1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
– – – – – –
HOÀNG MẠNH THẮNG
KHAI THÁC RUỘNG BẬC THANG KHU VỰC
MÙ CANG CHẢI VÀ VÙNG PHỤ CẬN CHO
PHÁT TRIỂN DU LỊCH
LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH
HÀ NỘI, 2011 2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
– – – – – –
HOÀNG MẠNH THẮNG
KHAI THÁC RUỘNG BẬC THANG KHU VỰC MÙ
1.2.1. Lịch sử hình thành và phát triển du lịch nông thôn 19
1.2.2. Đặc điểm và yêu cầu đối với phát triển du lịch nông thôn 23
1.2.2.1. Đặc điểm của du lịch nông thôn 23
1.2.2.2. Yêu cầu đối với triển đối với du lịch nông thôn 26
1.2.3. Ý nghĩa của việc phát triển du lịch nông thôn 27
1.2.4. Điều kiện để phát triển du lịch nông thôn 28
1.2.4.1. Tài nguyên du lịch nông thôn 28
1.2.4.2. Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật cho phát triển du lịch nông thôn 29
1.2.4.3. Nguồn nhân lực du lịch nông thôn 29
1.2.4.4. Cơ chế chính sách cho phát triển du lịch nông thôn 30
1.3. Kinh nghiệm khai thác du lịch nông thôn trên thế giới và tại Việt Nam 31
1.3.1. Tại Banaue, Ifugao, Philipine 31
1.3.2. Tại Nguyên Dương, Hồng Hà, Trung Quốc 35
1.3.3. Tại Sa Pa, Việt Nam 40
1.3.4. Những kinh nghiệm có thể rút ra từ những bài học trên ………………….40
Chƣơng 2. ĐIỀU KIỆN, THỰC TRẠNG KHAI THÁC RUỘNG
BẬC THANG Ở MÙ CANG CHẢI VÀ PHỤ CẬN TRONG PHÁT
TRIỂN DU LỊCH 45
2.1. Điều kiện phát triển du lịch tại Mù Cang Chải và vùng phụ cận 45
2.1.1. Khái quát chung về điều kiện tự nhiên, dân cư, lịch sử tộc người và văn hóa
tộc người 45
2.1.1.1. Điều kiện tự nhiên, dân cư, lịch sử tộc người và văn hóa tộc người khu vực
Mù Cang Chải 45
2.1.1.2. Điều kiện tự nhiên, dân cư, lịch sử tộc người và văn hóa tộc người vùng
phụ cận (Tú Lệ) 56 4
2.1.2. Hệ thống Ruộng bậc thang Mù Cang Chải và vùng phụ cận 59
3.2.2.8. Xây dựng và thực hiện nghiêm túc các qui định về bảo vệ tài nguyên và
môi trường 122
3.3. Một số kiến nghị 125
3.3.1. Kiến nghị với các cơ quan quản lý trung ương và địa phương 125
3.3.2. Kiến nghị với tỉnh Yên Bái, Sở Văn hoá- Thể thao-Du lịch Yên Bái 127
3.3.3. Kiến nghị với chính quyền địa phương và cộng đồng địa phương 128
3.3.4. Kiến nghị với các công ty du lịch 130
3.3.5. Kiến nghị đối với du khách 130
KẾT LUẬN 131
TÀI LIỆU THAM KHẢO 134
PHỤ LỤC 139 5
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
UBND: Ủy ban Nhân dân
SNV (Nethelands Development Organisation): Tổ chức Phát triển
Hà Lan
QH: Quốc hội
CHXHCNVN: Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
6
DANH MỤC BẢNG BIỂU
STT
Bảng
Nội dung bảng
7
Bảng 2.7
Thực trạng cơ cấu đội ngũ cán bộ, công chức,
viên chức Phòng Văn hoá và Thông tin, Trung
tâm Văn hoá, Thể thao & Du lịch tỉnh Yên Bái
89
8
Bảng 2.8.
