ii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết 1
2. Phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2
3. Mục tiêu và nội dung nghiên cứu 2
4. Nhiệm vụ nghiên cứu và cấu trúc luận văn 3
Chương 1 4
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN ĐỊA
MẠO TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH 4
1.1. Cơ sở lý luận của nghiên cứu tài nguyên địa mạo trong phát triển du lịch
4
1.1.1. Các khái niệm 4
1.1.2. Tài nguyên địa mạo trong phát triển du lịch 11
1.1.3. Quy trình thực hiện và các tiêu chí đánh giá tài nguyên địa mạo 12
1.2. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 24
1.2.1. Cách tiếp cận hệ thống 24
1.2.2. Các phương pháp nghiên cứu 25
1.3. Tổng quan về lịch sử nghiên cứu 26
1.3.1. Nghiên cứu địa mạo bờ biển trên Thế giới 26
1.3.2. Nghiên cứu địa mạo bờ biển Việt Nam và vùng nghiên cứu 27
Chương 2 29
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA MẠO DẢI VEN BIỂN TỈNH BÌNH THUẬN 29
2.1. Vị trí địa lý và điều kiện kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu 29
2.1.1. Vị trí địa lý 29
2.1.2. Đặc điểm kinh tế-xã hội 29
2.2. Các nhân tố thành tạo địa hình bờ biển tỉnh Bình Thuận 33
2.2.1. Các nhân tố địa chất thạch học 33
2.2.2. Địa hìnhkhu vực nghiên cứu 36
3.4.1. Một số tai biến liên quan đến hoạt động của tự nhiên 93
3.4.2.Tai biến liên quan với hoạt động của con người 96
3.5. Đề xuất phương án bảo tồn các di chỉ địa mạo 104
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO 108
iv
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Tiêu chí và các chỉ tiêu đánh giá lựa chọn một di chỉ địa mạo 18
Bảng 1.2: Các đặc trưng, tiêu chí và điểm cho đánh giá giá trị các di chỉ địa mạo 19
Bảng 1.3: Các đặc trưng và tiêu chí chứng minh giá trị du lịch của cùng một kiểu di
chỉ địa mạo 22
Bảng 2.1: Lượng mưa trung bình tháng và năm tại trạm khí tượng của Bình Thuận
(mm) 38
Bảng 2.2: Đặc trưng hình thái các sông tỉnh Bình Thuận 41
Bảng 3.1: Tài nguyên địa mạo dải ven biển tỉnh Bình Thuận 61
Bảng 3.2: Các loại tài nguyên du lịch biển và điều kiện tự nhiên liên quan tới chúng
72
Bảng 3.3: Danh mục các bãi biển có khả năng khai thác du lịch bờ biển tỉnh Bình
Thuận 73
Bảng 3.4: Tiêu chí để lựa chọn các di chỉ địa mạo 79
Bảng 3.5: Các đặc trưng, tiêu chí và điểm cho đánh giá giá trị các di chỉ địa mạo 80
Bảng 3.6: Các đặc trưng và tiêu chí chứng minh giá trị du lịch của các di chỉ địa
mạo 87
Bảng 3.7: Các điểm tham quan du lịch theo từng loại hình 89
Ảnh2.1: Sườn bóc mòn tổng hợp-đổ lở ở phần trên và tích tụ ở phần dưới theo cơ
chế pediment hóa 47
Ảnh2.2: Vách, sườn và đáy bồn thu thủy phát triển trên khối cát đỏPhan Thiết ở 3
giai đoạn 49
Ảnh2.3: Lòng sông và bãi bồi hiện đại trên sông Cái,các khe rãnh xâm thực và dạng
carư giả phát triển trên trầm tích hệ tầng Phan Thiết 50
Ảnh2.4:Thung lũng Suối Tiên được mở rộng ở thượng lưu và thu hẹp ở hạ lưu quan
sát được trên ảnh vệ tinh 51
Ảnh 2.5: Các cồn cát đang di chuyển ở khu vực Bàu Trắng và ở khu vực Đồi Hồng,
