ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ KIỀU NGA
NGHIÊN CỨU SỰ HÀI LÒNG CỦA DU KHÁCH
ĐỐI VỚI SẢN PHẨM DU LỊCH TẠI CÙ LAO AN BÌNH
TỈNH VĨNH LONG
LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH
HÀ NỘI - 2013 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 7
3. Mục tiêu nghiên cứu 8
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
5. Phương pháp nghiên cứu 9
6. Bố cục luận văn 10
7. Đóng góp của luận văn 11
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ HÀI LÒNG CỦA DU KHÁCH 12
1.1. Một số lý luận về sự hài lòng của khách du lịch 12
1.1.1. Các khái niệm cơ bản có liên quan 12
1.1.1.1. Khái niệm về khách du lịch 12
1.1.1.2. Khái niệm sự hài lòng của khách du lịch 14
1.1.1.3. Khái niệm về nhu cầu du lịch và sự thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch 15
1.1.1.4. Khái niệm về sở thích, tâm trạng và hành vi tiêu dùng của khách du lịch 16
1.1.2. Chất lượng dịch vụ và các mức độ hài lòng của khách du lịch 18
1.1.2.1. Chất lượng dịch vụ 18
1.1.2.2. Mức độ hài lòng của khách du lịch 19
1.1.2.3. Đánh giá sự hài lòng của du khách qua thang đo Likert và kiểm tra sự tương
quan hệ số Cronbach alpha 20
1.1.3. Ý nghĩa của việc nghiên cứu, đánh giá sự hài lòng của khách du lịch trong
kinh doanh du lịch 21
1.2. Một số vấn đề lý luận về sản phẩm du lịch 22
1.2.1. Khái niệm về du lịch 22
1.2.2. Các khái niệm về các loại hình du lịch: 24
1.2.3. Khái niệm về sản phẩm du lịch 24
1.2.4. Đặc điểm của sản phẩm du lịch 26
1.2.5. Cơ sở hình thành sản phẩm du lịch 27
1.2.4.1. Cơ cấu của sản phẩm du lịch 27
1.2.4.2. Tài nguyên du lịch 28
1.2.6. Phân loại sản phẩm du lịch 29
Tiểu kết 30
2.3.3. Kết quả nghiên cứu sự hài lòng của du khách qua phân tích dữ liệu tần số,
… 53
2.3.3.1. Sự hài lòng của du khách về những chỉ tiêu lực hút của sản phẩm du lịch . 53
2.3.3.2. Sự hài lòng của du khách về cơ sở du lịch 54
2.3.3.3. Sự hài lòng của du khách về dịch vụ ẩm thực 55
2.3.3.4. Sự hài lòng của du khách về dịch vụ lưu trú homestay 56
2.3.3.5. Sự hài lòng của du khách về nhân viên phục vụ 57
2.3.3.6. Sự hài lòng của du khách về dịch vụ mua sắm hàng quà lưu niệm 59
2.3.3.7. Sự hài lòng của du khách về sự hấp dẫn của các loại hình vui chơi, giải trí 60
2.3.3.8. Sự hài lòng của du khách về sự đón tiếp của người dân địa phương 61
2.4. Sự hài lòng của du khách qua phân tích hệ số Cronbach alpha 61
2.4.1. Phát triển và xử lý thang đo chính thức 61
2.4.1.1. Hệ số tin cậy Cronbach Alpha 61
2.4.1.3. Mô hình nghiên cứu có điều chỉnh 67
2.4.2. Sự hài lòng của du khách đối với các chỉ tiêu đánh giá 69
2.4.2.1. Đánh giá của du khách về mức độ thể hiện của các chỉ tiêu 69
Tiểu kết 70
CHƢƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO SỰ HÀI LÒNG CỦA DU
KHÁCH 71
3.1. Cơ sở khoa học đề xuất các giải pháp 71
3.1.1. Chiến lược phát triển du lịch của Việt Nam 71
3.1.2. Định hướng phát triển du lịch của tỉnh Vĩnh Long và của huyện Long Hồ 72
3.1.2.1.Định hướng phát triển du lịch tỉnh Vĩnh Long 72
3.1.2.2. Định hướng phát triển du lịch huyện Long Hồ 73
3
3.1.3. Căn cứ vào kết quả nghiên cứu thực tiễn 73
3.2. Các giải pháp nâng cao sự hài lòng của du khách khi đến Cù lao An Bình 74
4
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1
