ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÊ THỊ LAN HƯƠNG TÌM HIỂU VIỆC KHAI THÁC CÁC TÀI
NGUYÊN VĂN HÓA CỦA TỈNH NGHỆ AN
PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU LỊCH
LUẬN VĂN THẠC SỸ DU LỊCH
(Chương trình đào tạo thí điểm) Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Phạm Hùng
Hà Nội - 2010
4
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
xã hội ảnh hưởng tới các yếu tố văn hoá bản địa ngày càng mai một, nguồn tài
nguyên nhân văn bị khai thác một cách không bền vững cho những mục đích khác
nhau, thậm chí phát triển một cách sai lệch đi ngược với thuần phong mỹ tục, ảnh
hưởng các giá trị văn hóa truyền thống. Vì vậy tôi đã chọn đề tài “ Tìm hiểu việc
khai thác tài nguyên văn hóa của tỉnh Nghệ An để phục vụ cho phát triển du lịch ”
qua khảo sát, tìm hiểu, nghiên cứu các đặc điểm, điều kiện khai thác nguồn tài
nguyên du lịch nhân văn ở tỉnh Nghệ An để có thể tìm ra những nguyên nhân tồn
tại, những hạn chế khó khăn trong việc khai thác các loại tài nguyên văn hóa của
tỉnh Nghệ An phục vụ cho phát triển du lịch từ đó đưa ra chiến lược khai thác hiệu
quả và sản phẩm du lịch phù hợp để nâng cao chất lượng đáp ứng mọi nhu cầu của
khách du lịch, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường nội địa và hướng tới thị
trường nước ngoài nhằm tăng hiệu quả kinh tế, giao lưu văn hóa và phát triển du
lịch cũng như bảo tồn nguồn tài nguyên nhân văn và các yếu tố văn hoá bản địa.
2. Mục đích, ý nghĩa của đề tài:
Thông qua việc tìm hiểu nghiên cứu các đặc điểm, điều kiện của nguồn tài
nguyên văn hóa của tỉnh Nghệ An trong việc phục vụ phát triển du lịch, luận văn
hướng tới những mục đích và ý nghĩa sau:
Xác định được vai trò nguồn tài nguyên du lịch nhân văn cũng như yếu tố
văn hoá trong phát triển du lịch nói riêng và phát triển kinh tế của tỉnh Nghệ An
nói chung. Từ đó thấy được tầm quan trọng của yếu tố văn hóa trong đời sống con
người và trong xã hội cũng như vai trò của nó trong phát triển kinh doanh du lịch
6
nhằm phục vụ chính con người về tinh thần và vật chất, qua đó còn bảo tồn và phát
huy lưu giữ các giá trị cho thế hệ mai sau.
Giải quyết mối quan hệ giữa yếu tố văn hoá, tài nguyên du lịch nhân văn với
hoạt động kinh doanh du lịch nhằm hướng tới phát triển bền vững trong mọi mặt.
Ngày nay, các tài nguyên văn hóa bị khai thác một cách không bền vững cho nhiều
mục đích khác nhau của các cơ sở kinh doanh ảnh hưởng tới môi trường văn hóa,
môi trường tự nhiên theo chiều hướng xấu. Vì vậy, chúng ta cần bảo vệ, phát huy
Phương pháp thu thập, nghiên cứu tài liệu và xử lý thông tin. Là phương
pháp nhằm tìm hiểu cơ sở lý thuyết liên quan như thu thập các tài liệu về văn hóa,
tài liệu về tài nguyên văn hóa, các tài liệu liên quan đến tổ chức, hoạt động kinh
doanh, xúc tiến quảng bá du lịch…Và những tài liệu, thông tin về ngành du lịch
của tỉnh Nghệ An, về tài nguyên du lịch Nghệ An, các tài liệu, sách báo, bài viết về
Nghệ An từ đó có cái nhìn tổng quan và cụ thể các vấn đề liên quan giúp cho tác
giả khai thác thông tin, xử lý thông tin cung cấp cho luận văn.
