Hoạt động quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn Hà Nội - Pdf 25

Đại học quốc gia Hà nội
Trường đại học khoa học xã hội và nhân văn Đỗ Thị Nhài Hoạt động quản lý nhà nước
đối với các doanh nghiệp du lịch
trên địa bàn Hà nội

Chuyên ngành: Du lịch học
Mã số:

Luận văn thạc sĩ du lịch học
(Chương trình đào tạo thí điểm) Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Quang Lân
Hà Nội - 2008
Mục lục
Trang

đối với doanh nghiệp du lịch trên địa bàn Hà Nội trong
tình hình hội nhập 60
2.2.1. Bản chất của hội nhập quốc tế về du lịch 60
2.2.2. Thuận lợi và khó khăn đối với ngành du lịch Việt Nam
và Hà Nội trong quá trình hội nhập 61
2.2.3. Thuận lợi và khó khăn của hoạt động quản lý nhà nước
đối với doanh nghiệp du lịch trên địa bàn Hà Nội trong
quá trình hội nhập 65
2.2.4. Thuận lợi, thời cơ, thách thức đối với các doanh nghiệp du lịch
Hà Nội trong tình hình hội nhập hiện nay 67 Chương 3: một số giảI pháp nhằm nâng cao hiệu quả
quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp
du lịch trên địa bàn hà nội 79
3.1. Yêu cầu về quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp du lịch trên địa bàn
Hà Nội trong tình hình hội nhập 79
3.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với
doanh nghiệp du lịch trên địa bàn Hà Nội hiện nay 80
3.2.1. Đối với chính sách vĩ mô: Chính phủ, thành phố 80
3.2.2. Đối với các doanh nghiệp du lịch 87
3.3. Một số kiến nghị trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nhà
nước đối với các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn Hà Nội 87
3.3.1. Đối với Chính phủ và Nhà nước 87
3.3.2. Đối với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 88
3.3.3. Đối với các ban ngành của Hà Nội 89
Kết luận chung 91
Tài liệu tham khảo 93
phụ lục


Trong những năm qua, nhận thức được tầm quan trọng của du lịch đối với sự
phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ
trương, chính sách để phát triển ngành du lịch trở thành ngành “kinh tế mũi nhọn”.
Tại điều 1, Pháp lệnh Du lịch Việt Nam năm 1999 đã nêu rõ quan điểm của nhà
nước ta về du lịch:
“Nhà nước Việt Nam xác định Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp quan
trọng mang nội dung văn hóa sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa
cao; phát triển du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng của
nhân dân và khách du lịch quốc tế, góp phần nâng cao dân trí, tạo việc làm và
phát triển kinh tế – xã hội của đất nước”.
Nghị quyết 45/CP, ngày 22/6/1993 của chính phủ Việt Nam về đổi mới quản
lý và phát triển ngành du lịch cũng đưa ra nhận định:
“Du lịch là ngành kinh tế mang tính tổng hợp, có tác dụng góp phần tích cực
thực hiện chính sách mở cửa, thúc đẩy sự nghiệp đổi mới và phát triển của nhiều
ngành kinh tế khác, tạo công ăn việc làm, mở rộng giao lưu văn hoá và xã hội giữa
các vùng trong nước, giữa nước ta với nước ngoài, tạo điều kiện tăng cường tình
hữu nghị, hoà bình và sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc”.
Điều 6, Luật Du lịch năm 2005 khẳng định:
“Nhà nước có cơ chế, chính sách huy động mọi nguồn lực, tăng đầu tư phát
triển du lịch để đảm bảo du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước”.
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rõ:
“Tận dụng tốt thời cơ hội nhập kinh tế quốc tế để tạo bước phát triển vượt
bậc của khu vực dịch vụ. ưu tiên phát triển các ngành dịch vụ có tiềm năng lớn và
sức cạnh tranh cao. Tiếp tục mở rộng và nâng cao chất lượng các ngành dịch vụ
truyền thống như vận tải, thương mại, du lịch, ngân hàng, bưu chính - viễn
thông…”.
Như vậy, công tác quản lý, phát triển ngành du lịch rất được Đảng và Nhà
nước ta quan tâm.
Các doanh nghiệp du lịch là chủ thể chính tham gia vào các hoạt động kinh
doanh du lịch, có những đóng góp quan trọng trong phát triển ngành du lịch và