ĐBSCL
Đồng bằng sông Cửu Long
2
Nxb
Nhà xuất bản
3
TP.HCM
Thành phố Hồ Chí Minh
4
UBND
Ủy ban nhân dân
5
UNESCO
United Nations Educational Scientific and Cultural Organization
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc
6
WTO
World Trade Organization - Tổ chức Thương mại Thế giới
World Tourism Organization - Tổ chức du lịch Thế giới
7
UNSC
United Nations Statistical Commission
Hội đồng thống kê liên hiệp quốc
5
DANH SÁCH CÁC BẢNG, BIỂU
Bảng 2.3. Lượng khách đến Cù lao An Bình qua các năm 2008 -2012…… Trang 46
Bảng 2.4: Doanh thu du lịch Cù lao An Bình qua các năm 2008 – 2012… Trang 46
Bảng 2.6: Cronbach Alpha thang đo của các yếu tố tương quan………… Trang 62
Bảng 2.7: Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA lần 2…………………Trang 65
Bảng 2.8: Đánh giá về mức độ thể hiện của các yếu tố…………………….Trang 68
năm đều tăng, năm sau cao hơn năm trước, tuy vậy tiềm ẩn sau những thống kê số
liệu, những thành quả đạt được là nỗi lo không nhỏ trước tình hình cạnh tranh ngày
càng gay gắt ngay giữa những nhà vườn trong Cù lao An Bình và các tỉnh có cùng
7
sản phẩm du lịch tương tự. Nhiều vấn đề được đặt ra là làm sao để thu hút khách
đến với Cù lao An Bình ngày càng nhiều hơn hay làm thế nào để khách quay trở lại
với du lịch Cù lao An Bình sau một lần đến tham quan.
Là một người con của đất Vĩnh Long và đã có nhiều cơ hội đến với Cù lao An
Bình trong vai trò là du khách, là người đi nghiên cứu, là dân bản địa… Tác giả
nhận thấy rằng tiềm năng phát triển du lịch của Cù lao An Bình là rất lớn, tuy nhiên
vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định và luôn băn khoăn với câu hỏi “sản phẩm
du lịch Cù lao An Bình đã thật sự thỏa mãn được nhu cầu của du khách chưa và
thỏa mãn như thế nào, mức độ nào,…?
Từ những lý do trên, tác giả quyết định chọn đề tài “Nghiên cứu sự hài lòng
của du khách đối với sản phẩm du lịch tại Cù lao An Bình - tỉnh Vĩnh Long” để
từ đó đưa ra những giải pháp phù hợp, mang tính khả thi nhằm nâng cao chất lượng
sản phẩm du lịch Cù lao An Bình.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Khi du lịch trở thành ngành kinh doanh dịch vụ mang lại nhiều lợi ích cho kinh
tế, xã hội của quốc gia và cộng đồng địa phương thì đề tài nghiên cứu về du lịch
được thực hiện nhiều hơn. Đa số các đề tài nghiên cứu ở góc độ sức hấp dẫn của tài
nguyên du lịch hiện có.
- Sở Văn hóa thể thao và du lịch Tiền Giang với đề tài “Tiền Giang phát
triển du lịch sông nước miệt vườn – thực trạng và giải pháp”, đã xác định “Quy
hoạch phát triển sản phẩm dựa trên lợi thế so sánh, tập trung đầu tư các dự án lớn,
phát triển sản phẩm đặc thù riêng biệt ”.
Điều đó cũng có thể xem là mục tiêu chung của các tỉnh lân cận như Bến Tre,
3. Mục tiêu nghiên cứu
3.1. Mục tiêu chung
Nghiên cứu sự hài lòng của du khách đối với sản phẩm du lịch tại Cù lao An Bình
tỉnh Vĩnh Long.
3.2. Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá đúng tiềm năng và thực trạng của du lịch Cù lao An Bình.
9
- Đánh giá được chất lượng sản phẩm du lịch Cù lao An Bình.
- Đánh giá được mức độ hài lòng của du khách về sản phẩm du lịch của Cù lao An
Bình.
- Hiểu được mong muốn của du khách khi đến du lịch tại Cù lao An Bình.