Phương pháp quan sát sự vật hiện tượng. Là phương pháp điều tra, thu thập
thông tin ở một số điểm du lịch nhằm thu thập thông tin từ thực tế nơi diễn ra hoạt
động du lịch. Phương pháp giúp ta tìm hiểu thông tin quan sát từ các sự vật cụ thể
như các di tích, các đồ vật, nét hoa văn, các hoạt động lễ hội…
Phương pháp điều tra thực địa: là phương pháp kiểm tra thông tin tại các cơ
sở, điểm du lịch nơi có các di tích, danh lam, công trình kiến trúc nghệ thuật, lễ
hội, làng nghề, khách du lịch… cần nghiên cứu, phương pháp giúp cho nhà nghiên
cứu tiếp xúc trực tiếp, cảm nhận được sự vật, hiện tượng từ đó đưa ra cái nhìn tổng
quát, khách quan, chính xác về đối tượng nghiên cứu
Phương pháp tổng hợp và phân tích: là phương pháp tổng hợp tất cả tài liệu
như tài liệu khoa học về lý thuyết, tài liệu nghiên cứu, thông tin thu thập được từ
8
đó phân loại, sắp xếp, xử lý thông tin và đưa ra những phân tích, nhận định, đánh
giá đối tượng nghiên cứu, làm rõ vấn đề cần nghiên cứu.
5. Bố cục của luận văn : Luận văn bao gồm các phần mở đầu và phần kết luận,
phần phụ lục, phần nội dung . Bao gồm gần 140 trang, trong đó phần nội dung của
luận văn với kết cấu ba chương là:
Chương 1: Tài nguyên văn hóa tỉnh Nghệ An
Chương 2: Thực trạng khai thác tài nguyên văn hóa phục vụ phát triển du
lịch của Nghệ An.
Chương 3: Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả khai thác nguồn tài
nguyên du lịch văn hoá ở tỉnh Nghệ An
yếu và thiếu, nguồn vốn đầu tư cho hoạt động kinh doanh và xúc tiến quảng bá du
lịch địa phương không nhiều dẫn đến chất lượng dịch vụ và xây dựng hình ảnh
thương hiệu chưa cao, khó thu hút được thị hiếu của khách hàng đặc biệt là những
dòng khách cao cấp, có khả năng chi trả cao. Sản phẩm du lịch còn đơn điệu chưa
có sản phẩm du lịch đặc thù riêng của Nghệ An, chưa thu hút khách, cần phải xây
dựng các chương trình du lịch đặc sắc mang đậm dấu ấn địa phương và phù hợp
với thị hiếu khách du lịch. Luận văn đã trình bày được những thuận lợi cũng như
một số hạn chế, tồn tại trong nền kinh tế nói chung của tỉnh và của ngành du lịch
nói riêng. Từ những hạn chế, tồn tại đó đưa ra một số giải pháp nhằm khắc phục và
góp phần nâng cao hiệu quả khai thác nguồn tài nguyên văn hóa một cách hợp lý,
bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống, bên cạnh đó chú ý những vấn đề về
hiệu quả kinh tế, nâng cao chất lượng lao động ngành du lịch… sao cho ngành du
lịch ngày càng phát triển bền vững, đóng góp cao cho ngành kinh tế, nâng cao chất
lượng của cuộc sống người dân nơi đây. Những giải pháp đó bao gồm 6 nhóm giải
pháp chính là: Giải pháp về tổ chức quản lý trong du lịch, giải pháp về hoàn thiện
cơ sở vật chất hạ tầng kỹ thuật, giải pháp về sản phẩm du lịch văn hóa, giải pháp về
10
marketing trong du lịch, giải pháp về bảo tồn nguồn tài nguyên văn hóa trong kinh
doanh du lịch, giải pháp về an toàn trong du lịch.
