ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
THÈN THỊ LIÊN
NGHIÊN CỨU, KHAI THÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA
CỦA NGƯỜI DAO Ở TỈNH PHÚ THỌ PHỤC VỤ
PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Việt Nam học
Hà Nội - 2019
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
THÈN THỊ LIÊN
NGHIÊN CỨU, KHAI THÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA
CỦA NGƯỜI DAO Ở TỈNH PHÚ THỌ PHỤC VỤ
PHÁT TRIỂN DU LỊCH CỘNG ĐỒNG
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Việt Nam học
Mã số:60220113
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. Phạm Hồng Tung
lý. Việc nghiên cứu, khai thác văn hóa người Dao ở tỉnh Phú Thọ sẽ góp phần làm
cho loại hình du lịch ở địa phương trở nên đa dạng hơn, hấp dẫn hơn, tạo ra lợi thế
1
khu biệt so với các điểm du lịch cộng đồng khác. Tạo điều kiện thúc đẩy ngành du
lịch của tỉnh Phú Thọ nói riêng, trong cả nước nói chung, phát triển tương xứng với
tiềm năng vốn có.
Từ những lí do có tính chất lí luận và thực tiễn như vậy, chúng tôi lựa chọn
đề tài Nghiên cứu, khai thác giá trị văn hóa của người Dao ở tỉnh Phú Thọ phục
vụ phát triển du lịch cộng đồng để thực hiện bản luận văn thạc sĩ của mình thuộc
mã ngành đào tạo Việt Nam học, nhằm góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa của người
Dao, đưa những nét đẹp văn hóa đó đến gần hơn với cộng đồng. Quan trọng và cơ
bản hơn, việc gắn với phát triển du lịch cộng đồng sẽ là luận cứ khoa học để chính
quyền địa phương tham khảo, hoạch định những chính sách để chuyển đổi sinh kế,
cải thiện đời sống của người Dao trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.
2. Lịch sử nghiên c u v n ề
2.1. Lịch sử nghiên cứu về du lịch cộng đồng
Lịch sử nghiên cứu du lịch cộng đồng trên thế giới gắn với các khái niệm về
tài nguyên, tổ chức các đơn vị hành chính, dân cư, dân tộc, nguồn lao động xuất
hiện từ rất sớm vào khoảng thế kỉ XIX gắn liền với sự phát triển củ du lịch hiện đại
từ khoảng những năm 1970 đến nay. Trên thế giới nghiên cứu về du lịch cộng đồng
chia ra làm 2 giai đoạn cụ thể: từ cuối thế kỷ XIX đến thế kỷ XX và giai đoạn từ sau
chiến tranh thế giới thứ 2 đến nay.
Từ cuối thế kỷ XIX đến thế kỷ XX thì du lịch cộng đồng gắn với các dự án
quy hoạch du lịch tại các khu vực có nhiều cảnh đẹp ở vùng núi, vùng biển với
nguồn tài nguyên du lịch phong phú, hấp dẫn. Những người làm du lịch gắng du
lịch với các điểm dân cư nhằm tạo ra sự thúc đẩy, hỗ trợ cho việc thực hiện các dự
án quy hoạch. Ví dụ: các dự án dọc bờ biển Azure (Pháp); dọc bờ biển Riviera
(Italia), Tây Ban Nha, Hy Lạp, Anh… ; các dự án quy hoạch tại vùng núi như: núi
một loại hình du lịch vừa đảm bảo sự bền vững, vừa mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc
trong nghiên cứu và bảo tồn văn hóa.