Từ những cơ sở trên sẽ đưa ra những giải pháp mang tính khả thi nhằm nâng
cao sự hài lòng của du khách và thu hút ngày càng nhiều du khách đến với Cù lao
An Bình, góp phần vào sự phát triển đời sống, kinh tế, xã hội cho người dân nơi đây
nói riêng và ngành du lịch Vĩnh Long nói chung.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sự hài lòng của du khách về sản phẩm du
lịch tại Cù lao An Bình.
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
+ Không gian: nghiên cứu trong phạm vi Cù lao An Bình.
+ Thời gian: đề tài được nghiên cứu trong giai đoạn từ tháng 5/2011 đến tháng
3/2013.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phƣơng pháp thu thập và xử lý tài liệu
Thu thập dữ liệu sơ cấp: Bằng cách quan sát, phỏng vấn thuận tiện, điều
tra qua bảng câu hỏi. Phân tích dữ liệu điều tra du khách bằng phần mềm SPSS16.0:
Tác giả thu thập và tổng hợp các phiếu điều tra du khách, sau đó nhập liệu vào phần
lịch và chuyên gia du lịch bằng những câu hỏi liên quan.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh
Trên cơ sở nguồn thông tin, tư liệu, số liệu thu thập được từ các công trình
nghiên cứu trước đây, các sở ban ngành tỉnh Vĩnh Long, từ việc khảo sát thực
tiễn,… tác giả tiến hành phân tích, tổng hợp và so sánh, đối chiếu các thông tin theo
mục tiêu nghiên cứu của đề tài.
6. Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội
dung chủ yếu của luận văn được trình bày trong 3 chương:
11
- Chương 1: Cơ sở lý luận về sự hài lòng của du khách
- Chương 2: Thực trạng sản phẩm du lịch tại Cù lao An Bình và sự hài lòng
của du khách
- Chương 3: Các giải pháp nhằm nâng cao sự hài lòng của du khách
7. Đóng góp của luận văn
- Về mặt khoa học: Đề tài góp phần củng cố cơ sở lý luận về tâm lý khách du
lịch và chất lượng sản phẩm du lịch tại Cù lao An Bình
- Về mặt thực tiễn: Đề tài giúp các doanh nghiệp, các nhà vườn, chính quyền
và cư dân địa phương có cái nhìn toàn diện hơn về lợi ích khi nâng cao chất lượng
sản phẩm du lịch và thỏa mãn nhu cầu của du khách khi kinh doanh du lịch. Đồng
thời, đề tài cũng nêu lên được những thuận lợi và khó khăn trong việc phát triển du
lịch tại Cù lao An Bình. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao sự hài lòng của
du khách khi đến Cù lao An Bình.
các mục đích kinh tế”. Định nghĩa này thể hiện vấn đề phân cấp, phân tầng xã hội,
bởi chỉ có những người giàu có mới chi tiêu xa hoa để thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ
của họ.
Hội nghị quốc tế về du lịch tại Hà Lan (1989) đã đưa ra quan niệm: “Khách du
lịch quốc tế là những người trên đường đi thăm một hoặc một số nước khác với
nước mà họ cư trú thường xuyên với mục đích của chuyến đi là tham quan, thăm
viếng, nghỉ ngơi với thời gian 3 tháng, nếu trên 3 tháng phải được phép gia hạn.
Khách du lịch không được làm bất cứ việc gì để được trả thù lao tại nước đến do ý
muốn của khách hay do yêu cầu của nước sở tại, sau khi kết thúc đợt tham quan hay
lưu trú, phải rời khỏi nước đến tham quan để về nước thường trú của mình hoặc đi
đến một nước khác”[33, tr 7]. Khái niệm thể hiện rõ về đối tượng khách du lịch
13
quốc tế và phân định giữa du lịch với chức năng kinh tế, sự giới hạn về thời gian là
3 tháng.
Tổ chức du lịch thế giới (WTO) xác định khách du lịch là những người lưu lại
một đêm tại nơi không phải là nhà mình và với mục đích chính của sự di chuyển
không nhằm kiếm tiền [1, tr4].
Việc chuẩn hóa về định nghĩa khách du lịch là sự cần thiết và giúp cho việc
các doanh nghiệp du lịch thông qua số lượng du khách để tính được doanh thu, giúp
các nhà thống kê phân định được khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế.