Bình, miền ven biển thuộc văn hóa Quỳnh Văn…Họ sống bầy đàn, hái lượm, săn
bắt bằng công cụ thô sơ, cư trú vùng núi phía Tây và trung du. Nền nông nghiệp
nương rẫy, lúa nước dần hình thành. Đến thời Văn Lang - Âu Lạc cùng với các tộc
người khác ở vùng Đông Bắc, Tây Bắc và đồng bằng Bắc Bộ, các tộc người cổ
cùng xây dựng đất nước Văn Lang – Âu Lạc, họ lao động và đạt nhiều thành quả
nhất định như trình độ tinh xảo trong kỹ thuật chế tác đá và khai thác, luyện đồng
tạo nên công cụ lao động, vũ khí, nhạc cụ…Sự phát triển của nghề luyện kim thúc
đẩy sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế và dẫn đến chuyển biến sâu xa trong đời
sống xã hội. Cơ sở kinh tế chủ yếu là nông nghiệp lúa nước, hái lượm săn bắn,
đánh cá, chăn nuôi, làm gốm, dệt vải. Đặc biệt là chế tác kim loại, luyện kim là
ngành thủ công tác động to lớn đến kinh tế, xã hội của Nghệ An thời đó. Con
người sống gắn bó quan hệ cộng đồng làng xóm, họ tổ chức hội hè, ca nhạc từ
trống đồng, khèn, sáo, chuông, hát dân ca, sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng…tạo nên
12
nền văn minh Đông Sơn và công cuộc dựng nước, giữ nước của các vua Hùng, vua
Thục gắn liền với những dấu ấn sâu đậm của kho tàng huyền thoại và một số di
tích lịch sử văn hóa.
Năm 179 trước công nguyên, cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Triệu
Đà do An Dương Vương lãnh đạo bị thất bại. Đất nước rơi vào ách thống trị phong
kiến phương Bắc kéo dài hơn 1000 năm. Nghệ An trở thành châu, quận huyện
trong quá trình sát nhập, đồng hóa của đế chế Đại Hán. Đời Triệu thuộc huyện Cửu
Chân, huyện Hàm Hoan thuộc quận Giao Chỉ đời Hán, là quận Cửu Đức gồm sáu
huyện đời Ngô, tám huyện đời Tấn, 10 huyện đời Tống, 7 huyện đời Tề, là quận
Đức Châu đời Lương, quận Nhật Nam đời Tùy, là Hoan Châu, Diễn Châu và Phúc
Lộc Châu đời Đường. Chính quyền đô hộ khắc nghiệt, vơ vét của cải, sức người,
người dân phải cống nộp đặc sản hoa quả nổi tiếng như vải, nhãn, cam, lâm thổ sản
quý như gỗ quý, sừng tê giác, ngà voi, chim công…Nhân dân vùng lên khởi nghĩa,
cùng với nhân dân cả nước kiên cường chống lại phong kiến Trung Quốc. Mở đầu
là khởi nghĩa Hai Bà Trưng và nhiều cuộc khởi nghĩa khác. Năm 722, Mai Thúc
thi, có 57 người đỗ tiến sỹ, đưa Nghệ An thành xứ văn vật, giao lưu văn hóa các
địa phương khác, các phong tục được bảo tồn.
