Một số yếu tố tác động đến hiệu quả việc xây dựng mô hình Xã phường phù hợp với trẻ em (Qua khảo sát tại 2 xã An Lão và Hưng Công, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam - Pdf 25



TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
1
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
4
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
8
4. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu.
8
5. Giả thuyết nghiên cứu và sơ đồ tương quan giữa các biến số
9
6. Phương pháp nghiên cứu
11
7. Kết cấu luận văn
12
PHẦN NỘI DUNG
13
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
13
1. Từ quan điểm xây dựng “Một thế giới phù hợp với trẻ em” của
Liên Hiệp Quốc đến việc xây dựng mô hình “Xã, phường phù hợp
với trẻ em” ở Việt Nam.
13
1.1 Quan điểm của Liên Hiệp Quốc về xây dựng “Xã, phường phù
hợp với trẻ em”

50
3. Hiệu quả
52
Chương 3: Giải pháp
54
1.Giải pháp thực hiện môi trường xã hội phù hợp với trẻ em.
54
2.Giải pháp thực hiện môi trường gia đình đảm bảo để trẻ em phát
triển toàn diện.
60
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
64 PHẦN MỞ ĐẦU

đổi nhưng đầu tư cho con người, đặc biệt là thế hệ trẻ phải có chiến lược lớn và
không thể thay đổi.
Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã đầu tư rất nhiều cho trẻ em,
Ủy ban Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em (nay là Cục trẻ em thuộc Bộ Lao
động Thương Binh và Xã hội) đã được thành lập và làm nhiệm vụ quản lý Nhà
nước về công tác trẻ em. Đến nay, mặc dù đã thay đối tên gọi nhiều lần, nhưng
về bản chất là không thay đổi, vẫn luôn hướng đến mục tiêu cao nhất là đầu tư,
phát triển, chăm sóc cho trẻ em. Thời gian qua, những chính sách và nỗ lực của
Việt Nam trong chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em nói chung, trẻ em có hoàn
cảnh đặc biệt khó khăn nói riêng đã đạt được nhiều kết trong các vấn đề cụ thể
như: dinh dưỡng và sức khỏe, y tế và giáo dục, đạo đức, lối sống và nhân cách,
Bản thân Liên Hiệp Quốc cũng đã đánh giá rất cao những thành quả mà Việt
Nam đã đạt được.
Tuy nhiên, sự đầu tư, phát triển trẻ em mang tính chiến lược không chỉ
dừng lại ở những vấn đề chi tiết, cụ thể mà còn phải hướng đến một tầm cơ bản
hơn, đó là xây dựng môi trường xã hội để trẻ em lớn lên có đủ điều kiện phát
triển tốt nhất, như sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Vì lợi ích mười năm
thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người” Sự “trồng người”,
đòi hỏi những vấn đề rất cơ bản: đất đai - không gian văn hóa, môi trường xã hội
để trẻ phát triển. Điều đó có nghĩa là để phát triển trẻ em, chúng ta không thể chỉ
dừng lại ở việc chăm sóc, giáo dục mà phải xây dựng một môi trường xã hội, một
không gian văn hóa xung quanh để trẻ có cơ hội được sinh ra, lớn lên, trưởng
thành và được nuôi dưỡng trong cái nôi vững chắc, nhân ái đó.
Trong các thập kỷ gần đây, những đòi hỏi về khía cạnh xây dựng môi
trường sống phù hợp với trẻ em đã được Liên Hiệp Quốc đề cập và khẳng định rõ
trong Tuyên bố của Liên Hiệp Quốc về Quyền trẻ em (1959), Công ước Quốc tế
quyền Trẻ em (CRC - được Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua ngày 20
tháng 11 năm 1989). Trong các văn bản quan trọng này, Liên Hiệp Quốc đã đưa
ra hệ thống các tiêu chí mang tính căn bản, chiến lược rất cần thiết để xây dựng


và trẻ em) đã tiến hành triển khai thử nghiệm ở một số địa bàn trong cả nước.
Theo quy định, các tỉnh, thành phố nào đạt được các tiêu chí đề ra trong bộ tiêu
chuẩn sẽ được cấp Bằng công nhận xã phường phù hợp với trẻ em. Trên thực tế,