Lượng khách du lịch đến Mù Cang Chải trong các
năm 2009, 2010 và 2011
93
9
Bảng 2.9
Doanh thu từ du lịch phân theo các huyện của
tỉnh Yên Bái
94
10
Bảng
2.10
Thực trạng các điểm du lịch của huyện Mù Cang
Chải
95 7
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ruộng bậc thang Tây Bắc nói chung và khu vực Mù Cang Chải
nói riêng không chỉ là nguồn sinh kế cơ bản của đồng bào nơi đây mà
còn là cảnh quan nông nghiệp kỳ vĩ, có tiềm năng lớn cho phát triển du
Su Phì cũng đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là
danh thắng cấp quốc gia.
Ruộng bậc thang Mù Cang Chải và Tú Lệ không chỉ là một danh
thắng có sức hấp dẫn đối với du khách bởi những cảnh quan hùng vĩ
mà ẩn trong đó là những giá trị văn hóa độc đáo của những người sáng
tạo ra chúng. Ngoài ra, những sản vật được canh tác theo hình thức này
không chỉ có vai trò an ninh lương thực cho đồng bào nơi đây mà
chúng có thể trở thành những món ăn đặc sản đối với du khách, trong
đó có thể kể đến gạo nếp Tan Lả của Tú Lệ đã nổi tiếng nhiều năm qua
và đã trở thành món ăn được nhiều du khách rất yêu thích. Khai thác
những vẻ đẹp cảnh quan đầy quyến rũ và kỳ thú của ruộng bậc thang,
những nghi thức, những nét văn hóa tiêu biểu gắn liền với hình thức
canh tác này và những sản vật được tạo ra theo hình thức canh tác đó
của cư dân bản địa cho phát triển du lịch không những làm đa dạng hóa
cho các sản phẩm du lịch của tỉnh Yên Bái, đáp ứng nhu cầu trải
nghiệm của du khách mà còn góp phần vào công cuộc xây dựng nông
thôn mới và giảm nghèo cho người dân bản xứ, đồng thời góp phần vào
việc bảo tồn những giá trị văn hóa và cảnh quan khu vực này.
Thực tế cho thấy, trong mấy năm gần đây đã có một số hãng lữ
hành khai thác các chương trình du lịch bao gồm các điểm đến này, đặc
biệt “Chương trình du lịch về nguồn” trong khuôn khổ hợp tác của ba
tỉnh Phú Thọ, Lào Cai và Yên Bái cũng bao gồm hành trình khám phá
ruộng bậc thang của Mù Cang Chải và Sa Pa. Trong khuôn khổ hợp tác
đó, năm 2010, “Tuần văn hóa, thể thao và du lịch” đã được tổ chức tại
khu danh thắng ruộng bậc thang Mù Cang Chải và đã thu hút nhiều du
khách trong và ngoài nước đến tham quan. Tuy nhiên, việc phát triển
du lịch ở những nơi này hiện nay vẫn trong tình trạng nhỏ lẻ và tự phát, 9
10
- Đề xuất một số giải pháp nhằm khai thác một cách hợp lý giá
trị của ruộng bậc thang khu vực Mù Cang Chải và vùng phụ cận cho
phát triển du lịch.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các tài nguyên du lịch, trong đó tập
trung vào hệ thống ruộng bậc thang tại khu vực Mù Cang Chải và phụ
cận (Tú Lệ) và các nghi thức gắn với loại hình canh tác này; các sản
phẩm du lịch và hình thức du lịch có liên quan.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian nghiên cứu: Không gian nghiên cứu thuộc
địa bàn huyện Mù Cang Chải, tập trung vào các xã có hệ thống ruộng
bậc thang đã được công nhận là danh thắng cấp quốc gia là La Pán Tẩn,
Dế Su Phình, Chế Cu Nhan và địa bàn xã Tú Lệ thuộc huyện Văn
Chấn, tỉnh Yên Bái.