Sang thế kỷ XVI đến XVIII, Nghệ An bước sang thời kỳ chiến tranh Trịnh
Mạc, Trịnh Nguyễn phải chịu nhiều hậu quả nặng nề giữa sự tranh chấp của các
thế lực phong kiến. Người dân phải chịu ách áp bức bóc lột, phải chịu đói khổ và
chiến tranh, nhiều cuộc khởi nghĩa của dân bị đàn áp dã man. Phong trào Tây Sơn
của Nguyễn Huệ nổ ra, sau khi tiêu diệt quân Xiêm, tiến ra Bắc ba lần tiêu diệt tập
đoàn phong kiến nhà Trịnh đã dừng trên đất Nghệ An tuyển quân và được nhân
dân hết sức ủng hộ cả về vật chất và nhân lực. Quang Trung đã đánh bại hoàn toàn
14
quân Thanh và có ý định dời đô ra Nghệ An đóng tại thành Phượng Hoàng Trung
Đô cạnh núi Quyết và sông Lam. Sau khi Quang Trung mất, năm 1802, Nguyễn
Ánh lên ngôi ở Phú Xuân đã dời thành từ Lam Thành-Phù Thạch về Yên Trường,
Vĩnh Yên huyện Chân Lộc, nơi đây trở thành trung tâm văn hóa, kinh tế, chính trị
của trấn Nghệ An. Năm Minh Mệnh thứ 12(1831), trấn Nghệ An chia làm hai tỉnh
là Nghệ An và Hà Tĩnh. Năm Tự Đức thứ 6(1853) bỏ tỉnh Hà Tĩnh cho nhập vào
Nghệ An. Thời vua Hàm Nghi (1885-1888) Nghệ An tách ra 2 tỉnh Nghệ An, Hà
Tĩnh. Việc tách nhập diễn ra nhưng nhà Nguyễn luôn chọn Vinh là trung tâm của
cả vùng. Thời kỳ này kinh tế nông nghiệp sa sút, ruộng đồng bỏ hoang, thiên tai,
nạn dịch hoành hành, xóm làng tiêu điều xơ xác. Ngoài trồng lúa, nông dân có
trồng thêm ngô, khoai, lạc, đậu…Thủ công nghiệp xuất hiện nhiều làng nghề và
nghề thủ công nổi tiếng như dệt, mộc, gốm, đan lát…buôn bán tấp nập ở chợ và
các cửa biển, cửa sông. Văn học nghệ thuật thì phát triển rực rỡ, xuất hiện nhiều
tác giả lớn như La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp, Phan Huy Ích, Bùi Xuân Lịch, Hồ
Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ…Về sử học có Phan Thúc Trực, Cao Xuân
Dục…Y dược có Hoàng Nguyên Cát, Hoàng Danh Sưởng…Văn hóa dân gian phát
triển phong phú đa dạng, lễ hội với nhiều sinh hoạt như hát ví, hát dặm, đánh cờ,
đánh đu…Các công trình kiến trúc xây dựng và trùng tu như đền, chùa, đình, nhà
văn thánh. Về giáo dục thi cử được xem trọng và có số người đỗ tiến sỹ đông nhất
hội Duy Tân. 1905, phong trào Đông Du đưa học sinh sang Nhật du học, Nghệ An
có hơn 100 thanh niên, số ở lại thành lập “ Triều Dương thương quán” ở Vinh xây
dựng lực lượng và tài chính cho cách mạng. Ngoài ra còn nhiều phong trào khác
nhưng nhìn chung các phong trào đấu tranh của nông dân và các tầng lớp đều bị
đàn áp một cách dã man nhưng ý chí quật cường của con người thì vẫn sống một
cách mạnh mẽ.
16
Từ năm 1919 đến 1930 sau chiến tranh thế giới lần thứ 1, Pháp tiến hành
khai thác thuộc địa lần thứ hai với quy mô lớn ở Đông Dương. Tình hình kinh tế xã
hội Nghệ An có nhiều thay đổi, thành phố Vinh – Bến Thủy ra đời trên sự sát nhập
ba trung tâm đô thị Vinh – Trường Thi – Bến Thủy với 20.000 dân nội thành và
7000 công nhân. Chợ Vinh là chợ lớn Trung Kỳ thuộc Pháp, nơi giao thương trao
đổi hàng hóa. Các đồn điền rộng lớn trồng cây công nghiệp ra đời trồng cà phê, cao
su, đay, trẩu, gai, chăn thả gia súc…quan hệ của chủ điền và người lao động có
nhiều nét mới. Từ Vinh hệ thống đường bộ nối liền các tỉnh, vùng, xứ trong Liên
bang Đông Dương, tuyến đường sắt Vinh – Đông Hà xây dựng từ 1922 – 1927.