Ở Việt Nam, du lịch được coi là bắt đầu phát triển khoảng năm 1990, với sự
kiện tổ chức “năm du lịch Việt Nam”. Từ đó đến nay Đảng, Nhà nước và Chính
phủ, các bộ ngành liên quan đã có những văn bản, luật, văn kiện chỉ đạo thực hiện
các chiến lược phát triển, quy hoạch du lịch. Ngày 12/12/1992, Nghị định về việc
3
thành lập Tổng cục Du lịch đã được Thủ tướng Chính phủ ký; ngày 22/12/1993
Chính phủ ra Nghị quyết về việc “Đổi mới quản lí và phát triển ngành du lịch”… có
thể thế bắt đầu từ năm 1992 Đảng, Chính phủ đã xác định được vai trò của ngành du
lịch, là ngành kinh tế mũi nhọn của đấy nước. Năm 1945 Chính phủ đã đưa ra các
kế hoạch quy hoạch phát triển du lịch Việt Nam năm 1995 – 2010. Năm 2000 Pháp
lệnh du lịch được công bố. Từ năm 1995 đến nay du lịch nước ta đã có những bước
đầu đạt được nhiều kết quả tốt. Lượt khách đến với Việt Nam tăng dần theo các
năm. Năm 1990 đón 250.000 lượt khách quốc tế; năm 2011 đón 6 triệu lượt khách
quốc tế, 35 triệu lượt khách nội địa và tạo ra 440.000 việc làm trực tiếp và gần 1
triệu việc làm dán tiếp. Trong thời gian này khoa học du lịch đã thực sự phát triển
và có những đóng góp cho sự phát triển của du lịch nói riêng và nền kinh tế nói
chung. Trong các nghiên cứu khoa học có nhiều nghiên cứu chú trọng tới lợi ý của
cộng đồng địa phương trong đó phải kể đến như: Võ Trí Trung, “Kiến thức bản địa
làm phong phú các giá trị du lịch sinh thái ở Việt Nam”; Lê Văn Lanh và Macnril,
O.J, “Du lịch sinh thái ở Việt Nam đến nay cho việc bảo tồn và sự tham gia của
cộng đồng địa phương”; Lê Văn Lanh, “Các bước chuẩn bị cho sự tham gia của
cộng đồng địa phương vào các dự án du lịch sinh thái ở các khu bảo tồn thiên nhiên
sinh thái và quản lí môi trường du lịch ở các vườn quốc gia Việt Nam”; “Sự tham
gia của cộng đồng và phát triển du lịch – thực trạng và giải pháp” (Kỷ yếu hội thảo
khoa học “Bảo vệ môi trường du lịch với sự tham gia của cộng đồng”, Hà Nội,
2006). Ngoài ra còn rất nhiều nghiên cứu của giảng viên, sinh viên các trường đại
đã được thể chế hóa và triển khai thực hiện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã
hội. Thấm nhuần những tư tưởng và đường lối của Đảng các nhà nghiên cứu đã bắt
tay vào nghiên cứu văn hóa dân tộc thiểu số nhằm giữ gìn, bảo tồn và phát huy các
giá trị văn hóa dân tộc. Người Dao cũng là 1 trong 54 dân tộc anh em sống trên đất
nước Việt Nam. Cho đến nay có nhiều công trình nghiên cứu của nhiều tác giả
nghiên cứu về văn hóa tộc người Dao, trong đó phải kể đến các công trình nghiên
cứu như: GS.TS. Hoàng Nam, “ Tổng quan văn hóa truyền thống các dân tộc Việt
Nam”, Hà Nội, 2001; PGS.TS. Nguyễn Văn Lộc, “Nghiên cứu bảo tồn và phát
triển ngôn ngữ, văn hóa một số dân tộc thiểu số ở miền Bắc”, Thái Nguyên, 2010;
PGS.TS. Trần Thi Việt Trung, PGS.TS. Nguyễn Đức Hạnh, “Văn học dân tộc thiểu
số ơ Việt Nam truyền thống và hiện đại”, Thái Nguyên, 2014; Lý Hành Sơn (1999),
5
Lễ cưới của người Dao Tiền ở Ba Bể (Bắc Cạn), Tạp chí Dân tộc học, số 3 – 1999;
Lý Hành Sơn (2003), Các nghi lễ chủ yếu trong chu kỳ đời người của nhóm Dao
Tiền ở Ba Bể, Bắc Cạn, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội; Trần Hữu Sơn, Trần Thùy
Dương (2009), Sách cổ người Dao - nguồn tư liệu quan trọng tìm hiểu lịch sử tộc
người Dao, Tạp chí Dân tộc học, số 3 – 2009; Lê Ngọc Thắng (2005), Một số vấn
đề về dân tộc và phát triển, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội…. đó là những nghiên
cứu tạo định hướng cho quá trình bảo tồn và phát huy truyền thống người Dao trong
thời kỳ phát triển của đất nước.