1
Ủy ban dân số gia đình và trẻ em, Quyết định số 03/2004/QĐ-DSGĐTE ngày 01/6/2004 v/v ban hành
Hướng dẫn tiêu chuẩn xã, phường phù hợp với trẻ em.
2
Vụ trẻ em, Dự thảo 2 (tháng 12/2008) Tiêu chuẩn xã, phường phù hợp với trẻ em, Điều 1. việc xây dựng mô hình “Xã, phường phù hợp với trẻ em” đã bước đầu thu được
những kết quả nhất định nhưng cũng cho thấy rất nhiều khó khăn hạn chế. Điều
đó đòi hỏi phải có sự nghiên cứu, phân tích, đánh giá để mô hình này có thể được
triển khai một cách hiệu quả trên bình diện rộng lớn hơn.
Nhiệm vụ của luận văn “Một số yếu tố tác động đến hiệu quả việc xây
dựng mô hình xã phường phù hợp với trẻ em” là tập trung nghiên cứu quá trình
xây dựng “Xã, phường phù hợp với trẻ em” tại hai xã An Lão, Hưng Công
(huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam), trên cơ sở đó, xem xét, đánh giá việc xây dựng
bộ tiêu chuẩn này những mặt tốt hay chưa tốt, có tích cực đối với sự nghiệp chăm
sóc, giáo dục trẻ em hay không, từ đó có những đóng góp nhằm chuẩn hóa,
hướng tới hoàn thiện bộ tiêu chuẩn để có thể áp dụng sâu rộng đến tất cả các
vùng/miền trong cả nước.

2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu.
Việc nghiên cứu về mục tiêu, chiến lược phát triển trẻ em ở tầm vĩ mô nói
chung và các chương trình, kế hoạch phát triển trẻ ở cấp độ vi mô nói riêng đã và
đang được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm dưới nhiều góc độ khác nhau.
Trẻ em là thế hệ tương lai của đất nước, là một bộ phận quan trọng trong
mục tiêu và chiến lược phát triển con người của Đảng và Nhà nước ta, vì vậy,

nước, vấn đề trẻ em hiện nay nhận được sự quan tâm của rất nhiều các cơ quan
hữu quan nhằm mục đích tạo điều kiện để các em có thể phát triển toàn diện,
được sống trong tình yêu thương và được hưởng mọi quyền trẻ em. Có thể nói
đầu tư cho công tác chăm lo giáo dục trẻ em là đầu tư cho tương lai, tạo cơ sở,
điều kiện cho các em học tập, vui chơi lành mạnh chính là một hướng đầu tư hiệu
quả cho sự phát triển nước nhà trong một tương lai xa, mang tính lâu dài và bền
vững.
Ngày 12/8/1991, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em đã được Quốc
hội Việt Nam thông qua và chính thức có hiệu lực thi hành. Có thể nói, Luật bảo
vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em chính là cơ sở pháp lý quan trọng nhất cho việc
triển khai và thực thi các phúc lợi cho trẻ em.
Nghiên cứu về trẻ em trong những năm qua cũng nhận được sự quan tâm,
vào cuộc của nhiều cơ quan, đơn vị. Có thể nói, có rất nhiều học giả, tổ chức trong và ngoài nước dày công cho mảng nghiên cứu này. Trong phạm vi có hạn,
luận văn chỉ xin điểm qua một số những công trình nghiên cứu tiêu biểu, cung
cấp cho chúng ta những nền tảng, những hiểu biết cần thiết khi tiếp cận nghiên
cứu các vấn đề có liên quan đến việc xây dựng mô hình “Xã, phường phù hợp
với trẻ em”.
Viết về gia đình và vấn đề xã hội hóa trẻ em, trong cuốn sách “Gia đình
Việt Nam trong bối cảnh đất nước đổi mới”, (Nxb Khoa học xã hội, 2002) tác
giả Lê Thi đã phân tích và khẳng định rằng: “Gia đình là thiết chế giáo dục cơ sở,
trung tâm đào tạo đầu tiên giúp đứa trẻ tập sự đi vào cuộc sống. Gia đình chuẩn
bị cho trẻ có thể phát triển đầy đủ tiềm lực của nó và đóng vai trò hữu ích trong
xã hội khi đến tuổi trưởng thành” (sđd, tr.3). Tác giả cũng phân tích những biến
động của gia đình ngày nay cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ. Việc xã
hội hóa trẻ em không chỉ dừng lại ở việc truyền đạt những giá trị văn hóa truyền
thống, bên cạnh đó, trẻ cũng cần phải học cách thích nghi với những chuẩn mức
và giá trị văn hóa đang biến động từng ngày. Do vậy, tác giả khẳng định quá