Năm 1925, sân bay Vinh đưa vào khai thác, làm cho hệ thống giao thông tương đối
hoàn thiện. Đội ngũ công nhân tăng lên nhanh chóng chịu ảnh hưởng sâu sắc của
xu hướng cứu nước, con đường cách mạng vô sản. Năm 1925 – 1926 phong trào
công nhân Vinh – Bến Thủy luôn “đứng đầu dậy trước”. Ngoài ra có một số tư bản
người Việt, các tầng lớp tiểu thương, tiểu chủ, công chức tập trung lại. Tháng 6 –
1925, Hội Việt Nam cách mạng thanh niên do Nguyễn Ái Quốc sáng lập ở Quảng
Châu Trung Quốc đã đào tạo các thanh niên ưu tú về nước hoạt động các tỉnh
thành trong đó có Nghệ An. Tháng 7 – 1925, Hội Phục Việt ra đời Trung Đô –
Vinh sau đó đổi tên Hội Hưng Nam và lại đổi tên đảng Tân Việt. Năm 1928, hai tổ
chức hoạt động xen kẽ khắp nơi ở nhà máy, trường học, công sở, thôn xã trong
tỉnh, tư tưởng Mác – Lênin được truyền bá sâu rộng, phong trào đấu tranh của công
nhân và các tầng lớp trở nên mạnh mẽ, các cuộc biểu tình để tang cho Phan Chu
Trinh và ân xá cho Phan Bội Châu. Tháng 6 – 1929, Đông Dương Cộng Sản đảng
Nam góp phần làm nên thắng lợi Đông xuân 1953 – 1954 chấm dứt kháng chiến
chống Pháp. Năm 1954, Nghệ An xây dựng lại cơ sở vật chất, củng cố an ninh địa
18
phương và biên giới. Năm 1955, phát động cải cách ruộng đất, xây dựng hợp tác
xã, sản xuất nông nghiệp, cải tạo công thương, bộ mặt kinh tế có nhiều thay đổi…
Từ 1965 – 1975, trong chiến tranh chống phá hoại miền Bắc của đế quốc
Mỹ, Nghệ An là trọng điểm bị bắn phá ác liệt. Nhân dân cả tỉnh chống trả, cùng
nhau thi đua bắn trả máy bay, tàu chiến địch và hết sức chi viện cho miền Nam và
cùng nhân dân cả nước giành thắng lợi năm 1975. Ngày 27 – 12 – 1975, Nghệ An
và Hà Tĩnh hợp thành tỉnh Nghệ Tĩnh nhằm tạo thế và lực trong xây dựng chủ
nghĩa xã hội.