2.3. Lịch sử nghiên cứu, khai thác giá trị văn hóa của người Dao phục vụ
phát triển du lịch cộng đồng
Đã có nhiều nghiên cứu giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số phục vụ phát
triển du lịch cộng đồng trong thời gian gần đây, khi văn hóa được coi như một “mỏ
vàng lộ thiên”, đảm bảo tính bền vững cho du lịch. Nhiều nhà nghiên cứu đã đề cập
đến những giải pháp vừa lấy du lịch để thúc đẩy văn hóa, vừa lấy văn hóa làm
nguyên liệu cho du lịch, tuy nhiên ở mỗi khu vực khác nhau lại có những dân tộc
thiểu số khác nhau, nên nghiên cứu du lịch cộng đồng gắn với văn hóa thường mang
i tư ng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là văn hóa của người Dao ở tỉnh Phú Thọ và
việc bảo tồn, khai thác phục vụ những giá trị văn hóa đó để phát triển du lịch cộng
đồng.
4.2. h m vi nghiên cứu
Tỉnh Phú Thọ (tập trung vào 3 huyện có đông
-
người Dao sinh sống là Thanh Sơn, Tân Sơn và Yên Lập).
Tập trung nghiên cứu trong giai đoạn từ năm 2010
đến nay.
-
ộ
Tập trung nghiên cứu, khai thác những đặc trưng văn
hóa của người Dao ở tỉnh Phú Thọ phục vụ phát triển du lịch cộng đồng.
5 Phư ng ph p nghiên c u
5.1. hương pháp nghiên cứu liên ngành
Chọn đối tượng nghiên cứu là văn hóa người Dao – đối tượng thu nạp rất
nhiều giá trị văn hóa – lịch sử, tín ngưỡng – tôn giáo,… việc vận dụng phương pháp
liên ngành mang đến những ưu thế vượt trội. Phương pháp này giúp chúng tôi có
thể kết hợp sử dụng đồng thời, thực sự khách quan và bình đẳng nhiều phương pháp
chuyên ngành để có được những nhận thức toàn diện và tổng thể về văn hóa người
Dao gắn với không gian văn hóa tỉnh Phú Thọ, đồng thời gắn với phát triển du lịch
cộng đồng.
vấn 10 hộ dân người Dao tại Nga Hoàng – Yên Lập, chủ yếu ở đây là Dao quần
chẹt, trong 10 hộ dân có 5 hộ đang kinh doanh du lịch 5 hộ không kinh doanh du
lịch do điều kiện kinh tế còn gặp nhiều khó khăn.
8
5.4. hương pháp chuyên gia
Các chuyên gia ở đây bao gồm đội ngũ các nhà nghiên cứu có kinh nghiệm đối với
các vấn đề liên quan đến đề tài. Qua phỏng vấn, tham khảo ý kiến của các chuyên
gia thuộc những lĩnh vực nghiên cứu khác nhau, tác giả có điều kiện học hỏi thêm
kinh nghiệm, lĩnh hội tri thức và kiểm nghiệm các nhận thức của mình. Các chuyên
gia còn bao gồm cả đội ngũ cán bộ quản lý, nhất là quản lý trực tiếp các di sản văn
hóa trên Đất Tổ. Qua trao đổi, phỏng vấn tác giả có điều kiện để nắm bắt tốt hơn
các vấn đề nảy sinh trong thực tiễn, nhất là các vấn đề liên quan đến giải quyết mối
quan hệ giữa bảo tồn và phát triển, những vấn đề về cơ chế, chính sách và tổ chức
các hoạt động văn hóa tại địa phương.