pháp phát triển lữ hành ở Hà Nội, thực trạng hoạt động kinh doanh và một số giải
pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp du lịch, khách sạn tại Hà
Nội… ở các đề tài nghiên cứu đó, hoạt động quản lý nhà nước về du lịch, quản lý
nhà nước đối với các doanh nghiệp du lịch cũng được đề cập như một trong những
nguyên nhân, hoặc là một biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động du lịch. Các
công trình nghiên cứu cụ thể về hoạt động quản lý nhà nước đối với ngành du lịch
và các doanh nghiệp du lịch còn rất thiếu. Vì vậy, việc nghiên cứu hoạt động quản
lý nhà nước đối với các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn Hà Nội là một việc làm
hết sức cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, tạo điều kiện cho hoạt
động kinh doanh du lịch Hà Nội phát triển. Vì vậy, tôi đã chọn nghiên cứu đề tài
“Hoạt động quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn Hà
Nội”.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích: Mục đớch nghiờn cứu của luận văn là qua việc phõn tớch, đỏnh
giỏ hoạt động quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn Hà
Nội trong giai đoạn hiện nay đưa ra những vấn đề chớnh của quản lý nhà nước ảnh
hưởng đến các hoạt động kinh doanh du lịch; đề ra một số giải phỏp giải quyết vấn
đề nõng cao chất lượng quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp du lịch trên địa
bàn Hà Nội.
Nhiệm vụ: Nhiệm vụ nghiờn cứu của đề tài bao gồm:
1) Xõy dựng những luận cứ khoa học cho vấn đề nghiờn cứu và hệ thống hoỏ
một số lý luận cơ bản về quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp du lịch
trên địa bàn Hà Nội trong giai đoạn hiện nay.
2) Phõn tớch và đỏnh giỏ thực trạng hoạt động quản lý nhà nước đối với các
doanh nghiệp du lịch trên địa bàn Hà Nội và đưa ra những nguyờn nhõn
chớnh ảnh hưởng đến thực trạng.
3) Đề xuất một số giải phỏp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nhà
nước đối với các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn Hà Nội.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: các hoạt động liên quan đến quản lý nhà nước đối

Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp du lịch trong tình hình
hội nhập hiện nay
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối
với doanh nghiệp du lịch trên địa bàn Hà Nội Chương 1: Cơ sở lý luận
1.1. Quản lý nhà nước về du lịch
1.1.1. Khái niệm quản lý nhà nước về du lịch
Bất kỳ lao động xã hội nào được tiến hành trên quy mô tương đối lớn hoặc
một hoạt động tập thể nào đó đều cần có sự quản lý ở mức độ nhiều hay ít. Quản lý
nhằm phối hợp các hoạt động cá nhân và thực hiện các chức năng chung trong quá
trình lao động, sản xuất nhằm đạt được mục tiêu đề ra.
Như vậy, quản lý là sự tác động có định hướng bất kỳ lên một hệ thống nào
đó nhằm trật tự hóa nó và hướng nó phát triển phù hợp với những quy luật nhất
định. Quản lý là chức năng đặc biệt nảy sinh từ bản chất xã hội của quá trình lao
động. ở đâu có sự hợp tác của nhiều người, ở đó cần có sự quản lý. Mục đích của
quản lý là tổ chức, phối hợp các hoạt động và đem lại hiệu quả cao nhất cho các
hoạt động đó.
Quản lý nhà nước là hoạt động chấp hành và điều hành của nhà nước, được
thực hiện chủ yếu bởi các cơ quan hành chính nhà nước, có nội dung là bảo đảm sự
chấp hành luật, pháp lệnh và các nghị quyết của cơ quan quyền lực nhà nước,
nhằm tổ chức và chỉ đạo thực hiện một cách trực tiếp và thường xuyên công cuộc
xây dựng kinh tế, văn hóa, xã hội và hành chính, chính trị của đất nước.
Nhà nước thực hiện việc quản lý xã hội nói chung. Nhà nước là nhân tố cơ
bản giúp cho xã hội tồn tại, hoạt động, phát triển hoặc suy thoái thông qua các sứ