Năm 1991, Nghệ An lại thành lập trở lại cho đến nay bộ mặt đô thị đã có
nhiều thay đổi, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội ổn định, đời sống nhân dân cải
thiện và được chú ý trên mọi mặt. Nền kinh tế nhiều thành phần và sự chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật
được củng cố phát triển. Giáo dục đào tạo đạt nhiều thành tựu. Tuy nhiên sự
chuyển đổi và phát triển kinh tế ở Nghệ An còn chậm, nguồn thu chủ yếu mỗi năm
từ thuế. Hiệu quả sản xuất kinh doanh chưa tương xứng với tiềm năng một tỉnh đất
rộng, người đông, giàu truyền thống cách mạng và cần cù. Tính hấp dẫn đầu tư còn
kém so với các tỉnh khác. Hệ thống hạ tầng cơ sở chưa đảm bảo về chất lượng,
chưa đáp ứng nhu cầu của người dân, một số tệ nạn xã hội vẫn tồn tại… Vì vậy,
toàn tỉnh còn phải nỗ lực nhiều trong mọi mặt để phát triển một cách bền vững,
tăng lợi thế cạnh tranh, cùng với sự phát triển chung của cả nước…
1.1.2. Vị trí địa lý và các điều kiện tự nhiên
*Vị trí địa lý: Tỉnh Nghệ An thuộc bắc trung bộ nước cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam, toạ độ địa lý từ 18o33'10" đến 19o24'43" vĩ độ Bắc và từ
103o52'53" đến 105o45'50" kinh độ Đông. Phía Bắc giáp tỉnh Thanh Hoá với
19
20
Đàn, Đô Lương, Thanh Chương, Nghiã Đàn, Anh Sơn). Đất sét làm nguyên liệu xi
măng 300 triệu tấn (Quỳnh Lưu, Đô Lương, Anh Sơn,…). Đá trắng 982 triệu tấn
(Quỳ Hợp, Quỳ Châu). Đá bazan 260 triệu m
3
(Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp). Đá đen trên
54 triệu m
3
(Con Cuông, Đô Lương). Đá Granite 160 triệu tấn (Tân Kỳ). Sét làm
gốm sứ cao cấp trên 300 triệu tấn (Nghi Lộc, Đô Lương, Yên Thành, Tân Kỳ).
Than 5 triệu tấn (Tương Dương, Con Cuông). Than bùn trên 10 triệu tấn (Tân Kỳ,
Yên Thành). Vàng sa khoáng ở thượng nguồn sông Hiếu, sông Lam (Quỳ Châu,
Quế Phong, Tương Dương, Kỳ Sơn).
Đặc điểm lợi thế là các tài nguyên trên của Nghệ An tập trung thành những
quần thể, nguyên liệu chính và nguyên liệu phụ ở gần nhau, có chất lượng cao, gần
đường giao thông nên rất thuận lợi cho sản xuất xi măng, gốm sứ, bột đá siêu mịn,
gạch lát, sản phẩm thủ công mỹ nghệ, phân vi sinh v.v
Địa hình: Tỉnh Nghệ An nằm ở Đông Bắc dãy Trường Sơn, địa hình đa
dạng, phức tạp và bị chia cắt bởi các hệ thống đồi núi, sông suối hướng nghiêng từ
Tây - Bắc xuống Đông - Nam. Đỉnh núi cao nhất là đỉnh Pulaileng (2.711m) ở
huyện Kỳ Sơn, thấp nhất là vùng đồng bằng huyện Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Yên
Thành có nơi chỉ cao đến 0,2 m so với mặt nước biển (đó là xã Quỳnh Thanh
huyện Quỳnh Lưu). Đồi núi chiếm 83% diện tích đất tự nhiên của toàn tỉnh.
*Tài nguyên nước: Nghệ An có tài nguyên nước rất phong phú và dồi dào từ
nước ao, nước hồ, sông, suối, biển đáp ứng cho nhu cầu sinh hoạt, sản xuất, nuôi
trồng thủy hải sản cho con người. Ngoài ra, Nghệ An còn có rất nhiều sông hồ ao
suối kết hợp với cảnh quan tự nhiên tạo ra phong cảnh hữu tình có giá trị phục vụ
cho hoạt động du lịch và phục vụ nhu cầu tham quan, nghỉ ngơi cho du khách.