Trong đó tác giả đã phỏng vấn ông Trần Việt Hùng – Chủ tịch ủy ban nhân
dân huyện Yên Lập để nắm được tình hình kinh tế địa phương, đồng thời tìm hiểu
thêm những chính sách hỗ trợ về kinh tế tại khu vực người Dao sinh sống. Ngoài ra
tác giả cũng phỏng vấn các cán bộ văn hóa, trực tiếp nghiên cứu và thực hiện các
chính sách văn hóa tại khu vực người Dao sinh sống.
Các phương pháp trên được sử dụng kết hợp và linh hoạt trong quá trình
nghiên cứu đối tượng. Bên cạnh đó, tùy vào tính chất của từng vấn đề nghiên cứu
chúng tôi sẽ lựa chọn các phương pháp nghiên cứu hỗ trợ khác.
9
NỘI UNG NGHI N CỨU
đuôi áo của người phụ nữ sẽ biết được người phụ nữ khéo hay không, có đảm đang
hay không. Còn đàn ông Dao, trước đây để tóc dài, búi sau gáy hoặc để chỏm tóc
dài trên đỉnh đầu, xung quanh cạo nhẵn.
Người Dao ở Phú Thọ thuộc 2 nhóm Dao khác nhau là Dao tiền và Dao quần
chẹt, về cơ bản hai nhóm Dao này tương đối giống nhau nhưng đặc điểm về tiếng
10
nói và trang phục là đặc điểm dễ phân biệt nhất. Trang phục nữ giới chính là đặc
điểu để phân biệt giữa hai nhóm này. Phụ nữ Dao quần chẹt đặc điểm là quần họ có
phần gấu bó lại và được trang trí hoa văn, người Dao quần chẹt chỉ mặc quần không
mặc váy. Người Dao tiền có trang sức là họ đeo trang sức là các đồng xu tiền to bản
trước ngực. Về phong tục tập quán 2 nhóm Dao này gần giống nhau.
Mặc dù sống ở khu vực núi và địa bàn riêng biệt, nhưng phương tiện vận
chuyển của đồng bào Dao vẫn có nhiều nét tương đồng với các dân tộc khác về
chủng loại, cách thức chế tác và chức năng sử dụng. Để chuyển hàng họ thường
dùng địu, quẩy tấu (một loại sọt) hay lù cở (giống gùi) có hai quai đeo phía sau, để
lên rừng hái quả hoặc thu hoạch nông sản. Ở những vùng thấp hơn, người Dao
thường dùng đôi dậu để gánh lúa, ngô và những vật dụng khác.
Dù sinh sống ở nhiều vùng miền, nhưng sinh hoạt cộng đồng của đồng bào
dân tộc Dao vẫn mang tính chất khép kín, thể hiện qua phong tục tập quán, qua hôn
nhân. Khi dựng vợ gả chồng cho con cái, đồng bào Dao chỉ mong gả trong cộng
đồng dân tộc mình.
Tục th cúng: Đối với người Dao, việc thờ cúng đặc biệt được chú trọng, vì
vậy các nghi lễ liên quan đến thờ cúng tổ tiên luôn được đồng bào duy trì, thể hiện
với những nghi lễ độc đáo, đặc sắc. Nghi lễ thờ cúng nói chung của người Dao
mang đậm tính nhân văn, hướng con người nhớ đến nguồn cội, xua đuổi cái ác và là
sợi dây liên kết cộng đồng sâu sắc. Trong nghi lễ thờ cúng, người Dao sử dụng
nhiều tranh cúng và mỗi dịp lễ, Tết, lại có những loại tranh cúng riêng; trong đó phổ
biến là bộ tranh Tam Tượng (hay còn gọi là Tam Thanh) và bộ Đại Đường Quân.
vững.
Ngày nay, Du lịch cộng đồng được hiểu là cộng đồng địa phương cùng tham
gia vào hoạt động kinh doanh du lịch mang tính tự phát hoặc có tổ chức tại địa
phương có phân bổ các nguồn tài nguyên du lịch.