Đề tài “Phân tích nhu cầu và khả năng tiếp cận các dịch vụ bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục của nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn tại một
số địa phương ở Việt Nam” (nằm trong khuôn khổ hợp tác giữa Ủy ban Dân số
Gia đình và Trẻ em và Tổ chức Plan tại Việt Nam) do TS. Nguyễn Đức Mạnh
làm chủ nhiệm cũng quan tâm, nghiên cứu về thực trạng trong tiếp cận các lĩnh
vực giáo dục, chăm sóc sức khỏe, văn hóa và tinh thần của trẻ em có hoàn cảnh
đặc biệt khó khăn. Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng thực trạng chưa được
công bằng đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trong việc tiếp cận các lĩnh vực
trên.
Cũng trong khuôn khổ hợp tác như trên, tháng 3 năm 2007, đề tài “Khảo
sát thực trạng và nhận thức của trẻ em, cộng đồng về tai nạn thương tích trẻ
em” đã được thực hiện. Ông Nguyễn Đức Mạnh và nhóm tác giả đã mô tả thực
trạng và các nguyên nhân dẫn đến tai nạn thương tích trẻ em tại vùng dự án. Kết
quả nghiên cứu cho thấy trẻ em bị các loại tai nạn thương tích từ nhẹ đến nặng
chiếm tỷ lệ rất cao, tới 87,2%. Trong đó, một số loại hình tai nạn thương tích phổ
biến (chiếm tỷ lệ từ 32 – 70%) như: bị vấp ngã; bị chảy máu do vật sắc nhọn đâm
phải; bị động vật cào cắn, đốt; bị bỏng; bị hóc sặc ở miệng Một số loại tai nạn thương tích khác có tỷ lệ không cao (từ 10 – 30%) nhưng rất nguy hiểm đến tính
mạng trẻ em như: bị chết đuối hụt, bị điện giật, bị ngã từ trên cao, bị bom mìn nổ,
tai nạn giao thông Báo cáo cũng chỉ ra một số nguyên nhân, khuyến nghị đối
với trẻ em, gia đình, cộng đồng, nhà trường và các ngành đoàn thể địa phương
trọng việc nâng cao nhận thức, hạn chế các tai nạn thương tích cho trẻ, tạo điều
kiện cho trẻ có được môi trường sống an toàn.
Ngoài ra, còn có nhiều công trình khác cũng đề cập đến trẻ em như: Ngô
Huy Đức (2003), “Ngân sách cho giáo dục hòa nhập của trẻ khuyết tật”, Nxb
Đại học Sư phạm; Viện Khoa học Dân số, Gia đình và Trẻ em và Tổ chức cứu
trợ trẻ em Thụy Điển (2004), “Báo cáo kết quả khảo sát thực trạng trừng phạt
thân thể và tinh thần trẻ em tại Việt Nam”; Reina Michaelson (2004), “Báo


4. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu.
Nghiên cứu một số yếu tố tác động đến hiệu quả việc xây dựng mô hình
“Xã, phường phù hợp với trẻ em”.
4.2 Khách thể nghiên cứu
- Trẻ em được sống, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục tại môi trường xã
hội, gia đình tại hai xã An Lão, Hưng Công, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam.
- Cán bộ lãnh đạo, chính quyền, đoàn thể, cán bộ dân số gia đình và trẻ em
trong địa bàn khảo sát.
- Các thầy, cô giáo tại các trường Mầm non, Tiểu hoc và Trung học cơ sở
của hai xã.
- Các thành viên trong gia đình.
4.3 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi địa lí: Do thời gian và kinh phí hạn chế, tác giả chỉ tiến hành
nghiên cứu tại hai xã An Lão và Hưng Công thuộc huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam
(một xã có báo cáo đã thực hiện được 24/28 chỉ tiêu, một xã thực hiện dưới 24
chỉ tiêu
1
).
Phạm vi về nội dung:

1
Ủy ban dân số gia đình và trẻ em, quyết định số 03/2004 QĐ-DSGĐTE ngày 1/6/2004, Hướng dẫn tiêu
chuẩn XPPHTE. Luận văn tập trung phân tích những nội dung của bản tiêu chuẩn “Xã,
phường phù hợp với trẻ em” được vận dụng vào quá trình áp dụng trong thực tế
của công tác chăm sóc, giáo dục trẻ em của hai xã An Lão, Hưng Công. (Nội

phát triển toàn diện, (3) Mọi trẻ em đều được hưởng các quyền cơ bản, (4) Bảo vệ chăm sóc trẻ em có
hoàn cảnh đặc biệt. 5.2. Khung lý thuyết. 6. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận

Vận dụng một số lý thuyết về tư tưởng của một số nhà xã hội học trong
nghiên cứu về gia đình và trẻ em.
Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện tốt mục đích, yêu cầu đặt ra, Luận văn dụng phương pháp
phân tích các số liệu thống kê cơ bản kết hợp với cách tiếp cận cụ thể, đa chiều,
đa đối tượng.
Cách tiếp cận cụ thể là tiếp cận từng đối tượng khảo sát trên nguyên tắc
của phương pháp nghiên cứu tham dự thông qua phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm
và tọa đàm. Phương pháp này có khả năng cung cấp những thông tin chính xác,
cụ thể và trực tiếp, không phải qua một khâu trung gian nào. Trong đó, số lượng
phỏng vấn sâu là 28 và 12 cuộc thảo luận nhóm, tọa đàm.
Cách tiếp cận đa phương, đa chiều là cách tiếp cận bằng nhiều phương
pháp. Trong đó, phương pháp phân tích xã hội học là chủ đạo. Ngoài ra, Luận
văn cũng coi trọng phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp tài liệu từ các
nguồn sẵn có như: báo cáo của địa phương, cơ sở, các dự án, công trình, đề tài
nghiên cứu khoa học có liên quan.
Tiếp cận đa đối tượng là cách tiếp cận có khả năng đưa đến một kết quả
toàn diện, sâu sắc và khách quan về các vấn đề khảo sát. Đa đối tượng ở đây là từ
trẻ em, bố mẹ, ông bà, anh chị trong gia đình, những người có uy tín trong cộng
đồng và cán bộ Đảng, chính quyền, các tổ chức đoàn thể, xã hội, cán bộ chuyên
trách và cộng tác viên dân số, gia đình và trẻ em.
Phương pháp thực chứng
Đây là phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp các nguồn tin, tư liệu,
số liệu thứ cấp. Nó bao gồm các báo cáo có liên quan của Nhà nước, các Bộ,
Ngành ở trung ương; báo cáo của địa phương, cơ sở; báo cáo của các dự án, các
công trình, đề tài nghiên cứu khoa học. Ở đây có thể dùng phương pháp thống kê,
phân tích, so sánh giữa 2 xã nằm trong địa bàn khảo sát của luận văn.
Phương pháp phân tích, so sánh
Do nhiều điều kiện khác nhau nên địa bàn khảo sát chỉ là 2 xã An Lão,
Hưng Công của huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Nhưng để tìm ra những yếu tố tác PHẦN NỘI DUNG