Thời gian nghiên cứu: Thời gian nghiên cứu là giai đoạn 2007 -
2011 kể từ khi Ruộng bậc thang Mù Cang Chải được Bộ Văn hóa, Thể
thao và Du lịch công nhận là danh thắng cấp quốc gia.
Phạm vi tài liệu nghiên cứu: Đề tài sử dụng một số tài liệu về du
lịch, du lịch nông thôn và ruộng bậc thang, trong đó có cả tài liệu tiếng
nước ngoài, các thông tin lựa chọn trên các website và các tạp chí, báo
điện tử có liên quan.
Phạm vi vấn đề nghiên cứu: Đề tài chỉ nghiên cứu trong phạm vi
khai thác di sản văn hóa ruộng bậc thang cho phát triển du lịch nông
thôn. Các hướng nghiên cứu tiếp theo có thể là khai thác cả tài nguyên
tự nhiên và tài nguyên nhân văn khu vực này cho phát triển du lịch
hoặc các loại hình du lịch đặc thù như du lịch nghiên cứu, du lịch khám
phá, du lịch chụp ảnh v.v…
đi này, tác giả đã có cơ hội được tham dự Tuần lễ văn hóa, thể thao và
du lịch tại khu Danh thắng quốc gia ruộng bậc thang Mù Cang Chải
thuộc “Chương trình du lịch về nguồn” trong khuôn khổ hợp tác của ba 12
tỉnh Phú Thọ - Yên Bái – Lào Cai, tham dự các sự kiện văn hóa thể
thao, hành trình tìm hiểu quá trình khai khẩn và canh tác ruộng bậc
thang, lễ hội mừng cơm mới, tham quan hội chợ thương mại v.v Tác
giả cũng gặp gỡ và trao đổi với các ông Tạ Xuân Hiếu – Giám đốc Sở
Văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh Yên Bái; ông Nguyễn Quốc Hoàn –
Trưởng Ban quản lý di tích và danh thắng tỉnh Yên Bái, một số người
dân địa phương và du khách, các nhà báo và các nhà làm truyền hình.
Chuyến đi này đã giúp tác giả có cái nhìn tổng quát về hệ thống ruộng
bậc thang khu vực Mù Cang Chải và vùng phụ cận, tình hình hoạt động
du lịch tại khu vực nghiên cứu cũng như tại Sa Pa, tạo cơ sở cho việc
lập đề cương chi tiết của đề tài nghiên cứu. Chuyến đi thứ hai được tiến
hành vào các ngày từ 29 tháng 4 đến ngày 02 tháng 5 năm 2011 theo
tuyến Hà Nội – Tú Lệ - Mù Cang Chải. Đây là thời điểm mà lúa ở Tú
Lệ đang vào “thì con gái” của vụ chiêm. Còn ở Mù Cang Chải là thời
điểm bắt đầu lấy nước về ruộng để làm đất. Chuyến đi đã đem lại cho
tác giả những nhìn nhận mới về vẻ đẹp của ruộng bậc thang vào mùa
nước đổ, tình hình hoạt động du lịch vào thời điểm này. Trong chuyến
đi này, tác giả cũng đã có các cuộc gặp với ông Sầm Văn Mới – Phó
Chủ tịch UBND xã Tú Lệ, ông Lê Ngọc Minh – Trưởng Phòng văn hóa
thông tin huyện Mù Cang Chải, thu thập thêm các thông tin về cơ sở
lưu trú, nhà hàng, lượng khách và các dịch vụ khác. Chuyến đi thứ ba
được thực hiện vào các ngày 22, 23, 24 tháng 7 năm 2011 cũng theo
tuyến Hà Nội – Tú Lệ - Mù Cang Chải. Thời điểm này lúa ở Mù Cang
Chải đang lên xanh, mang một vẻ đẹp riêng của “thì con gái” hòa cùng
trường hợp ở Nguyên Dương, Trung Quốc – báo cáo được thuyết trình
tại Hội nghị Quốc tế thường niên về nghiên cứu Phát triển bền vững,
Vasteras, Sweden từ ngày 9 – 12 tháng 6 năm 2007 [42]. Công trình
này cho thấy sự kết hợp hài hòa giữa vấn đề bảo tồn các giá trị văn hóa
truyền thống trong đó có di sản văn hóa ruộng bậc thang và phát triển
du lịch tại bản Thanh Khẩu, Nguyên Dương – Trung Quốc và là bài
học quý giá cho phát triển du lịch tại Mù Cang Chải và phụ cận.