đảm sự chấp hành luật, pháp lệnh và các nghị quyết của cơ quan quyền lực nhà
nước về du lịch.
Thực chất của quản lý nhà nước về du lịch là việc tổ chức và sử dụng có
hiệu quả nhất các nguồn lực vì mục tiêu xây dựng và phát triển ngành du lịch một
cách bền vững.
Như vậy, quản lý nhà nước về du lịch là sự tác động có tổ chức và bằng
pháp quyền của nhà nước đối với các quá trình, các hành vi hoạt động của các tổ
chức và cá nhân tham gia vào hoạt động du lịch nhằm sử dụng có hiệu quả nhất
các nguồn lực kinh tế trong và ngoài nước, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt
động du lịch và đưa du lịch phát triển theo mục tiêu phát triển ngành mà nhà
nước đặt ra.
1.1.2. Các công cụ quản lý nhà nước về du lịch
Công cụ quản lý là những phương tiện mà nhà nước sử dụng để tác động lên
mọi chủ thể kinh tế nhằm thực hiện mục tiêu quản lý nhà nước. Các công cụ quản
lý nhà nước về du lịch là những phương tiện mà nhà nước sử dụng để tác động lên
mọi chủ thể tham gia vào hoạt động du lịch nhằm thực hiện mục tiêu quản lý nhà
nước về du lịch.
Các công cụ quản lý chính của nhà nước về du lịch là:
- Pháp luật về du lịch: là hệ thống các quy tắc ứng xử có tính chất bắt buộc
do nhà nước đặt ra, thực thi và bảo vệ nhằm đạt các mục tiêu bảo toàn và phát triển
du lịch đã đặt ra.
Hệ thống pháp luật về du lịch hiện hành tại Việt Nam bao gồm Luật Du lịch
(2005), các Nghị định của Chính phủ về quản lý nhà nước về du lịch như Nghị
định số 92/2007/NĐ-CP ngày 01/06/2007 của Chính phủ Quy định chi tiết một số
điều của Luật Du lịch, Nghị định 149/2007/NĐ-CP ngày 09/10/2007 của Chính
phủ Về xử phạt hành chính trong lĩnh vực du lịch, Nghị định 39/2000/NĐ-CP ngày
24/8/2000 của Chính phủ về cơ sở lưu trú du lịch, Nghị định 27/2001/NĐ-CP ngày
05/6/2001 của Chính phủ về kinh doanh lữ hành, hướng dẫn du lịch, và các văn
bản pháp luật có liên quan.
- Lãi suất, thuế: nhằm can thiệp vào các hoạt động và quá trình kinh tế, các

kinh tế quốc dân bao gồm:
- Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và
chính sách phát triển du lịch:
Về vấn đề chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch: do tính tự phát
điều tiết của thị trường có những ảnh hưởng tiêu cực, gây ra khủng hoảng chu kỳ
cho lợi ích kinh tế và làm tổn hại đến lợi ích của doanh nghiệp. Do đó, nhà nước
phải xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch nhằm định hướng phát triển du lịch
đúng hướng. Nhà nước lập quy hoạch phát triển du lịch cho từng vùng, từng địa
phương và cho cả nước nhằm đảm bảo việc quản lý và đầu tư du lịch không bị
chồng chéo, lãng phí và bảo đảm sự phối hợp giữa các ban ngành một cách đồng
bộ.
Về vấn đề chính sách phát triển du lịch: Chính sách và các công cụ kinh tế
của nhà nước là một hành lang hướng dẫn các hoạt động du lịch.
Việc xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và
chính sách về du lịch nhằm hướng dẫn và điều chỉnh các hoạt động du lịch, thực
hiện việc phát triển du lịch bền vững, đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi
nhọn, kích thích đầu tư và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, góp phần xoá đói giảm
nghèo ở những vùng có tiềm năng phát triển du lịch.
Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hoá
cao, vì vậy quản lý nhà nước trong lĩnh vực du lịch có liên quan đến nhiều ngành,
nhiều cấp, nhiều lĩnh vực khác nhau như văn hoá, giao thông, tài nguyên môi
trường, quốc phòng, an ninh, nông nghiệp, thương mại….Việc xây dựng và tổ
chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách về du lịch phải phù
hợp với thực tế phát triển du lịch, phù hợp với thông lệ quốc tế và tiến trình hội
nhập của Việt Nam trong khu vực và quốc tế về kinh tế- xã hội nói chung và du
lịch nói riêng. Các quy định pháp luật cần thể hiện những đặc thù của hoạt động
dịch vụ, đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội, khắc phục các vi phạm trong kinh
doanh, bảo vệ tài nguyên và môi trường du lịch, bảo vệ quyền và lợi ích của khách
du lịch, các tổ chức kinh doanh du lịch.
Quy hoạch phát triển du lịch được xác định là quy hoạch ngành, bao gồm