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1. Từ quan điểm xây dựng “Một thế giới phù hợp với trẻ em” của
Liên hiệp quốc đến việc xây dựng mô hình “Xã, phường phù hợp với trẻ
em” ở Việt Nam.
1.1 Quan điểm của Liên hiệp quốc về xây dựng “Một thế giới phù hợp
với trẻ em”
Công ước Liên hiệp quốc về quyền trẻ em là văn bản pháp luật quốc tế
đầy đủ nhất về trẻ em được đại đa số các quốc gia phê chuẩn, ký và thừa nhận.
Việt Nam là quốc gia đầu tiên ở Châu Á và thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công
ước này.
Vào những năm cuối của thế kỷ hai mươi, phong trào xây dựng một thế
giới phù hợp với trẻ em đã được phát động ở nhiều nơi trên thế giới và ngày càng
được thúc đẩy trong bối cảnh toàn cầu hóa để đảm bảo cho mỗi quốc gia, mỗi
cộng đồng và gia đình sự phát triển bền vững, xóa đói giảm nghèo và ngăn chặn
sự bất bình đẳng.
Bản tuyên bố “Một thế giới phù hợp với trẻ em” đã được phiên họp đặc
biệt của Liên hiệp quốc thông qua với sự đồng thuận và cam kết thực hiện của tất
cả các quốc gia tham dự, trong đó có Việt Nam. Tên gọi của Tuyên bố cũng đồng
thời là phương châm hành động trong thế kỷ mới. “Các chính quyền và nhà chức
trách địa phương thông qua bộ máy của mình tại tất cả các cấp có thể đảm bảo
rằng trẻ em là trung tâm của sự phát triển. Bằng việc xây dựng những sáng kiến
hiện nay như các cộng đồng bạn hữu với trẻ em, các thành phố không có nhà ổ
chuột, các thị trưởng và lãnh đạo địa phương có thể cải thiện một cách có ý nghia

hành động ngay tức khắc để loại trừ các hình thức lao động tồi tệ nhất ở trẻ em.
7) Bảo vệ trẻ em khỏi các cuộc chiến tranh. Trẻ em phải được bảo vệ để
tránh khỏi những sự khủng khiếp của các cuộc xung đột vũ trang.
8) Chiến đấu chống lại HIV/AIDS. Trẻ em và các gia đình phải được bảo
vệ để tránh sự lây nhiễm căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS.
9) Lắng nghe ý kiến trẻ em và đảm bảo sự tham gia của các em. Trẻ em
và vị thành niên là những công dân đầy tiềm năng có khả năng xây dựng một
tương lai tốt đẹp cho tất cả mọi người. Chúng ta phải tôn trọng các quyền của

1
Vụ trẻ em (2004), Tài liệu hướng dẫn xây dựng Xã phường phù hợp với trẻ em, tr.4 trẻ em được tự bày tỏ và tham gia vào các quyết định có ảnh hưởng đến chính
các em theo lứa tuổi và sự khôn lớn.
10) Bảo vệ trái đất cho trẻ em. Môi trường tự nhiên với sự đa dạng của
cuộc sống, các nguồn lực và vẻ đẹp sẽ đẩy mạnh chất lượng cuộc sống con người
cho các thế hệ hiện tại và tương lai. Chúng ta sẽ tọ mọi điều kiện để bảo vệ trẻ
em và giảm thiểu ảnh hưởng của thiên tai và sự xuống cấp của môi trường tới
các em.
Những nguyên tắc mà Liên hiệp quốc đưa ra cho chúng ta thấy “Một thế
giới phù hợp với trẻ em”, một cộng đồng bạn hữu với trẻ em hay xã phường phù
hợp với trẻ em đều có nghĩa là phải xây dựng một môi trường sống phù hợp với
tất cả mọi người trong cả hiện tại và tương lai.
Công ước quốc tế về quyền trẻ em cũng nêu rất rõ về trách nhiệm của
cộng đồng, cơ sở trong việc thực hiện quyền trẻ em và hỗ trợ gia đình, cha mẹ
chăm sóc, giáo dục, bảo vệ trẻ em.
Điều 18 của Công ước quy định: Các quốc gia thành viên phải dành sự
giúp đỡ thích hợp cho cha mẹ và người giám hộ pháp lý trong việc thực hiện
trách nhiệm nuôi nấng trẻ em và phải đảm bảo sự phát triển những cơ quan, cơ sở