Trong trường hợp cộng đồng địa phương tham gia một cách tự phát vào hoạt
động du lịch, hoặc trong trường hợp có tổ chức, song quy hoạch phát triển du lịch
thiếu khoa học, không đúng đắn thì thường cộng đồng địa phương trở thành những
người làm thuê và thu nhập thấp. Sản phẩm du lịch họ cung cấp thường đơn điệu,
chất lượng thấp, quyền lợi của họ bị xâm hại bởi những tổ chức, những công ty từ
nơi khác đến kinh doanh, quản lí nguồn tài nguyên du lịch. Đồng thời tài nguyên,
12
môi trường du lịch và kinh tế xã hội thường có xu hướng bị suy giảm, bị tác động
tiêu cực và kết quả là phát triển du lịch không đáp ứng được nhu cầu hợp lí và giảm
sức hấp dẫn du khách, hiệu quả kinh doanh du lịch thấp, không thực hiện được các
mục tiêu: phát triển du lịch đi đôi với bảo vệ tài nguyên môi trường và phát triển
cộng đồng.
Đến nay đã có một số nhà nghiên cứu cũng như một số tổ chức thế giới đưa
ra các khái niệm và “Du lịch cộng đồng”:
Theo quỹ bảo tồn thiên nhiên thế giới WWF: “Du lịch cộng đồng là loại hình
du lịch mà ở đó cộng đồng địa phương có sự kiểm soát vào sự phát triển và quản lí
hoạt động du lịch và phần lớn lợi nhuận thu được từ hoạt động du lịch được giữ lại
cho cộng đồng”1.
“Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch có sự tham gia trực tiếp của cộng
đồng địa phương nhằm phát triển kinh tế địa phương, đồng thời góp phần bảo tồn
văn hóa, thiên nhiên bền vững, nâng cao nhận thức và tăng cường quyền lực cho
cộng đồng, cộng đồng được chia sẻ lợi ích từ hoạt động du lịch, nhận sự hợp tác, hỗ
trợ của chính quyền địa phương, của chính phủ và từ hoạt động hỗ trợ quốc tế,
nhằm mục đích khai thác bền vững các tiềm năng du lịch tự nhiên và nhân văn tại
lịch, cộng đồng địa phương và việc hưởng lợi ích từ du lịch của cộng đồng địa
phương, khái niệm về Du lịch cộng đồng của WWF, của Nicole Hauler và của
Wolfang Strasdas đã nhấn mạnh phần lớn lợi nhuận từ hoạt động du lịch cộng đồng
được giữ lại cho cộng đồng.
- Tất cả các khái niệm về Du lịch cộng đồng của các tổ chức và các nhà
nghiên cứu nêu ra ở trên mới chú ý đến vai trò của cộng đồng du lịch , thu hút cộng
đồng địa phương tham gia vào du lịch và quyền lợi họ được hưởng từ hoạt động du
lịch, chưa quan tâm tới cộng đồng địa phương trong trong vai trò cầu du lịch, quyền
lợi các đặc điểm của khách du lịch sử dụng trong sản phẩm du lịch của cộng đồng
địa phương4.
Vì vậy, theo Nguyễn Văn “khi nghiên cứu, quy hoạch phát triển du lịch cộng
đồng cần tính đến vai trò của cộng đồng trong tất cả cung và cầu du lịch: “Tính
cộng đồng trong tạo cung du lịch có thể hiểu là sự liên kết nhiều quá trình, hoạt
động du lịch riêng biệt thành quá trình Kinh tế - xã hội, tồn tại, hoạt động và phát
triển liên tục với tư cách là một ngành kinh tế như một hệ thống hữu cơ”. Đó là quá
trình kinh tế khách quan phù hợp với quá trình phát triển cao của lực lượng sản xuất
xã hội trong và ngoài ngành du lịch5”.
Vai trò của cộng đồng dưới góc độ cầu du lịch: “Dưới góc độ cầu du lịch thì
cộng đồng hóa du lịch, du lịch đại chúng là quá trình chuyển đổi nhu cầu du lịch từ
nhu cầu đơn lẻ cao cấp của một số ít người thuộc tầng lớp nhiều tiền trở thành phổ
biến, thiết yếu quảng đại chúng nhân dân”.