những thành quả du lịch bước đầu. Nhưng so với các nước có hoạt động du lịch
phát triển ở trình độ cao thì ta còn thiếu nhiều văn bản pháp quy về du lịch như
Luật Lữ hành, Luật Vận chuyển khách du lịch, Luật Khách sạn, Nhà hàng…
Các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch xác định các tiêu chuẩn, định mức
kinh tế- kỹ thuật cụ thể nhằm đánh giá, xếp hạng, quản lý các hoạt động du lịch ví
dụ Tổng cục Du lịch Việt Nam các quy định tiêu chuẩn và biểu điểm xếp hạng
khách sạn theo thứ tự từ 1 đến 5 sao…
- Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và thông tin về du lịch:
Đây cũng là một nội dung của quản lý nhà nước về du lịch nhằm nâng cao
hiểu biết về pháp luật của các tổ chức, cá nhân tham gia vào hoạt động du lịch và
nhận thức của người dân đối với hoạt động du lịch.
- Tổ chức, quản lý hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực;
nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ phục vụ sự phát triển du lịch:
Các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch tổ chức, quản lý hoạt động đào
tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực du lịch nhằm nâng cao chất lượng lao động trong
ngành.
Du lịch là một ngành kinh tế, do đó nó chịu tác động mạnh mẽ của của cuộc
cách mạng khoa học và công nghệ như những ngành kinh tế khác. Việc nghiên
cứu, ứng dụng, chuyển giao khoa học và công nghệ phục vụ sự phát triển du lịch
thường được giao cho các cơ quan chuyên môn, các viện nghiên cứu đảm nhiệm
dưới sự quản lý của nhà nước.
- Tổ chức điều tra, đánh giá tài nguyên du lịch để xây dựng, quy hoạch
phát triển du lịch, xác định khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du
lịch:
Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên, tài nguyên du lịch
nhân văn đang được khai thác và chưa được khai thác cho phát triển du lịch. Mỗi
tài nguyên du lịch thuộc sự quản lý của các cấp, các ngành khác nhau nên nhà
nước có những luật riêng điều chỉnh đối với mỗi loại tài nguyên du lịch đó như
Luật di sản văn hóa, Luật bảo vệ và phát triển rừng, Luật thủy sản, Luật khoáng
sản…

- Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp
luật về du lịch:
Các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch tổ chức hướng dẫn và kiểm tra việc
thực hiện các văn bản luật, các quy chế, các chế độ, tiêu chuẩn định mức kinh tế-
kỹ thuật, quy trình, quy phạm trong hoạt động du lịch để kịp thời phát hiện và xử
lý các vi phạm. Có thể nói đây là một nội dung rất quan trọng trong hoạt động quản
lý nhà nước về du lịch. Nếu không có các hoạt động thanh tra, kiểm tra thì không
gọi là quản lý. Về vấn đề này, cơ quan quản lý du lịch ở nước ta và trên địa bàn Hà
Nội có nhiều hoạt động đáng ghi nhận. Song, như các báo cáo tổng kết của ngành
du lịch Việt Nam thì mặt này còn nhiều hạn chế.
Các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện việc giải quyết các khiếu nại, tố cáo
và xử lý các vi phạm trong hoạt động du lịch, thúc đẩy du lịch nước ta trở thành
ngành kinh tế mũi nhọn, hạn chế, xoá bỏ các hiện tượng không lành mạnh, các mặt
trái của phát triển du lịch.
1.1.4. Tổ chức du lịch quốc gia và các các cấp quản lý nhà nước về du lịch
Để thực hiện chức năng quản lý vĩ mô của nhà nước về du lịch cần thiết phải
có sự phân cấp quản lý, hình thành các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ở các
cấp khác nhau, có quyền hạn, nhiệm vụ khác nhau. Nằm trong cơ cấu của bộ máy
nhà nước, cơ quan quản lý nhà nước về du lịch hoạt động theo nguyên tắc của bộ
máy nhà nước. Các nguyên tắc đó xuất phát từ việc nhà nước nắm quyền lực chính
trị, thông qua quyền lực chính trị nhà nước nắm giữ và bảo toàn quyền lực kinh tế,
theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Nằm trong hệ thống quyền lực nhà nước, cơ quan quản lý nhà nước về du
lịch được trao những thẩm quyền nhất định, chủ yếu là những thẩm quyền chuyên
môn.
Theo phạm vi quản lý, các cấp quản lý nhà nước về du lịch bao gồm quản lý
nhà nước về du lịch cấp Trung ương và quản lý nhà nước về du lịch cấp địa
phương.
Trên thế giới, tổ chức du lịch quốc gia có thể khác nhau, nhưng nhìn chung
đảm trách những nhiệm vụ chính sau:

hướng này hiện nay vẫn còn nhiều ở các quốc gia Đông á, Thái Bình Dương và
Nam á. Trên thế giới hiện nay, xu hướng Du lịch kết hợp với các Bộ Kinh tế xuất
hiện nhiều, Du lịch kết hợp với Thể thao đang tăng mạnh.
Tổ chức du lịch quốc gia và bộ máy quản lý nhà nước về du lịch của
Việt Nam
Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ở Việt Nam hiện nay là Bộ Văn hóa,
Thể thao và Du lịch. Thực hiện chủ trương hợp nhất Bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh
vực của Chính phủ để đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và phát triển kinh
tế xã hội của đất nước, ba ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã hợp nhất thành
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Việc hợp nhất ba ngành Văn hóa, Thể thao và
Du lịch nhằm phối hợp các hoạt động chung do ba ngành này có liên quan và có
thể hỗ trợ nhau trong phát triển, đồng thời giảm đầu mối, tạo điều kiện thuận lợi
cho công tác quản lý đa ngành. Phát triển du lịch phải dựa trên nền tảng văn hóa,
hiện nay Văn hóa và Du lịch đã có sự phối hợp thống nhất trong việc bảo vệ và
trùng tu di tích, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc phục vụ hoạt động du lịch để phát
triển kinh tế- xã hội. Đối với lĩnh vực thể thao cũng vậy, mỗi sự kiện thể thao đều
có thể quảng bá chung cho du lịch và văn hóa Việt Nam.
Các cấp quản lý nhà nước về du lịch tại Việt Nam bao gồm:
Quản lý nhà nước về du lịch cấp Trung ương
Tại nước ta, Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về du lịch.
Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch cấp Trung ương bao gồm Bộ Văn hoá,
Thể thao và Du lịch, chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện chức năng quản
lý nhà nước về du lịch. Các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ quản
lý các lĩnh vực kinh tế- xã hội như Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Kế
hoạch- Đầu tư… Các bộ, ngành có liên quan tạo điều kiện phát triển du lịch như
Hàng không, Hải quan, Ngoại giao, Công an… trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn
của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thực hiện
quản lý nhà nước về du lịch, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển du lịch.
Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch cấp Trung ương tập trung quản lý các
vấn đề có liên quan đến toàn bộ việc phát triển du lịch của cả nước trên mọi lĩnh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status