Ngoài ra, còn có nguồn nước khoáng và suối nước nóng có lợi sức khỏe con người
như ở Giang Sơn – Đô Lương, Bản Khang, suối Nước Mọc – Con Cuông…
o
c. Tổng lượng
mưa trong năm là 1.610,9mm, lượng mưa thấp nhất là 1110,1 mm ở huyện Tương
Dương. Tổng số ngày mưa trong năm là 157 ngày nhiều hơn năm 2003 là 33
ngày. Độ ẩm trung bình hàng năm là: 84%, độ ẩm thấp nhất là 42% vào tháng
7. Tổng số giờ nắng trong năm 2004 là 1.460 giờ, thấp hơn năm 2003 là 270 giờ.
Các hiện tượng thời tiết khác như chịu nhiều ảnh hưởng của bão và áp thấp
nhiệt đới, trung bình mỗi năm 2 đến 3 cơn bão lớn, sức gió mạnh cấp 12 tập trung
22
từ tháng 8 đến tháng 10, bão kèm mưa lớn nên gây lũ lụt làm thiệt hại tài sản và
con người. Hiện tượng sương muối trên địa bàn tương đối nhiều tập trung ở các
vùng núi cao, trung du ảnh hưởng mùa màng nhân dân. Vào mùa khô nóng chịu
ảnh hưởng gió lào nóng rát, hạn hán. Nhìn chung khí hậu có ảnh hưởng nhiều đến
hoạt động du lịch và tạo nên tính mùa vụ trong kinh doanh du lịch.
*Các loại sinh vật: Nghệ An có hệ động thực vật vô cùng đa dạng, hiện nay
còn lưu giữ rất nhiều loại động thực vật quý và hiếm như:
Tài nguyên thực vật: Phát hiện 1.193 loài thuộc 163 họ - 537 chi. Trong đó:
Hạt kín: 2 lá mầm 114 họ - 460 chi - 105 loài; 1 lá mầm 18 họ - 50 chi - 105 loài.
Hạt trần: 4 họ - 6 chi - 10 loài. Quyết thực vật: 19 họ - 21 chi - 34 loài. Trong đó có
4 loài có nguy cơ bị tuyệt chủng. Các loài có trong sách đỏ bao gồm: Lim xanh,
giáng hương, giổi, lát hoa
Tài nguyên rừng: Tổng diện tích rừng 745.557 ha, độ che phủ đạt 45,2%
(theo số liệu năm 2004). Trữ lượng gỗ có trên 52 triệu m
3
gồm nhiều loại gỗ quý
như pơmu, samu, lim, sấu, đinh hương, sến Tre, nứa, mét: có trên 1 tỷ cây; ước
tính có khoảng 226 loài dược liệu và nhiều lâm sản quý.
Tài nguyên động vật: Phát hiện 342 loài thuộc 91 họ - 27 bộ gồm: Động vật
có vú: 9 bộ - 24 họ - 78 loài. Lớp chim: 15 bộ - 47 họ - 202 loài. Lớp bò sát: 2 bộ -
liệu giấy xuất khẩu, chế biến và đóng gói thức ăn gia súc, sản xuất gạch granít, sản
xuất và lắp ráp xe máy, dệt may…
Nghệ An có 4 khu công nghiệp với tổng diện tích 803,4 ha, bao gồm: khu
công nghiệp Bắc Vinh, khu công nghiệp Nam Cấm, Khu công nghiệp Cửa Lò, Khu
24
công nghiệp Hoàng Mai. 08 cụm công nghiệp nhỏ tại các huyện với tổng diện tích
113,3 ha; có 2 khu công nghiệp đi vào hoạt động và thu hút đầu tư 42 dự án trong
và ngoài nước với tổng vốn đầu tư 12868 triệu USD; 35 dự án đầu tư trong nước
với tổng vốn đầu tư hơn 1950 tỷ đồng.