phường Mũi Né 52
Ảnh 2.6:Các thế hệ cồn cát phôi thai đang di động ở sát bãi biển và phía xa là các
thế hệ cồn cát đã ngừng di động có trắc diện bất đối xứng khá rõ ở khu vực phía bắc
mũi Kê Gà 53
Ảnh2.7:Bề mặt tích tụ nguồn gốc biển (đầm phá) cải tạo làm đầm nuôi hải sản ở
Hàm Tân 53
Ảnh 2.8:Bề mặt mài mòn-tích tụ cao 15-20 mét phát triển trên đá granit ở khu vực
mũi Kê Gà 55
Ảnh 2.9: Bề mặt mài mòn tích tụ cao trên 30 mét ở khu vực tây-nam Chùa Hang . 56
Ảnh 2.10: Bãi biển đang bị xói lở ở phần trong và tích tụ ở phần ngoài quan sát
được tại đoạn bờ phía bắc thôn Hồng Thắng, xã Hòa Thắng, Bắc bình.Bãi đang bị
xói lở ở Đức Long, Bình Thuận 57
Ảnh 3.8:Đảo hòn Bà với ngọn hải đăng nổi tiếng và lầu Ông Hoàng mang ý nghĩa
văn hóa cao 70
Ảnh3.9: Các thành tạo mài mòn do sóng ở lân cận chùa Cổ Thạch 71
Ảnh 3.10: Bãi tắm Hòn Rơm và cồn cát đang di động 72
Ảnh 3.11: Lướt ván nhờ sức diều (kiteboarding) ở Mũi Né 74
Ảnh 3.12: Khai thác titan ở ven biển tỉnh Bình Thuận 75
Ảnh 3.13: Các cồn cát có màu khác nhau đang di động 75
Ảnh 3.14:“Karst giả” do mài mòn phát triển trên đá granit ở mũi Kê Gà và ở Suối
Tiên 76
Ảnh 3.15: Xói lở liên tục phá hủy nhà cửa ở phương Đức Long, thành phố Phan
Thiết từ năm 2008 và năm 2012 94
Ảnh3.16: Dấu tích khối vật liệu tích tụ do dòng bùn-cát xảy ra năm 1996 ở thôn
Hồng Chính (Thiện Ái), thuộc xã Hoà Thắng, Bắc Bình 95
Ảnh3.17: Các cồn cát đang di chuyển về phía Bàu Trắng 96
Ảnh 3.18: Bãi cuội bảy màu đang bị ô nhiễm do du lịch 97
Ảnh 3.19: Toàn cảnh khu đồi trọc khai thác titan 100
Ảnh 3.20: Công trường khai thác titan gây ô nhiễm môi trường 101
Thạch, dinh Thầy Thím.v.v…Bên cạnh giá trị cho phát triển du lịch thì các tài
nguyên địa hình dải ven biển tỉnh Bình Thuận cũng tiềm ẩn các giá trị kinh tế khác,
như trong khối cao nguyên cát đỏ là trữ lượng titan lớn, ước tính đến 558 triệu
tấn(trong báo cáo đề án Điều tra, đánh giá tiềm năng sa khoáng titan - zircon trong
tầng cát đỏ Ninh Thuận, Bình Thuận và bắc Bà Rịa-Vũng Tàu của Bộ Tài nguyên
Môi trường do liên đoàn địa chất Trung Trung bộ thực hiện,14/1/2011 ), tuy nhiên
nếu khai thác titan thì chúng ta sẽ mất đi các tài nguyên địa mạo đang sử dụng cho
phát triển du lịch. Thậm trí trong quá trình sử dụng vùng cát còn nhiều vấn đề bất
2
cập vì đây là nơi xẩy ra các quá trình tương tác giữa đất liền, sông, biểncũng như
nơi hứng chịu nhiều tai biến thiên nhiên như bão, lốc, nước biển dâng, cát di động,
cát bay, cát nhảy, xói lở bờ biển, ngập lụt… Do đó việc khai thác, sử dụng các tài
nguyên địa mạo còn rất nhiều vấn đề cần quan tâm. Thực tế đặt ra yêu cầu cấp thiết
đối với công tác nghiên cứu là đánh giá tổng hợp các giá trị tài nguyên địa mạotìm
ra thế mạnh của tỉnh để có quy hoạch tổng thể cho phát triển kinh tế nói chung cũng
như du lịch nói riêng và cân nhắc hài hòa giữa phát triển kinh tế-xã hội-môi
trường.Chính vì vậy học viên lựa chọn hướng nghiên cứu:“Đánh giá tài nguyên địa
mạo dải ven biển tỉnh Bình Thuận phục vụ phát triển du lịch”.
2. Phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Phạm vi nghiên cứu
Về mặt không gian: Không gian nghiên cứu trong khuôn khổ luận văn là dải
địa hình ven biển tỉnh Bình Thuậntính từ bờ biển vào đất liền 5km. Do quá trình
khảo sát thực địa cũng như cơ sở tài liệu học viên thu thập được về các di chỉ địa
mạo đều nằm phạm vi nghiên cứu đó.
Về mặt khoa học: Phân tích đánh giá tài nguyên địa mạo, tập trung cho các di
chỉ địa mạo nổi bật trên dải ven biển tỉnh Bình Thuận phục vụ phát triển du lịch.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Làm rõ được đặc điểm thành tạo, đặc điểm địa hình của các di chỉ địa mạo và
- Lập sơ đồ định hướng phát triển du lịch dải ven biển tỉnh Bình Thuận trên cơ
sở các di chỉ địa mạo.
- Tổng hợp tài liệu và viết báo cáo.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn có 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu tài nguyên địa mạo
trong phát triển du lịch.
- Chương 2: Đặc điểm địa mạo dải ven biển tỉnh Bình Thuận.
- Chương 3: Đánh giá tài nguyên địa mạo dải ven biển tỉnh Bình Thuận phục
vụ phát triển du lịch.
4
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN ĐỊA
MẠO TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH
1.1. Cơ sở lý luận của nghiên cứu tài nguyên địa mạo trong phát triển du lịch
1.1.1. Các khái niệm
- Địa mạo học
Thuật ngữĐịa mạo học đã được đưa vào văn liệu các khoa học về Trái Đất từ
cuối thế kỷ XIX. Từ một khái niệm, đến nay địa mạo học đã trở thành một khoa học
trong đại gia đình các Khoa học Trái Đất, cũng giống như địa hóa học, địa vật lý,
thủy văn học, địa chất học…Tuy nhiên nền tảng của khoa học địa mạo đã có từ rất
lâu đời, Herodotus (485?-425 Tr.CN)đã từng nói “Ai Cập có món quà của dòng
sông” còn giữa thế kỷ XVIII, J. Hotton đã quan niệm rằng “Hiện tại là chìa khóa
đối với quá khứ” Địa mạo học ngày càng phát triển cả về cơ sở lý thuyết cũng như
ý nghĩa thực tiễn
[14]
.
Theođịnh nghĩa địa mạo học trước đây: “địa mạo học là một bộ môn khoa học
nghiên cứu địa hình bề mặt trái đất về các mặt hình thái, nguồn gốc phát sinh, lịch
tăng tùy thuộc vào sự phát triển của xã hội loài người. Theo trình độ sử dụng các
công cụ sản xuất, lịch sử loài người được chia thành các thời đại như sau: Thời đại
đồ đá, thời đại kim khí, thời kỳ trung đại và thời kỳ hiện đại (hình 1.1
[30]
). Còn theo
hình thức phát triển kinh tế, người ta chia ra làm 4 thời kỳ: thời kỳ săn bắt và hái
lượm, thời kỳ nông nghiệp, thời kỳ công nghiệp và thời kỳ nguyên tử
[36]
. Việc phân
chia ra các thời kỳ như vậy không chỉ nói lên trình độ phát triển kinh tế-xã hội, mà
còn cho thấy mức độ tác động vào môi trường tự nhiên của con người.