4
. Du lịch cộng đồng - Bùi Thị Hải Yến (chủ biên)
. phát triển Du lịch cộng đồng trong bối cảnh kinh tế thị trường - Kỷ yếu hội thảo khoa học “Bảo vệ môi trường du lịch với sự tham gia
của cộng đồng”
5
14
những giải pháp cụ thể như nếu như muốn xem các nghi lễ này người xem phải tuân
15
theo các quy tắc trong nghi lễ, chấp hành nghi lễ như một người dân địa phương.
Ngoài ra có thể sân khấu hóa các nghi thức này, trình diễn thông qua hình thức mô
phỏng, không trình diễn thực, nghệ thuật hóa các hoạt động tín ngưỡng tâm linh
trong lễ mật. Các lễ mật phải được bảo tồn nguyên vẹn mới đảm bảo tính linh
thiêng, đó cũng là cách những người làm du lịch thể hiện sự tôn trọng với cộng
đồng dân cư địa phương.
Mặt khác du lịch cộng đồng được hiểu đùng nghĩa nhất là một quá trình, chứ
không phải một loại hình sản phẩm du lịch đặc biệt. Quá trình này đảm bảo sao cho
các cộng đồng địa phương có thể vừa trực tiếp tham gia vừa có thể trực tiếp quản lí,
quy hoạch và tạo ra những sản phẩm du lịch và những dịch vụ thu hút khách hàng
mang đặc trưng cơ bản của cộng đồng địa phương đó.
1.1.4. Cơ sở đề xuất giải pháp
Những nghiên cứu và tìm hiểu thực tế có thể thấy việc đưa ra những giải
pháp nhằm phát triển du lịch cộng đồng ở Phú Thọ gắn với văn hóa tộc người Dao
cần có những cơ sở khoa học và thực tiễn mang tính quyết định làm định hướng
mới có thể đảm bảo tính khả thi cho đề tài này.
Cơ sở khoa học
Du lịch cộng đồng là một loại hình du lịch mới ở Việt Nam, nó mang lại lợi
ích không chỉ về kinh tế, xã hội cho cộng đồng mà còn góp phần vào công tác bảo
tồn các nét văn hóa bản địa và giữ gìn cảnh quan tự nhiên của vùng. Do đó, các
sáng kiến về du lịch cộng đồng nhằm vào mục tiêu thu hút sự tham gia của người
dân địa phương vào việc vận hành và quản lý các dự án du lịch nhỏ như một
phương tiện mang lại thu nhập thay thế và giảm nghèo cho cộng đồng. Các sáng
kiến còn khuyến khích tôn trọng các truyền thống và văn hóa địa phương cũng như
các di sản thiên nhiên. Du lịch cộng đồng dựa trên sự tò mò, mong muốn của khách
du lịch để tìm hiểu thêm và có được các trải nghiệm về cuộc sống hàng ngày của
của loại hình du lịch này thường rẻ hơn so với các dịch vụ của loại hình du lịch
khác.