Tại Việt nam, đã có một số công trình nghiên cứu nhưng chưa
công trình nào đi sâu vào vấn đề khai thác loại hình cảnh quan nông
nghiệp này phục vụ cho phát triển du lịch, vẫn chủ yếu là các bài viết 14
trên báo giới thiệu về vẻ đẹp của ruộng bậc thang khu vực Tây Bắc chứ
chưa thấy có công trình nghiên cứu chuyên sâu nào liên quan đến việc
khai thác các giá trị của ruộng bậc thang cho phát triển du lịch. Trong
các công trình có đề cập đến vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa
và cảnh quan ruộng bậc thang trong phát triển du lịch có thể kể đến Hồ
sơ di tích khu Danh thắng Ruộng bậc thang Mù Cang Chải của Nguyễn
Kim Lê thuộc Bảo tàng Yên Bái lập năm 2007 [7]. Hiện nay Ban Quản
lý di tích và danh thắng thuộc Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Yên
Bái đang tiến hành lập đề cương quy hoạch Khu danh thắng Ruộng bậc
thang Mù Cang Chải. Bản đề cương đã được trình lên Bộ Văn hóa, Thể
thao và Du lịch để xin ý kiến phê duyệt và triển khai. Ngoài ra, gần đây
có thể kể đến công trình của Nguyễn Trường Giang với tiêu đề “Ruộng
bậc thang ở Việt Nam – Những lợi thế, vấn đề bảo tồn và phát triển bền
vững’, có để cập đến vấn đề khai thác nguồn tài nguyên này cho phát
triển bền vững trong đó có đề cập đến vấn đề khai thác ruộng bậc thang
phục vụ phát triển du lịch [3].
Đối với du lịch nông thôn, có thể nói loại hình du lịch này đã
[57]. Điều này cho thấy du lịch nông thôn đang dần được quan tâm
rộng rãi tại Việt Nam và trong tương lai có thể sẽ trở thành loại hình du
lịch chủ chốt trong công cuộc phát triển nông thôn, nhất là nông thôn
miền núi.
5. Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm ba phần, ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phần
nội dung được chia thành ba chương:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về du lịch và du lịch nông
thôn.
Chƣơng 2: Điều kiện, thực trạng khai thác ruộng bậc thang Mù
Cang Chải và vùng Phụ cận trong phát triển du lịch.
Chƣơng 3: Định hƣớng, giải pháp khai thác ruộng bậc thang ở Mù
Cang Chải và phụ cận phục vụ phát triển du lịch 16
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DU LỊCH VÀ
DU LỊCH NÔNG THÔN
1.1. Một số khái niệm có liên quan
1.1.1. Điểm du lịch
Theo luật du lịch thì điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch
hấp dẫn, phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch. [14, tr.2].
1.1.2. Tuyến du lịch
Theo Luật Du lịch 2005, tuyến du lịch được hiểu là “lộ trình liên
kết các khu du lịch, điểm du lịch, cơ sở cung cấp dịch vụ du lịch, gắn
với các tuyến giao thông đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, đường hàng
không.” [14, tr.2].
1.1.3. Tài nguyên du lịch
Theo Luật du lịch 2005 thì “Tài nguyên du lịch là cảnh quan
thường xuất hiện tại các địa hình như thung lũng có độ dốc hay tại dọc
theo những con suối có nước chảy quanh năm.