Hình 1.1: Sự tăng dân số trong nửa triệu năm qua và các nền văn hóa tương ứng
[30]6
Trong suốt tiến trình phát triển, con người sử dụng địa hình phục vụ cho cuộc
sống của mình.Ngay trong thời kỳ sơ khai của xã hội loài người, khi con người mới
xuất hiện, họ đã chọn các hang động làm nơi sinh sống. Như vậy, ngay từ thủa sơ
khai ban đầu ấy, hang động-một dạng địa hình đã được sử dụng để phục vụ cho nhu
cầu về nơi ở của con người. Dần dần, cùng với sự phát triển của xã hội, việc sử
dụng địa hình phục vụ cho các nhu cầu của cuộc sống, cho các hoạt động sản xuất
và sinh hoạt ngày càng phát triển. Con người sử dụng các dạng địa hình khác nhau
để xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng (đường giao thông, công trình thủy điện,
đập ngăn lũ…), trong sản xuất (địa hình đồng bằng để trồng lương thực, địa hình
đồi thấp trồng cây ăn quả, và cây công nghiệp ngắn ngày…). Đến nay, địa hình
được sử dụng trong mọi lịnh vực như sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thủ công
nghiệp, thủy điện, thông tin liên lạc, giao thông vận tải, thể thao, du lich, giải trí….
biển có thể thu được giá trị và được xem là tài nguyên địa mạo khi được sử dụng
cho các khu nghỉ dưỡng ven biển.
Cũng theo tác giả trên, địa hình và các quá trình địa mạo đều được coi là tài sản
nếu chúng có giá trị. Từ những giá trị này, nếu được sử dụng thì chúng sẽ trở thành
tài nguyên thiên nhiên (hình 1.2). Các thuộc tính mà có thể cho giá trị đối với tài
sản, rồi trở thành tài nguyên địa mạo bao gồm: khoa học, văn hóa, kinh tế-xã hội và
phong cảnh.
Nguyên liệu thô địa mạo
nếu có giá trị
→ Tài sản địa mạo
nếu được sử dụng
→ Tàinguyên địa mạo
Địa hình
nếu có giá trị
→ Tài sản địa hình
nếu được sử dụng
→ Tài nguyên địa hình
Hình 1.2: Mối quan hệ giữa địa mạo, địa hình, tài sản và tài nguyên
[35]
- Di chỉ địa mạo (geomorphosite)
Theo Gay, 2004 đa dạng địa học “sự đa dạng tự nhiên về các đặc điểm địa chất
(đá, khoáng vật và hóa thạch), địa mạo (địa hình và các quá trình, v.v) và thổ
nhưỡng. Nó bao gồm các tập hợp, các mối quan hệ, các tính chất, những luận giải
và các hệ thống của chúng” . Đa dạng địa học ra đời từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ
XX, phục vụ cho việc công nhận các di sản địa học (Geoheritage) trên cơ sở công
ước về những điều tốt đẹp của trái đất (Declaration of the Earth
,
s Rights) năm 1994,
thành lập mạng lưới công viên địa học Châu Âu (Europea Geoparks Network) năm
2000 và sáng kiến về công viên địa học (Initiative on Geoparks) được UNESCO
Panizza cũng đã đưa ra định nghĩa về di chỉ địa mạo như sau: “Di chỉ địa mạo
bao gồm các thành tạo địa hình và quá trình phát sinh dạng địa hình nào đó có
những đặc điểm tạo nên một điểm đến du lịch. Di chỉ địa mạo mang các giá trị khoa
9
học, văn hóa/lịch sử, thẩm mỹ và/hoặc xã hội/kinh tế do nhận thức hoặc khai thác
của con người”.
Các nhà khoa học đã phân chia di chỉ địa mạo thành 2 loại: di chỉ địa mạo tích
cực cho phép nhìn thấy được các quá trình địa mạo đang hoạt động (thung lũng
sông, bãi biển, ) và di chỉ địa mạo thụ động biểu lộ các quá trình trước đây được
xem là di sản đặc biệt về ký ức của Trái đất. Chúng là công cụ đắc lực phục vụ cho
phát triển du lịch.