Cơ sở pháp lý
Du lịch cộng đồng hiện nay được chú trọng phát triển, với những tiềm năng
về tài nguyên văn hóa, lịch sử, điều kiện cảnh quan, tự nhiên đa dạng. “Nguyên tắc
17
“phát triển du lịch bền vững” đã được xác định từ Luật Du lịch 2015. Theo đó, phát
triển du lịch bền vững là sự phát triển du lịch đáp ứng đồng thời các yêu cầu về kinh
tế - xã hội và môi trường, bảo đảm hài hòa lợi ích của các chủ thể tham gia hoạt
động du lịch, không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch trong
tương lai”6 Đây cũng là một trong những nguyên tắc xuyên suốt của Luật Du lịch
2017, thể hiện dưới những góc độ sau:
Phát triển du lịch đáp ứng đồng thời các yêu cầu về kinh tế - xã hội và môi
trường. Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, mang nội dung văn hóa sâu sắc, có tính
liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao, do vậy Luật Du lịch 2017 đã có nhiều điều
chỉnh nhằm đảm bảo hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực du lịch tuân thủ các quy
luật của thị trường, hạn chế sự can thiệp mang tính hành chính của nhà nước thông
qua việc tôn trọng quyền của các chủ thể trong quan hệ kinh tế (Điều 11, Điều 37,
Điều 47, Điều 53…) , thực hiện xếp hạng cơ sở lưu trú du lịch trên cơ sở đăng ký tự
nguyện của tổ chức, cá nhân (Điều 50); phát triển du lịch phải gắn liền với phát
triển các dịch vụ khác nhằm bảo đảm tính bền vững chung của nền kinh tế (Điều
55). Bên cạnh đó, luật nghiêm cấm các hành vi làm phương hại đến chủ quyền quốc
gia, trật tự, an toàn xã hội và môi trường kinh doanh du lịch (Điều 9), đồng thời quy
định trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong việc bảo vệ môi trường du lịch (Điều
8), giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn xã hội (Điều 6, Điều 9, Điều 13, điểm d khoản 2
Điều 25, điểm d khoản 1 Điều 29, điểm b khoản 1 Điều 49…). Việc lập quy hoạch
về du lịch phải đảm bảo phù hợp với chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế - xã
hội, quốc phòng, an ninh của đất nước; chiến lược phát triển ngành Du lịch và các
dụng hợp lý, hiệu quả tài nguyên du lịch (khoản 2 Điều 20).
Để Luật Du lịch 2017 phát huy hiệu quả, mang lại những tác động tích cực
cho du lịch Việt Nam thì cần có sự tham gia chủ động, tích cực của tất cả các chủ
thể hoạt động trong lĩnh vực du lịch cũng như của các tổ chức, cá nhân và cộng
đồng liên quan. Cụthể:
Cơ quan quản lý nhà nước tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về du lịch,
khẩn trương xây dựng các văn bản quy định chi tiết được luật giao để sớm đưa Luật
Du lịch vào thực tiễn và đề xuất để chỉnh sửa các văn bản pháp luật có liên quan để
tạo điều kiện cho du lịch phát triển; phối hợp với các bộ, ngành, hiệp hội du lịch
Việt Nam và các cơ quan, tổ chức liên quan để triển khai công tác phổ biến, giáo
dục pháp luật về du lịch đến các doanh nghiệp du lịch, người lao động trong lĩnh
19
vực du lịch, khách du lịch và cộng đồng xã hội; thực hiện nghiêm công tác quản lý
nhà nước về du lịch theo quy định của luật.
Sau khi Luật Du lịch 2017 được thông qua, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
đã phối hợp với Bộ Tư pháp để lập danh mục văn bản quy định chi tiết Luật Du
lịch. Dự kiến, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch sẽ được phân công chủ trì xây dựng
các văn bản sau: Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật
Du lịch; Nghị định quy định chi tiết Luật Du lịch về việc lập, quản lý và thực hiện
quy hoạch về du lịch; Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập, phê
duyệt Điều lệ tổ chức và hoạt động của Quỹ hỗ trợ phát triển du lịch; Thông tư của
Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định chi tiết một số điều của Luật
Du lịch. Thời gian hoàn thành trong tháng 10/2017.
Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực du lịch cần chủ động tìm hiểu, cập
nhật Luật Du lịch và các văn bản quy định chi tiết; tự giác tuân thủ pháp luật nói
chung và pháp luật về du lịch nói riêng; đảm bảo đáp ứng, duy trì đầy đủ các điều
kiện kinh doanh và thực hiện nghiêm nghĩa vụ theo quy định của luật.
