ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN MẠNH CƯỜNG NGHIÊN CỨU ĐIỀU KIỆN ĐỂ PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH
DU LỊCH CHỮA BỆNH BẰNG NƯỚC KHOÁNG
(Tại một số điểm suối khoáng ở trung du & duyên hải Bắc Bộ)
Chuyên ngành: Du lịch
(Chương trình đào tào thí điểm) LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN MẠNH TY
Hà Nội, 2011 MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
2.2.1.2. Hệ thống cơ sở vật chất kĩ thuật 38
2.2.1.3. Nguồn nhân lực 40
2.2.2. Suối nước khoáng Thanh Thủy (Phú Thọ) 42
2.2.2.1. Vài nét về suối nước khoáng Thanh Thủy 42
2.2.2.2. Hệ thống cơ sở vật chất kĩ thuật 43
2.2.2.3. Nguồn nhân lực 46
2.3. Thực trạng phát triển du lịch chữa bệnh bằng nước khoáng tại một số
điểm suối khoáng ở trung du và duyên hải Bắc Bộ. 48
2.3.1. Sản phẩm, dịch vụ phục vụ du lịch chữa bệnh 48
2.3.2. Một số chương trình du lịch chữa bệnh bằng nước khoáng 52
2.3.2.1. Chương trình du lịch chữa bệnh bằng nước khoáng (tại điểm
suối khoáng) 52
2.3.2.2. Chương trình du lịch chữa bệnh bằng nước khoáng kết hợp
với hoạt động du lịch khác 55
2.3.3. Công tác xúc tiến, quảng bá sản phẩm, dịch vụ du lịch chữa bệnh
bằng nước khoáng 58
2.3.4. Nguồn khách 59
2.3.5. Doanh thu 63
2.4. Đánh giá chung 67
2.4.1. Thuận lợi 67
2.4.2. Hạn chế 69
2.4.3. Nguyên nhân 71
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH DU LỊCH
CHỮA BỆNH BẰNG NƯỚC KHOÁNG 76
3.1. Căn cứ đề xuất 76
3.1.1. Định hướng phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn 2010 - 2020 76
3.1.2. Sự phát triển của loại hình du lịch chữa bệnh 79
3.1.3. Nhu cầu chữa bệnh bằng nước khoáng của khách du lịch 81
3.2. Một số giải pháp phát triển loại hình du lịch chữa bệnh bằng nước
Theo các nhà hoạch định chính sách du lịch, tiềm năng phát triển của
du lịch chữa bệnh ở châu Á là rất lớn. Thêm vào đó, người bệnh còn có cảm
giác được chăm sóc tận tình, thân thiện, khiến chuyến đi chữa bệnh trở nên
hấp dẫn cho nhiều du khách. Ước tính, năm 2007, du lịch chữa bệnh đã mang
lại cho các nước châu Á 1,6 tỉ USD. Bên cạnh nguồn thu trực tiếp từ các dịch
vụ khám chữa bệnh, du lịch chữa bệnh còn được coi là một hình thức quảng
cáo và kéo dài thêm thời gian lưu trú của du khách và làm tăng đáng kể thu
nhập cho ngành kinh tế mũi nhọn mới ở nhiều nước.
Việt Nam được đánh giá là nơi có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch
chữa bệnh. Theo đài BBC của Anh, ở Việt Nam khái niệm du lịch chữa bệnh
tuy còn mới, nhưng đã thu hút không ít khách nước ngoài. Tuy nhiên, vấn đề
khai thác còn chưa tương xứng với tiềm năng thực tế, thậm chí hiện nay vẫn
còn thật khó có thể xác định hiện nay chúng ta đang ở giai đoạn phát triển nào
2
nếu nói về loại hình du lịch chữa bệnh và cũng không thể đưa ra được mô
hình phát triển hiệu quả nhằm hạn chế lãng phí và đảm bảo thành công.
Với những lý do trên, tôi xin chọn đề tài “Nghiên cứu điều kiện để phát
triển loại hình du lịch chữa bệnh bằng nước khoáng” (Tại một số điểm suối
khoáng ở trung du & duyên hải Bắc Bộ) để đi sâu tìm hiểu điều kiện phục vụ
phát triển loại hình du lịch chữa bệnh bằng nước khoáng, cũng như các biện
pháp để thúc đẩy khai thác loại hình này ở một số địa phương thuộc trung du
và duyên hải Bắc Bộ ở nước ta.
Nghiên cứu tại một số điểm suối khoáng ở trung du & duyên hải Bắc
Bộ vì tại hai điểm này có điều kiện về hệ thống cơ sở hạ tầng, giao thông đi
lại thuận tiện, gần với các điểm di tích lịch sử và thu hút khách du lịch nước
ngoài đến thăm quan và nghỉ dưỡng ( đặc biệt là khách Hàn Quốc).
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài
Trên thế giới, Du lịch chữa bệnh đã có những dấu hiệu phát triển từ rất
sớm. Đã có một số cuốn sách viết về loại hình này như: “ Du lịch sức khoẻ:
để từ đó đưa ra những biện pháp hợp lý trong việc thúc đẩy khai thác một
cách có hiệu quả tiềm năng về nước khoáng phục vụ cho loại hình du lịch
chữa bệnh ở một số địa phương thuộc trung du và duyên hải Bắc Bộ.