Một số các khái niệm khác phân định rõ về khách du lịch quốc tế và khách du lịch
nội địa, như năm 1993, theo đề nghị của Tổ chức du lịch thế giới, Hội đồng thống
kê liên hiệp quốc (UNSC) đã công nhận những thuật ngữ:
+ Khách du lịch quốc tế (International tourist) bao gồm: Khách du lịch quốc
tế đến (Inbound tourist) gồm những người nước ngoài đến du lịch một quốc gia và
khách du lịch quốc tế ra nước ngoài (Outbound tourist) gồm những người đang
sống trong một quốc gia đi du lịch nước ngoài;
hợp nghỉ ngơi với việc hội họp, kinh doanh, nghiên cứu khoa học
Trong đề tài này, tác giả chọn định nghĩa và cách phân loại du khách quốc tế và
nội địa theo luật du lịch Việt Nam (2005) để phân loại khách, phát phiếu điều tra và
thống kê, phân tích.
1.1.1.2. Khái niệm sự hài lòng của khách du lịch
Các nhà nghiên cứu đã định nghĩa sự hài lòng của du khách là “Kết quả của sự
tương tác giữa giá trị cảm nhận và mong đợi của du khách về điểm đến” (Pizam,
Neumann, Reichel, 1978 và Oliver, 1980).
Oliver (1980) cho rằng sự chênh lệch giữa giá trị kỳ vọng và giá trị cảm
nhận v
ề cách
mà sản phẩm du lịch tác động đến cảm xúc của du khách sẽ quyết
định mức độ hài lòng của du khách đối với sản phẩm đó.
Định nghĩa này có thể gây nhầm
lẫ
n gi
ữa
sự hài lòng và chất lượng dịch
vụ, tuy nhiên nhiều nhà nghiên cứu đã kh
ẳ
ng định chất lượng dịch vụ và sự hài
lòng có quan hệ với nhau nhưng là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau (Bitner,
15
1990; Parasuraman, 1988; Baker & Crompton, 2000). Họ cho rằng, chất lượng
dịch vụ là kết quả của việc đánh giá về nhà cung
ứ
ng, trong khi sự hài lòng là
Phân loại nhu cầu du lịch: Thông thường, nếu phân theo cấp độ, nhu cầu
du lịch được chia làm 3 loại.
Nhu cầu thiết yếu: Là những nhu cầu không thể thiếu của khách như vận
16
chuyển, ăn uống, ngủ nghỉ,
Nhu cầu đặc trưng: Là những nhu cầu nghỉ ngơi, tham quan, giải trí, giao
lưu, khám phá,
Nhu cầu bổ sung: Là những nhu cầu mua sắm, làm đẹp, chăm sóc sức khỏe,
giặt ủi,…
Khái niệm sự thỏa mãn nhu cầu du lịch:
Nhu cầu du lịch rất đa dạng phong phú, thỏa mãn nhu cầu du lịch là đồng thời
thỏa mãn tất cả các nhu cầu của du khách trong hoạt động du lịch.
Sự thỏa mãn là mức độ trạng thái cảm giác của một người bắt đầu từ việc so
sánh kết quả thu được từ sản phẩm dịch vụ với những kỳ vọng của người đó (Philip
Kotler, 2001).
Như vậy, sự thỏa mãn nhu cầu du lịch của khách du lịch là mức độ trạng thái
cảm giác của khách khi so sánh kết quả sau khi sử dụng sản phẩm du lịch với những
kỳ vọng của khách du lịch.
Sự thỏa mãn nhu cầu du lịch của du khách mang tính chiều rộng vì con người
có rất nhiều nhu cầu cần thỏa mãn, còn sự hài lòng của du khách lại thiên về chiều
sâu vì sau khi sử dụng sản phẩm du lịch du khách cảm nhận và đánh giá về sản
phẩm du lịch, có thể là có hài lòng hoặc không hài lòng, nếu hài lòng thì sẽ có
những mức độ khác nhau, không hài lòng cũng sẽ có các mức độ khác nhau.
1.1.1.4. Khái niệm về sở thích, tâm trạng và hành vi tiêu dùng của khách du lịch
con người chịu một sức ép nặng nề, liên tục về thể xác và tinh thần.