- Tai biến địa mạo (geomorphological hazard)
Có thể được định nghĩa như là “khả năng có thể xảy ra một hiện tượng bất ổn
định địa mạo nào đó và với độ lớn đã cho trong một lãnh thổ nào đó trong khoảng
thời gian đã cho”. Chẳng hạn, tại một khu vực bất kỳ, khả năng trượt đất chắc chắn
xảy ra sau 50 năm phải được đánh giá.
Thực tế, hiện nay ở Việt Nam, khái niệm tài nguyên địa hình hay tài nguyên địa
mạo còn rất xa lạ đối với nhiều người, thậm chí cả những nhà khoa học trong hệ
thống các khoa học về Trái đất. Do đó, gần đây khi nghiên cứu vấn đề này, nhiều
người đã ngộ nhận và xếp nó vào kỳ quan địa chất
[18,19]
, hay di sản địa chất
[9]
. Tuy
nhiên, trước khi là kỳ quan hay di sản, thì nó phải là tài nguyên cho con người sử
dụng vào các mục đích cuộc sống khác nhau của mình. Còn vấn đề kỳ quan hay di
sản cần phải được đánh giá và được cơ quan có thẩm quyền công nhận. Khi đã được
công nhận là kỳ quan hay di sản, thì công tác bảo vệ và bảo tồn được đặt lên hàng
nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn hóa dân tộc, từ đó
góp phần làm tăng thêm tình yêu đất nước, đối với nước ngoài là tình hữu nghị với
dân tộc mình, về mặt kinh tế du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất
lớn có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tại chỗ
[25]
.
+ Tài nguyên phục vụ phát triển du lịch
Du lịch là một ngành kinh tế và được định hướng theo tài nguyên. Theo Pháp
lệnh Du lịch Việt Nam (1999), tài nguyên phục vụ cho du lịch được hiểu là “cảnh
quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị nhân văn, công trình lao
động sáng tạo của con người có thể sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu du lịch, các
yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch, nhằm tạo sự hấp dẫn du
lịch”.Như vậy, thực chất tài nguyên phục vụ du lịch là các điều kiện tự nhiên, các
đối tượng văn hóa – lịch sử đã bị biến đổi ở mức độ nhất định dưới tác động của
nhu cầu xã hội. Theo tính chất của các loại hình du lịch người ta tài nguyên phục vụ
du lịch thành 3 nhóm tài nguyên:
- Nhóm tài nguyên phục vụ tham quan thiên nhiên và di tích lịch sử
- Nhóm tài nguyên phục vụ tham quan và nghiên cứu khoa học
11
- Nhóm tài nguyên phục vụ nghỉ dưỡng, an dưỡng, giải trí, thể thao
- Nhóm tài nguyên phục vụ du lịch thể thao mạo hiểm
1.1.2. Tài nguyên địa mạo trong phát triển du lịch
Tài nguyên phục vụ du lịch được chia thành hai bộ phận: tài nguyên thiên nhiên
và tài nguyên nhân văn. Tài nguyên nhân văn bao gồm các di tích lịch sử, công trình
xây dựng văn hóa, lễ hội, phong tục tập quán, làng nghề, ẩm thực Tài nguyên
thiên nhiên là những yếu tố thành phần của các điều kiện tự nhiên có thể đáp ứng
một mặt nào đó nhu cầu du lịch của xã hội và có khả năng sử dụng trực tiếp vào
mục đích du lịch, đó chính là các cảnh quan – phong cảnh.
ảnh hưởng đến sự phát triển của nó, giúp cho việc xây dựng các yếu tố hợp thành về
cơ sở hạ tầng du lịch, trong khi du lịch có tác động đến địa hình, cả thông qua khả
năng thuận lợi của nó, cũng như các sắp xếp của người thực hành các hoạt động có
liên quan.