Ngoài ra, ruộng bậc thang còn được chia theo độ cao, từ khoảng 30
0
trở lên là ruộng bậc thang cao, loại ruộng này chủ yếu phân bố trên các
địa hình đất dốc như trên sườn núi, sườn đối; ruộng bậc thang có độ
dốc từ 30
0
trở xuống được coi là ruộng bậc thang thấp, loại ruộng này
thường phân bố tại các thung lũng có độ dốc thấp [7].
Ruộng bậc thang của các tộc người còn được coi như một bảo
tàng sống của nền văn minh nông nghiệp lúa nước tại các khu vực miền
núi. Với hang loạt các địa hình từ vùng thấp, vùng giữa đến vùng cao là
các thay đổi về cảnh quan văn hóa, đó là ruộng bậc thang cao ở Mù
Cang Chải (Yên Bái), Hoàng Su Phì (Hà Giang), vùng giữa như Thanh
Kim, Thanh Phú (Sa Pa, Lào Cai) đến các ruộng có độ dốc tương đối
thấp như ruộng bậc thang tại thung lũng Mường Hoa (Tả Van, Lao
Chải), Tả Phìn [3] và khu vực Tú Lệ (Văn Chấn, Yên Bái). 18
Có thể nói ruộng bậc thang là một hình thức canh tác nông
nghiệp độc đáo và đầy sáng tạo của con người, nhất là các dân tộc thiểu
số sống tại các khu vực miền núi. Ruộng bậc thang đã khắc phục bất lợi
về độ dốc của địa hình, tạo ra các thửa ruộng có cùng độ dốc
theo đường đồng mức, tiếp nối nhau từ trên xuống rất thuận lợi cho
việc canh tác. Sự độc đáo còn ở chỗ người ta có thể áp dụng canh tác
lúa nước trên những thửa ruộng này để nâng cao năng suất trồng trọt.
Với nhiều cộng đồng nông thôn miền núi, trong đó có các cộng đồng
loại du lịch, dự a trên sự khá c biệ t củ a tà i nguyên thiên nhiên , nhân văn,
sự kiệ n và sả n vậ t củ a nông thôn để thu hú t khá ch . Sản phẩm du lịch
nông thôn = Sự khá c biệ t của tài nguyên ở là ng quê + Dịch vụ ở là ng
quê + Sản vật của làng quê [10].
Từ những quan niệm trên có thể thấy, du lịch nông thôn là loại
hình du lịch diễn ra tại các khu vực nông thôn nơi chủ yếu có các hoạt
động nông nghiệp. Du khách có thể đến các khu vực này trải nghiệm và
thưởng ngoạn vẻ đẹp tự nhiên, những nét đẹp về văn hóa hay là để giải
tỏa những áp lực của công việc, lối sống đô thị. Sản phẩm của du lịch
nông thôn chính bao gồm tài nguyên du lịch hấp dẫn, dịch vụ và sản
vậ t củ a là ng quê.
1.2. Những vấn đề chung về du lịch nông thôn
1.2.1. Lịch sử hình thành và phát triển du lịch nông thôn
Những năm gần đây, loại hình du lịch nông thôn đã được nhắc
đến tại Việt Nam và ở một số nơi cũng bắt đầu xuất hiện loại hình du
lịch này. Khái niệm du lịch nông thôn đã xuất hiện cùng với sự hình
thành của ngành đường sắt ở châu Âu. Tuy nhiên, cho mãi đến những
năm đầu của thập niên 80 thế kỷ XX, du lịch nông thôn mới được coi là
một loại hình du lịch và phổ biến ở nhiều quốc gia ở châu Âu như
Pháp, Hung-ga-ri, Bun-ga-ri, Hà Lan, Đan Mạch, Thụy Điển Khi đó,
khái niệm du lịch nông thôn được quan niệm tương đồng với các loại
hình du lịch ở nông trại, du lịch di sản, du lịch xanh, du lịch nhà nghỉ ở 20
nông thôn Sự khác biệt về du lịch nông thôn ở các quốc gia phát triển
và quốc gia đang phát triển là ở chỗ: tại các quốc gia đang phát triển,
người ta xem du lịch nông thôn là đa dạng hóa thu nhập từ nông
nghiệp, góp phần chống đói nghèo, phát huy sức mạnh nội lực của
cộng đồng, bảo tồn các giá trị bản sắc văn hóa truyền thống và bảo vệ
tư phát triển du lịch nông thôn theo mô hình các trang trại hoặc các khu
làng khép kín, có đầy đủ các dịch vụ phục vụ du khách. Từ năm 1997,
du lịch nông thôn đã phát triển khá nhanh, thu hút nhiều du khách nội
địa và quốc tế.
