh
tâm thần hiện nay tại Việt Nam thì có thể thấy rằng các công trình nghiên cứu về công tác
xã hội ở Việt Nam hiện nay chưa đề cập nhiều đến tăng cường năng lực. Trong số những
tác phẩm tiêu biểu đề cập đến nguyên tắc thực hành này, hiện nay có tác phẩm “Công tác
xã hội lý thuyết và thực hành” của tác giả Trần Đình Tuấn (2009). Trong đó, “Tạo năng
lực cho khách hàng” chiếm một mục nhỏ trong toàn bộ giáo trình. Nó đề cập đến nguyên
tắc và hướng dẫn thực hành sơ lược nhất. Hoặc như bài viết “Hiểu và áp dụng đúng lý
thuyết phân tâm vào trong Công tác xã hội với người bệnh tâm thần” (Nguyễn Hồi Loan,
2013) cũng đã đề cập khái quát đến các kỹ thuật thực hành Công tác xã hội với người bệnh
tâm thần dựa trên cơ sở vận dụng lý thuyết phân tâm học của Freud cũng nhấn mạnh đến
sự tự chủ của người bệnh trong các quyết định cá nhân.
Nhìn chung, những nghiên cứu tại Việt Nam thực sự bàn luận tới cách tiếp cận thực
hành tăng cường năng lực cho người bệnh cũng như đánh giá việc thực hiện nguyên tắc và
quy trình ra quyết định ở người bệnh trong các hoạt động lâm sàng cũng như những vấn đề