Hành vi tiêu dùng của du khách: Là những hành vi có ý thức của du khách
thể hiện trong việc tìm kiếm, mua sắm hoặc sử dụng sản phẩm dịch vụ du lịch nhằm
thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của họ.
Những nhân tố ảnh hưởng đến hành vi người tiêu dùng
Các yếu tố về sản phẩm, dịch vụ: Chất lượng, giá cả, chủng loại, mẫu mã,
điều kiện quảng cáo, khuyếch trương, bảo hành, khuyến mại, hình thức phân phối
Các yếu tố về văn hóa: Các giá trị văn hóa như tự do, tiện nghi vật chất ;
các giá trị tiểu văn hóa như văn hóa của các sắc tộc, tôn giáo, địa phương ; văn hóa
của các giai tầng xã hội.
Các yếu tố về xã hội: Những cá nhân có vai trò khác nhau sẽ có hành vi tiêu
dùng khác nhau do những tác động về phong cách giao tiếp xã hội mang lại; các
18
hiện tượng tâm lý xã hội như: phong tục tập quán, truyền thống, bầu không khí xã
hội, dư luận xã hội, tôn giáo – tín ngưỡng, thị hiếu
Các yếu tố về cá nhân: Bao gồm những đặc điểm tâm sinh lý cá nhân, những
đặc điểm văn hóa – xã hội, lịch sử của cá nhân: độ tuổi, sức khỏe, giới tính, trình độ
văn hóa, nghề nghiệp, thu nhập, phong cách sống, các đặc điểm của nhân cách con
người
Các yếu tố về tâm lý: Bao gồm động cơ tiêu dùng, hoạt động nhận thức của
cá nhân (cảm giác, tri giác, tư duy ), đặc điểm về đời sống tình cảm (tâm trạng,
cảm xúc, tình cảm ), kinh nghiệm, lòng tin và thái độ.
Ngoài ra còn có những yếu tố khác ảnh hưởng nhất định đến hành vi tiêu dùng
Dựa vào khái niệm sự hài lòng, sự thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch và sự
đo lường chất lượng dịch vụ qua 5 yếu tố trên, chúng tôi chia mức độ hài lòng của
du khách và cho điểm đánh giá theo chiều tăng dần từ 1 đến 5 điểm với 5 mức độ
thể hiện cụ thể như sau:
Mức rất không hài lòng: Khi mức độ cảm nhận được của khách hàng về
chất lượng sản phẩm du lịch nhỏ hơn rất nhiều so với kì vọng, dẫn đến thất vọng và
không tin tưởng.
Mức không hài lòng: Khi mức độ cảm nhận được của khách hàng về chất
lượng sản phẩm du lịch nhỏ hơn so với kì vọng.
Mức bình thường: Khi mức độ cảm nhận được của khách hàng về chất
lượng sản phẩm du lịch tạm chấp nhận, có thể bằng hoặc nhỏ hơn kì vọng nhưng
cũng không thích thú với sản phẩm.
Mức khá hài lòng: Khi mức độ cảm nhận được của khách hàng bằng hoặc
lớn hơn kì vọng, khá thích thú và có lòng tin đối với nhà cung ứng.
Mức rất hài lòng: Khi mức độ cảm nhận được của khách hàng lớn hơn nhiều
so với kỳ vọng, du khách rất thích và hoàn toàn tin tưởng đối với nhà cung ứng.
Theo một số nhà nghiên cứu, có thể phân loại sự hài lòng của khách hàng
20
thành 3 loại và chúng tác động khác nhau đến nhà cung cấp dịch vụ:
Hài lòng tích cực (Demanding customer satisfaction): Đây là sự hài lòng
mang tính tích cực và được phản hồi thông qua các nhu cầu sử dụng ngày càng
được tăng lên đối với các nhà cung cấp dịch vụ. Đối với những khách hàng có sự
hài lòng tích cực, họ và nhà cung cấp có mối quan hệ tốt đẹp, tín nhiệm lẫn nhau và
cảm thấy hài lòng khi giao dịch. Yếu tố tích cực còn thể hiện ở chỗ, chính từ những
yêu cầu không ngừng tăng lên của khách hàng mà nhà cung cấp dịch vụ càng nỗ lực
cải tiến chất lượng dịch vụ ngày càng trở nên hoàn thiện hơn.