điểm riêng của các vùng miền khác nhau ở Việt Nam. Điều này một lần nữa
khẳng định nỗ lực của Việt Nam trong việc thực hiện các cam kết với Liên hiệp
quốc, đồng thời cũng thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước trong
công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.
Tuy nhiên, từ mô hình lý thuyết đến việc vận dụng nó là cả một quãng
đường dài, cần phải có sự nghiên cứu, đánh giá, thẩm định và sửa đổi để mô hình
ngày một hoàn thiện và sát hợp với thực tế hơn.

2. Một số khái niệm liên quan đến đề tài
2.1 Trẻ em
Quan điểm và cách hiểu về trẻ em ở các quốc gia trên thế giới và ở Việt
Nam hiện nay còn nhiều điểm chưa được thống nhất, trong đó sự khác biệt tập
trung chủ yếu ở việc quy định độ tuổi trẻ em.
Tại điều 1, Công ước của Liên hiệp quốc về quyền trẻ em năm 1989 quy
định rằng: Trong phạm vi của Công ước này, trẻ em có nghĩa là mọi người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em có quy định tuổi thành niên
sớm hơn.
Một số điều trong Luật lao động của Việt Nam quy định về độ tuổi người
lao động như sau:
Điều 6: Người lao động là người ít nhất đủ 15 tuổi, có khả năng lao động
và có giao kết hợp đồng lao động.
Điều 119: (1) Người lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18
tuổi. Nơi có sử dụng người lao động chưa thành niên phải lập sổ theo dõi riêng,
ghi đầy đủ họ tên, ngày sinh, công việc đang làm, kết quả những lần kiểm tra sức
khoẻ định kỳ và xuất trình khi thanh tra viên lao động yêu cầu. (2) Nghiêm cấm
lạm dụng sức lao động của người chưa thành niên.
Điều 120: Cấm nhận trẻ em chưa đủ 15 tuổi vào làm việc, trừ một số nghề
và công việc do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định. Đối với ngành

thuộc vào từng giai đoạn lịch sử xã hội cụ thể, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, xã
hội, dân tộc hay địa bàn cư trú. Ngoài ra, mỗi người cũng lại có thể thuộc về các
loại nhóm khác nhau: nhóm nghề nghiệp, nhóm xã hội nhân văn và số lượng
hầu như không có giới hạn. Hơn nữa, họ có thể xác định mình như là một thành
viên của một tầng lớp xã hội và một đơn vị trong cấu trúc xã hội. Cuối cùng, mỗi
người chính là công dân của mỗi thành phố, mỗi quốc gia, khu vực và dân tộc.
Trên cơ sở đó, Simmel đã đi đến kết luận như sau: Đây chính là sự phong phú, đa
dạng của các nhóm cấu trúc xã hội. Trong đó, sẽ có những nhóm được hợp nhất,
những nhóm bị phân giải tùy theo sự vận động, biến đổi của xã hội, nhận thức và
hành vi của cá nhân. Tuy nhiên, chính sự vận động và biến đổi của các nhóm
cũng tạo điều kiện để một nhóm khác xuất hiện. Đây chính là trọng tâm cơ bản
của liên kết cá nhân, nó giúp mỗi người có thể tham gia, lựa chọn nhóm này hay
nhóm khác.
Vận dụng lý thuyết nhóm vào nghiên cứu này, trẻ em ở đây với tư cách là
một nhóm trong xã hội, nhóm này chịu tác động của nhóm khác và môi trường
xung quanh. Sự tồn tại của nhóm này chịu ảnh hưởng, tác động của môi trường
xung quanh. Khi trẻ được sống trong môi trường có nhiều nhóm tốt, hoạt động
tích cực như: gia đình, nhà trường, cộng đồng thì trẻ em cũng có điều kiện để
học tập, phát triển tốt và ngược lại. Khi các nhóm xung quanh có những biểu hiện tiêu cực, hoặc ít có sự đầu tư, quan tâm đến nhóm trẻ em, thì cơ hội, điều
kiện để trẻ phát triển cũng bị hạn chế.