Ngoài ra, du lịch nông thôn còn có ở hầu hết các quốc gia trên
thế giới như Mỹ, Ô-xtrây-li-a, Ca-na-đa, Lat-vi-a, Tây Ban Nha, In-đô-
nê-xi-a, Nê-pan, Ấn Độ Đáng chú ý là Anh, Pháp, Đức và Áo là
những quốc gia thống trị thị trường du lịch nông thôn toàn cầu với hàng
ngàn doanh nghiệp kinh doanh loại hình du lịch này ở mỗi nước.
Do những điều kiện kinh tế, xã hội, tự nhiên khác nhau, nên hình
thức du lịch nông thôn cũng khác nhau theo từng vùng, quốc gia, lãnh
thổ. Chẳng hạn, ở Ô-xtrây-li-a, du lịch nông thôn chủ yếu dựa vào các
trang trại lớn; ở Nhật Bản, hình thức du lịch chủ yếu là du lịch dựa vào
cộng đồng với các nhà nghỉ thân thiện ở nông thôn; ở Hàn Quốc, du
lịch nông thôn được tổ chức theo các trang trại quy mô nhỏ tại các khu
vực nông thôn; ở Đài Loan, du lịch nông thôn được tổ chức theo nhóm
sở thích của cộng đồng; Trung Quốc và Ấn Độ là những quốc gia có
nhiều làng nên du lịch nông thôn được tổ chức theo quy mô làng. Phát
triển du lịch nông thôn sẽ góp phần bảo tồn di sản và bảo vệ môi
trường; giảm nghèo thông qua phát triển kinh kế nông thôn, phát triển
các ngành, nghề thủ công truyền thống; giúp phát triển du lịch sinh thái
và các loại hình du lịch khác; giáo dục, huấn luyện và tăng cường kỹ
năng cho cộng đồng; tạo việc làm cho phụ nữ và sử dụng sản phẩm địa
phương, giúp phát triển nông nghiệp sinh thái [11].
Ở nước ta cho đến nay, khái niệm du lịch nông thôn vẫn chưa
được nhắc tới một cách chính thức trong các văn bản pháp lý, mặc dù
nước ta có tiềm năng lớn để phát triển du lịch nông thôn. Hiện chỉ thấy
xuất hiện chủ chương phát triển du lịch sinh thái nông nghiệp nông
thôn trong Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm
nhìn 2030 đang trình Thủ tướng Phê duyệt. Phong cảnh thiên nhiên
môi trường, văn hóa và phát triển sinh kế cho người nghèo.