Khi phân tích cấu trúc tài nguyên phục vụ du lịch, cần lưu ý rằng, trong số
các yếu tố môi trường, địa hình có trọng số quan trọng nhất, thường được phân loại
tài nguyên hấp dẫn hàng đầu. Vị trí thứ nhất này được trao cho bởi nhiều dạng địa
hình có giá trị hấp dẫn đặc biệt: vách dứng, dãy núi, các dạng địa hình băng hà, hẻm
vực, hang động, nón và miệng núi lửa, v.v. Các yếu tố này có thể tạo ra và phát triển
các hiện tượng du lịch ở một vùng nào đó.
Cuối cùng, địa hình cung cấp cơ sở vật lý cho du lịch, trên đó cơ sở hạ tầng
du lịch, khả năng nghỉ ngơi, nhà hàng và đường đi lại được xây dựng. Mặt khác, địa
hình cũng có thể hoạt động như là một nhân tố giới hạn, ngăn cản phát triển một vài
tính hấp dẫn du lịch (các vị trí có trượt đất, xói lở gia tăng, sự di chuyển của cát…)
1.1.3. Quy trình thực hiện và các tiêu chí đánh giá tài nguyên địa mạo
- Quy trình thực hiện và cơ sở tài liệu
a) Quy trình thực hiện
Luận văn được thực hiện theo quy trình hình 1.4
[44]
. Từ các bước thu thập tài
liệu, điều vẽ ảnh kết hợp với bản đồ địa hình tỷ lệ 1:50.000 cho đến việc đi khảo sát
tuyến thực địa trên dải ven biển tỉnh Bình Thuận sau đó đó xử lý số liệu và thực
13
hiệnthành lập bản đồ địa mạo. Từ bản đồ địa mạo theo Panizza
[35]
,tác giả đánh giá
địa hình và các quá trình địa mạo trở thành tài nguyên thông qua 4 chỉ tiêu: khoa
học, văn hóa, kinh tế-xã hội và phong cảnh. Từ các tài nguyên địa mạo đó tác giả
quản lý môi trường đới bờ biển các tỉnh cực Nam Trung Bộ - Đông Nam Bộ”.
Đề tài đã cung cấp dữ liệu cũng như tạo điều kiện cho học viên thực địa khảo
sát thực địa tại vùng nghiên cứu.
Ngoài ra trong quá trình thực hiện luận văn học viên cũng sử dụng các kết
quả có liên quan tới nội dung nghiên cứu đã được nhiều nhà khoa học công bố trong
cả nước. Bản đồ địa chất 1/200.000 và bản đồ địa hình 1/50.000 VN2000 năm 2004
của vùng nghiên cứu.
- Các tiêu chí đánh giá tài nguyên địa mạo
Nếu chia tài nguyên phục vụ phát triển du lịch thành 2 loại cơ bản là tự nhiên và
nhân văn, thì địa hình và các quá trình địa mạo là nguồn tài nguyên thiên nhiên phát
sinh ra điểm và tuyến du lịch. Do đó, để tìm được một điểm du lịch, điều quan tâm
trước hết là xem xét giá trị thẩm mỹ của địa hình và các quá trình địa mạo xem tính
hấp dẫn của nó…
Mặt khác, do tính hấp dẫn của địa hình và các quá trình địa mạo và vốn văn hóa
tâm linh, thì tại đó có thể được bổ sung thêm cà tài nguyên nhân văn. Ví dụ, đỉnh
núi Ba Vì, về tự nhiên, là một đỉnh núi đẹp với 3 ngọn cao vọt lên trên một phông
chung, nên có sức hấp dẫn về thẩm mỹ. Từ đó được tâm linh hóa thành Núi Thánh
Tản-một trong “Tứ bất tử” của Việt Nam. Sau này được bổ sung thêm Đền Thượng.
Theo Panizza các tiêu chí có thể cho giá trị đối với địa hình để trở thành tài
nguyên địa mạo được liệt kê dưới đây
[35]
.