Ngành nông – ngư – lâm nghiệp: Tổng giá trị sản xuất toàn ngành đạt tốc độ
tăng trưởng bình quân là 5,08%, cao hơn mức bình quân cả nước và vùng. Trong
đó ngành nông nghiệp đạt tố độ tăng trưởng bình quân 3,26%/năm; cơ cấu cây
trồng và mùa vụ chuyển dịch đúng hướng và đã hình thành nên các vùng chuyên
canh cây công nghiệp. Diện tích đất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh đạt khoảng 196
nghìn ha, chiếm 11,9% diện tích đất tự nhiên, trong đó diện tích đất đưa vào khai
thác sử dụng sản xuất nông nghiệp, trồng cây công nghiệp ngắn ngày, dài ngày và
cây ăn quả là 20 – 30 nghìn ha; tổng sản lượng lương thực cây có hạt tăng nhanh
theo từng năm, bình quân lương thuạc trên đầu người đạt 363 kg/người; tổng diện
tích cây lúa vẫn ổn định ở mức 18,5 – 18,7 vạn ha, năng suất trung bình năm đạt
48,3 – 50 tạ.
Ngành chăn nuôi đạt tốc độ phát triển nhanh về số lượng và đàn, tỷ trọng giá
trị sản xuất của chăn nuôi trong tổng giá trị sản xuất trong nông nghiệp năm 2005
đạt 31,61%.
Tốc độ che phủ rừng nhanh, công tác giao đất và khoán rừng ngày càng phát
huy có hiệu quả; tỷ lệ che phủ rừng đạt từ 47 – 52%.
Thuỷ sản có giá trị sản xuất tăng bình quân hàng năm 10,%/năm, vượt kế
hoạch đề ra. Phong trào nuôi trồng thuỷ sản phát triển rộng, chế biên thuỷ sản theo
hướng đa dạng sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường.
Ngành dịch vụ và các sản phẩm dịch vụ: Khối ngành dịch vụ có mức tăng
26
Mật độ dân số trung bình: 188 người /km
2
Về dân cư, dân tộc: Nghệ An có 20 đơn vị hành chính gồm TP. Vinh, 02 thị
xã và 17 huyện. Dân số Nghệ An là 3.003.170 người, tỷ lệ tăng dân số là 1,2%; số
người trong độ tuổi lao động là 1.734.230 người (chiếm 59% dân số) trong đó lao
động thành thị là 192.009 người và lao động ở nông thôn là 1.190.345 người. Mật
độ dân cư phân phối không đồng đều, tại thành phố Vinh có mật độ cao nhất là
3439 người/km
2
, huyện Tương Dương có mật độ thấp nhất là 26người/km
2
. Về cơ
cấu dân số, dân cư nông thôn chiếm 85%, khu vực đô thị chiếm khoảng 15%; có
06 dân tộc như: Kinh, Thái, H’mông, Thổ, Khơ Mú, Ơ Đu… Mỗi dân tộc có những
đặc điểm riêng về nét sinh hoạt văn hoá độc đáo, các dân tộc còn lưu giữ được
nhiều giá trị văn hoá, phong tục tập quán và lễ hội quý hiếm.
Giáo dục và đào tạo: Nghệ An là tỉnh đạt nhiều thành tích trong giáo dục đào
tạo. Hệ thống mạng lưới trường học đáp ứng tốt cho nhu cầu học tập của nhân dân,
quy mô các cấp học, ngành học phát triển ở tất cả các vùng, chất lượng giáo dục
toàn diện. Hàng năm số lượng học sinh tốt nghiệp, học sinh vào đại học, học sinh
giỏi quốc gia ngày càng tăng. Là một tỉnh được công nhận phổ cập giáo dục tiểu
học và xoá mù chữ theo tiêu chuẩn quốc gia năm1998, năm 2005 được công nhận
phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi. Mức độ xã hội hoá giáo dục tăng nhanh, hệ
thống giáo dụcngoài công lập phát triển mạnh. Công tác đầu tư cho giáo dục tăng
đều theo hàng năm.
Văn hoá, thể thao: Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá,
xây dựng thiết chế văn hoá, thông tin, thể thao đồng bộ được đẩy mạnh. Có 32%
làng bản, khối xóm đạt tiêu chuẩn làng văn hoá, 75% gia đình được công nhận là
xã hội được triển khai có hiệu quả.