Những năm gần đây, ngành du lịch Việt Nam phát triển đa dạng
các loại hình du lịch, tuy nhiên có thể thấy rằng du lịch nông thôn chưa
phát triển. Lý do là chưa lập được quy hoạch cụ thể cho từng địa 23
phương để phát triển du lịch nông thôn, cụ thể là chưa có một khung lý
thuyết chung cho các khái niệm về loại hình du lịch này. Ngoài ra, tuy
du lịch đang phát triển, nhưng chưa tương xứng với tiềm năng vốn có
của nó. Sự phát triển của du lịch do không có quy hoạch cụ thể đã tác
động đến đời sống con người, thiên nhiên và môi trường ở nông thôn
về cả hai hướng tích cực lẫn tiêu cực, mà phần nhiều là tiêu cực. Đặc
biệt, do phát triển du lịch chưa gắn kết với địa phương nên các tài
nguyên thiên nhiên được ngành du lịch khai thác chưa hiệu quả và bền
vững. Trong khi đó, người nông dân ở nông thôn vẫn chưa được tham
gia rộng rãi vào các quá trình vận động của ngành du lịch, những hoạt
động du lịch chỉ mới mang lợi cho Nhà nước và khu vực tư nhân. Một
vấn đề khác nữa là chưa có sự chuẩn bị tốt về nhận thức cho cấp ủy,
chính quyền các cấp và người dân địa phương có tài nguyên du lịch
nông thôn để họ sẵn sàng tham gia hoạt động này, từ đó giảm bớt được
những tệ nạn thường gặp như chèo kéo khách, cung ứng sản phẩm và
dịch vụ kém chất lượng, dần làm mất đi bản sắc văn hóa của địa
phương. Thực tế còn cho thấy, nông dân là những người đưa di sản
sinh thái và văn hóa của mình tham gia hoạt động du lịch nông thôn,
nhưng thường lại thu được rất ít lợi ích từ hoạt động này [11] Và vì
vậy, dù có nhiều tiềm năng nhưng du lịch nông thôn vẫn chỉ là mảng
màu nhạt, chưa tạo được dấu ấn đáng kể [22].
1.2.2. Đặc điểm và yêu cầu đối với phát triển du lịch nông thôn
1.2.2.1. Đặc điểm của du lịch nông thôn
Về không gian du lịch nông thôn diễn ra tại các khu vực nông
thôn, trong đó có cả nông thôn tại các khu vực đồng bằng và nông thôn
thuộc các khu vực hải đảo, miền núi, vùng sâu vùng xa.
Về quy mô, du lịch nông thôn thường diễn ra ở quy mô nhỏ, kể
cả quy mô của các cơ sở lưu trú du lịch và quy mô doanh nghiệp.
Du lịch nông thôn phải dựa vào tác tài nguyên khu vực nông
thôn, trong đó có cả các hoạt động nông nghiệp, các cảnh quan nông 25
nghiệp, các giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng địa phương và
được kiểm soát rộng rãi bởi người dân địa phương.
* Đặc điểm về nguồn khách
Khách du lịch nông thôn thường gồm 2 nguồn: nguồn khách
quốc tế và nguồn khách nội địa.
+ Nguồn khách du lịch quốc tế đến Việt Nam: Trong những năm qua
với sự phát triển mạnh mẽ của ngành hàng không khiến cho khả năng
di chuyển dễ dàng và đã làm gia tăng lượng khách du lịch ngoại quốc
đến các nước trên thế giới. Ngoài nhu cầu tìm hiểu lịch sử văn hóa đất
nước viếng thăm, nhu cầu tìm hiểu thiên nhiên và con người và vùng
nông thôn của nước đó cũng là một việc hết sức lý thú.
+ Nguồn khách du lịch nội địa từ các trung tâm đô thị và các tỉnh
thành khác: Đối với người dân trong nước, cuộc sống công nghiệp
và hiện đại đã làm nãy sinh nhu cầu tham quan, du lịch, giải trí hướng
về vùng nông thôn. Chính vì thế các trung tâm đô thị là nơi phát sinh
khách du lịch nông thôn chủ yếu [5].
Thông thường, khách du lịch nông thôn có các nhu cầu sau đây:
- Nhu cầu thư giãn, gần gũi thiên nhiên, hoạt động ngoài trời;
- Nhu cầu khám phá kho tàng văn hóa nghệ thuật dân gian;
- Nhu cầu thưởng thức ẩm thực dân gian, các món ăn cổ truyền;