Người lao động trong lĩnh vực du lịch cần chủ động học tập, rèn luyện, nâng
Trên thế giới, loại hình du lịch cộng đồng được coi là một chiến lược, một
giải pháp mang tính nhân văn sâu sắc, góp phần phát triển kinh tế - xã hội bền vững,
nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng. Trên thế giới du lịch cộng đồng
được phát triển từ rất sớm với các mô hình tiêu biểu ở các quốc gia như:
“Mô hình du lịch cộng đồng ở Mỹ, tại làng da đỏ ở bang Massachusetts,
cộng đồng địa phương trực tiếp tham gia vào các hoạt động trình diễn văn hóa bản
địa, kinh doanh lưu trú tại các gia đình họ cung cấp các dịch vụ ăn uống, hướng dẫn
du lịch, vận chuyển hành khách. Ở đó người dân địa phương được lợi từ du lịch họ
được sống trong các ngôi nhà tiện nghi, còn khách du lịch được tận hưởng cuộc
sống, môi trường văn hóa bản địa trong ngôi làng mô hình truyền thống. Khi có
đoàn thăm quan thì người dân địa phương được báo trước 24 giờ họ sẽ có thời gian
chuẩn bị. Du khách sẽ được trải nghiệm những hoạt động sinh hoạt văn hóa, họ còn
tái hiện lại những cuộc chiến đấu chống quân xâm lược, du khách cũng được chia sẻ
7
/>
21
những cảm nhận của mình, được ăn những món ăn truyền thống của người da đỏ.
Trong đó có cả các hoạt động sinh hoạt sản xuất kinh tế… mặc dù chi phí cho hoạt
động du lịch ở ngôi làng này khá cao nhưng vẫn thu hút khách du lịch vì những trải
nghiệm này mang lại cho họ cảm giác mới lạ”8.
Từ lâu, khái niệm “du lịch cộng đồng” đã được đề cập rộng rãi tại nhiều quốc
gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, cụ thể:
Ở Thái Lan khái niệm Community-Based Tourism - Du lịch dựa vào cộng
đồng được định nghĩa: “du lịch cộng đồng là loại hình du lịch được quản lý và có
bởi chính cộng đồng địa phương, hướng đến mục tiêu bền vững về mặt môi trường,
văn hóa và xã hội. Thông qua du lịch cộng đồng du khách có cơ hội tìm hiểu và
nâng cao nhận thức về lối sống của cộng đồng địa phương” (REST, 1997).
người dân địa phương vào việc vận hành và quản lý các dự án du lịch nhỏ như một
phương tiện giảm nghèo và mang lại thu nhập thay thế cho cộng đồng. Các sáng
kiến của DLCĐ còn khuyến khích tôn trọng các truyền thống và văn hóa địa
phương cũng như các di sản thiên nhiên.”
1.2.2. Phát triển du lịch cộng đồng ở Việt Nam
Ở Việt Nam với 54 dân tộc anh em, mỗi dân tộc có những bản sắc riêng biệt,
ẩn chứa trong đó những đặc điểm mang tính đặc trưng là điều kiện thuận lợi để phát
triển du lịch cộng đồng. Từ khoảng những năm cuối thế kỉ XIX du lịch cộng đồng ở
Việt Nam đã có sự phát triển ban đầu, những nhà nghiên cứu đã hướng tới việc
nghiên cứu về tiềm năng văn hóa của các tộc người, ở các địa phương khác nhau để
phát triển du lịch. Thông qua việc nghiên cứu các mô hình du lịch cộng đồng trên
thê giới để tìm kiếm một mô hình phù hợp, đảm bảo phát huy tối đa tiềm năng du
lịch ở Việt Nam.
Hàng loạt khái niệm về du lịch cộng đồng đã được đề cập. Tác giả Trần Thị
Mai (2005) đã xây dựng nội dung cho khái niệm này như sau: “du lịch cộng đồng là
hoạt động tương hỗ giữa các đối tác liên quan, nhằm mang lại lợi ích về kinh tế cho
cộng đồng dân cư địa phương, bảo vệ được môi trường và mang đến cho du khách
kinh nghiệm mới, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa
phương có dự án.”. Cùng có quan điểm nhấn mạnh vai trò của phương thức phát
triển du lịch cộng đồng trong công tác bảo tồn môi trường tự nhiên và nhân văn, tác
giả Võ Quế (2006) đã nhìn nhận: “Du lịch dựa vào cộng đồng là phương thức phát
triển du lịch trong đó cộng đồng dân cư tổ chức cung cấp các dịch vụ để phát triển
du lịch, đồng thời tham gia bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường, đồng thời
23