15
-Giá trị khoa học
- Giá trị văn hóa
- Giá trị kinh tế-xã hội
- Giá trị về phong cảnh/cảnh vật
a) Giá trị khoa học
thuật hoặc thuộc truyền thống văn hóa, ví dụ như: các cảnh quan đã được vẽ bởi
danh họa Venetian vào thế kỷ XVI, hoặc núi Olimpơ, nơi ở của các vị thần ngoại giao.
Một tài nguyên địa mạo cũng có thể thu được giá trị kinh tế-xã hội, nếu nó
có thể được sử dụng cho mục đích du lịch hoặc thể thao, ví dụ như thung lũng Alpơ,
một lối mòn cho đi bộ và tham quan Tự nhiên, hoặc một bức tường đá được trang bị
cho leo núi.
Một yếu tố phong cảnh cũng có thể là tài nguyên địa mạo cả ở cảm giác
ngoạn mục, lẫn vì sự hấp dẫn của nó là một sự thu hút, mà có thể làm cho nó dễ
dàng hơn đối với con người tiếp cận các vấn đề môi trường và làm tăng hiểu biết và
nhận thức của họ.
Từ những quan sát ở trên, có thể suy ra rằng, tài nguyên địa mạo có thể hoặc là
địa hình hoặc là nguyên liệu thô, hoặc thậm chí cả hai.
c) Giá trị về phong cảnh/cảnh vật
Chỉ tiêu phong cảnh/thẩm mỹ có phạm vi rất rộng về bản chất trực giác. Trong
trường hợp này, cách tiếp cận với Tự nhiên tùy thuộc vào cách thưởng ngoạn nó và
tâm trí của con người tại thời điểm đó. Nó được xuất phát từ những cảm giác do nhận
thức cá nhân mang tính chủ quan cao, do đó, khó mà đánh giá và so sánh với những
cảm giác và nhận thức của những người khác nhau.
d) Giá trị kinh tế-xã hội
Tiếp cận địa mạo dựa trên cơ sở kiến thức khoa học về tài nguyên thiên
nhiên, nhận thức về các quy luật điều chỉnh sự tiến hóa của nó và nhận thức về tầm
quan trọng của nó đối với loài người. Bởi thế, đây là nhiệm vụ có thể chỉ được thực
hiện bởi những nhà địa mạo được đào tạo cẩn thận-những người có thể nhận ra và
đánh giá một cách chính xác các thuộc tính này.
17
Địa hình trở thành tài nguyên địa mạo chỉ khi nó có những hàm ý xã hội,
nghĩa là chỉ khi các tham số khác, các tham số khách quan, bắt đầu hoạt động để
đầu tư cho nó có giá trị (Panizza & Piacente, 1993) (hình 1.5).
[32]
Bảng 1.1: Tiêu chí và các chỉ tiêu đánh giá lựa chọn một di chỉ địa mạo
[32]
Các đặc trưng Chỉ tiêu Điểm
Địa mạo
Chung 0
Kỳ dị 1
Độc đáo 2
Tần suất
Cao ở địa phương 0
Hiếm ở địa phương 1
Hiếm ở vùng lớn 2
Quan hệ với các di chỉ địa học
Hỗ trợ 1
Liên kết 2
Có thể đến
được
Phươngtiện
thông tin
Thiếu
- Trong khu vực
- Ngoài khu vực
0
Không hiện đại
- Trong khu vực
- Ngoài khu vực
0,5
Hiện đại
- Trong khu vực
- Ngoài khu vực
Đặc trưng Tiêu chí đánh giá
Mức độ dánh giá thông qua
điểm (0-2)
Nguyên thủy
Vị trí
không gian
Tính hấp dẫn Yếu (0,5) TB (1,0) Mạnh (2)
Khả năng nhìn thấy <100 m (0,5)
100-1000m
(1)
>1000 m (2)
Kích thước
Diện tích <5m
2
(0,5) <50 m
2
(1) >50 m
2
(2)
Dài hoặc cao <100 m (0,5)
100-500 m
(1)
>500 m (2)
Ép buộc trong tập hợp cảnh
quan thông qua hình dạng và
màu sắc
Yếu (0,5) TB (1,0) Mạnh (2)
Nguyên thủy
Khoa học