Hài lòng ổn định (Stable customer satisfaction): Đối với những khách hàng
α=N ρ /[1+ ρ (N-1)]
Trong đó, ρ là hệ số tương quan trung bình giữa các mục hỏi; N là số mục hỏi;
Theo quy ước thì tập hợp các mục hỏi dùng để đo lường được đánh giá là tốt phải
có hệ số α lớn hơn hoặc bằng 0,8.
1.1.3. Ý nghĩa của việc nghiên cứu, đánh giá sự hài lòng của khách du lịch trong
kinh doanh du lịch
Việc nghiên cứu, đánh giá sự hài lòng của du khách trong kinh doanh du lịch
mang nhiều ý nghĩa.
Trước hết, sản phẩm du lịch chủ yếu là dịch vụ, chất lượng dịch vụ chỉ được
đánh giá thông qua quá trình tiêu dùng. Chất lượng dịch vụ không phải là một đại
lượng cố định, nó gắn liền với thời gian, không gian tạo ra và tiêu dùng nó. Chất
lượng dịch vụ du lịch phần lớn phụ thuộc vào các đặc điểm nhân cách và trạng thái
tâm lý xã hội của khách du lịch và người phục vụ du lịch khi họ hoạt động và giao
tiếp với nhau. Muốn tạo ra những dịch vụ du lịch có chất lượng đòi hỏi người phục
vụ du lịch phải tìm cách điều chỉnh hành vi của mình phù hợp với đặc điểm tâm lý
và hành vi của khách du lịch, để làm được như thế phải tiến hành nghiên cứu, đánh
giá sự hài lòng của du khách.
Thứ hai, khách du lịch là đối tượng trung tâm của hoạt động du lịch. Để kinh
doanh du lịch đạt kết quả tốt cần phải nghiên cứu và đánh giá sự hài lòng của du
khách. Thông qua việc nghiên cứu sẽ giúp cho nhà kinh doanh du lịch, những người
22
tổ chức, quản lý kinh doanh du lịch nhận biết được nhu cầu, sở thích, hành vi, thái
độ, động cơ của nhóm khách du lịch, của từng cá nhân cụ thể hay đối tượng khách
quốc tế, nội địa từ đó có thể định hướng, điều khiển và điều chỉnh quá trình phục
vụ khách du lịch sao cho thật phù hợp với xu thế du lịch, thỏa mãn một cách tốt
nhất nhu cầu của du khách, vận dụng những ảnh hưởng tích cực, hạn chế những ảnh
hưởng tiêu cực đến tâm lý du khách.
Official Travel Oragnization: IUOTO): “Du lịch được hiểu là một hành động du
hành đến nơi khác với địa điểm cư trú thường xuyên của mình, nhằm mục đích không
phải để làm ăn, tức không phải để làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống”.
Theo I.I. Pirogionic, 1985 thì : “Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư
trong thời gian rỗi liên quan với sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư
trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng
cao trình độ nhận thức văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị
về tự nhiên, kinh tế và văn hóa”.
Theo luật du lịch Việt Nam (2005) trong điều 4 chương I thì: “Du lịch là các
hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên
của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong
một khoảng thời gian nhất định”.
Đúng như một chuyên gia du lịch đã nhận định “Đối với du lịch có bao nhiêu
tác giả nghiên cứu thì có bấy nhiêu định nghĩa” [29, tr7]. Thật vậy, cho đến nay có
nhiều định nghĩa khác nhau của nhiều tác giả khác nhau, nhưng nhìn chung có thể
xếp thành hai nhóm:
Nhóm thứ nhất nhận xét về bề ngoài của hiện tượng du lịch như sự di
chuyển ngoài nơi cư trú, thỏa mãn một số nhu cầu nhưng không theo mục đích kinh
tế. Các định nghĩa này chỉ giải thích hành động đi du lịch, nhưng không bao quát
toàn diện hiện tượng du lịch.
Nhóm thứ hai cho rằng du lịch là tập hợp các mối quan hệ và các hiện
tượng phát sinh từ việc đi lại và lưu trú của người từ nơi khác đến mang tính tạm
thời và không liên quan đến hoạt động tìm kiếm lợi nhuận. Theo hướng định nghĩa
này khá đầy đủ nhưng chưa đề cập đến các tổ chức du lịch.