3.2 Lý thuyết về xã hội hóa
Xã hội hoá là một quá trình tất yếu đối với sự trưởng thành của con người,
phát triển cùng với con người trong suốt cuộc đời. Con người không tồn tại như
những sinh vật đơn lẻ mà là con người xã hội. Sống cùng với đồng loại trong môi
trường xã hội là bản chất của con người, quyết định sự sống còn của họ. Không
có sự gắn kết với những người khác, chia sẻ bằng cách này hay cách khác sự

mẹ, ông bà, anh em, chúng cũng cần phải tập làm quen với những quy chuẩn ứng
xử đầu tiên, từ cách xưng hô nhằm khẳng định vị thế và vai trò của mình đến việc
thực thi các lợi ích và chức phận gắn liền với vị thế và vai trò ấy. Trẻ hư hay trẻ
ngoan là tuỳ thuộc vào việc chúng nhận thức như thế nào về vấn đề này.
Ngày nay, các nhà xã hội học, tâm lý học và giáo dục học đang cố gắng
đưa ra những mô hình phát triển xã hội hoá ở trẻ em, lấy đó làm những chuẩn
mực để định hướng cho việc chăm sóc, giáo dục trẻ em. Các mô hình xã hội hoá
này đã được nhiều nhà khoa học cụ thể hoá thành những mục tiêu và nhiệm vụ cụ
thể, có thể được áp dụng đối với từng lứa tuổi và từng nhóm trẻ khác nhau. Họ
cũng cố gắng xác định rõ những nội dung và phạm vi ứng dụng khác nhau của
những mô hình trên trong thực tiễn. Chẳng hạn, về mặt sinh học thì cần phải làm
gì, cần phải có các chế độ dinh dưỡng và cải thiện điều kiện sống ra sao để nâng
cao các chỉ số về thể lực và trí lực ở trẻ. Về mặt tri thức thì cần phải xã hội hoá
đến đâu, nâng cao nhận thức cho các em tới mức độ nào, việc nuôi dưỡng và phát
triển các tài năng bẩm sinh ra sao.
Trong bối cảnh này, rất nhiều nhà khoa học đã nhấn mạnh tới tầm quan
trọng phải nuôi dạy ở các em các phương thức ứng xử và xử lý đúng đắn những
mối quan hệ trong gia đình và cộng đồng, nhận thức rõ về quyền và bổn phận của
mình trong xã hội. Điều này là hoàn toàn đúng đắn và cũng phù hợp với những
điều mà cha ông chúng ta trước đây đã nói, trẻ em đi học, trước hết là để “ học
làm người”. Học làm người chính là khía cạnh quan trọng nhất trong giai đoạn xã
hội hoá ở trẻ em.

Trích đoạn Lê Ngọc Hùng, Lịch sử và lý thuyết xã hội học, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 008, tr 334. Một số đề xuất và khuyến nghị (Người trực tiếp phụ trách công tác dân số, gia đình và trẻ em tại địa phương) THẢO LUẬN NHÓM NGƯỜI DÂN
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status