- Đề ra các kiến nghị, giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển du lịch thông
qua các loại hình du lịch chữa bệnh.
- Qua việc nghiên cứu vấn đề này, tôi hy vọng sẽ góp phần đưa ra một
số thông tin cơ bản và tổng hợp cho người đọc có cái nhìn tổng quan về du
lịch chữa bệnh ở nước ta nói chung, có thể góp phần quảng bá về một loại
hình du lịch mới giàu tiềm năng này của Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
4
Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề sau:
- Nghiên cứu loại hình du lịch chữa bệnh: đặc điểm, quy trình khai
thác, các nhân tố tác động…
- Tìm hiểu điều kiện để phát triển loại hình du lịch chữa bệnh bằng
nước khoáng tại một số điểm suối khoáng ở trung du và duyên hải Bắc Bộ.
- Phân tích đánh giá thực trạng, qua đó đề xuất một số giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả khai thác loại hình du lịch chữa bệnh này ở Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: Một số điểm suối khoáng phục vụ tham quan du lịch
chữa bệnh, nghỉ dưỡng ở trung du & duyên hải Bắc Bộ
- Về thời gian: Nghiên cứu trong khoảng 5 năm trở lại đây và nghiên
cứu định hướng phát triển trong thời gian tới.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điền dã, khảo sát thực tế
- Phương pháp thu thập thông tin (qua sách vở, các phương tiện thông
tin, phỏng vấn)
- Phương pháp tổng hợp, thống kê, phân tích, xử lý thông tin, đưa ra ý
với những tiến bộ của khoa học kỹ thuật được áp dụng trong ngành y tế, sức
khoẻ cộng đồng được chăm sóc tốt hơn. Tỷ lệ người cao tuổi ở nhiều nước
đang có chiều hướng gia tăng, đặc biệt là những nước tiên tiến trên thế giới
như: Nhật Bản, Đức, Pháp Vấn đề sức khoẻ ngày càng được quan tâm dưới
nhiều hình thức, trong đó có hoạt động du lịch gắn với vấn đề sức khoẻ, chữa
bệnh, từ đó trở thành động lực để loại hình du lịch chữa bệnh được ra đời.
Du lịch chữa bệnh hoặc có liên quan đến hoạt động chữa bệnh hoặc sức
khoẻ nên có nhiều tên gọi khác nhau như “Spa tourism”, hoặc “Health care
6
Tourism” hoặc “Health Tourism”; trong đó thuật ngữ“Health Tourism” được
sử dụng bởi nhiều học giả và trong các văn bản của Tổ chức Du lịch Thế giới.
Ở Việt Nam, thuật ngữ “Du lịch chữa bệnh” được sử dụng khá phổ
biến, được hiểu như một hoạt động du lịch có mục đích chủ yếu là hồi phục
hoặc gia tăng sức khoẻ cho khách du lịch trên cơ sở kết hợp với các hoạt động
tham quan khác, thường có trong các chương trình du lịch được xây dựng.
Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) đã đưa ra quan niệm về du lịch
sức khoẻ trên quan điểm của các nhà cung cấp các dịch vụ du lịch, cụ thể:
“Du lịch sức khoẻ là loại hình du lịch dựa trên cơ sở khai thác và sử dụng tài
nguyên thiên nhiên, đặc biệt là các nguồn nước khoáng nóng, điều kiện khí
hậu…để xây dựng các cơ sở vật chất kĩ thuật liên quan đến sức khoẻ, phục vụ
cho nhu cầu hồi phục hoặc tăng cường sức khoẻ của khách du lịch”.
Cũng theo quan điểm của các nhà làm du lịch, có nghiên cứu cho rằng,
du lịch sức khoẻ là việc các khu du lịch hoặc các cơ sở vật chất du lịch như
các khách sạn, các khu nghỉ dưỡng (resort) chủ động phát triển các dịch vụ
hoặc bổ sung các yếu tố về cơ sở vật chất kỹ thuật chăm sóc sức khoẻ phục vụ
cho nhu cầu tăng cường, hồi phục sức khoẻ và chủ động khai thác các dịch vụ
này để thu hút khách.
1.1.2. Hình thức, đặc điểm của du lịch chữa bệnh
1.1.2.1. Các hình thức du lịch chữa bệnh
để phũng nga nhng bnh lý hoc loại bỏ những thói quen cú
hi cho sc khe nh- nghiện thuốc lá, nghiện r-ợu, giảm
béo phì, hoặc thực hiện những phẫu thuật nhỏ để cải
thiện ngoại hình (phu thut thm m).
Th t, du lch cha bnh phc v mc ớch x stress, chm súc sc p.
8
Đây là hình thức du lịch chữa bệnh mà khách du lịch luôn cảm thấy
thoải mái nhất về mặt tâm lí. Các hoạt động của khách du lịch lựa chọn hình
thức du lịch này diễn ra gần như các hoạt động du lịch bình thường khác,
song có thêm các hoạt động như: đi spa để chăm sóc da mặt, chăm sóc cơ thể,
thư giãn đầu óc, sauna và massage (xông hơi và xoa bóp cơ thể), jacuzzi (thư
giãn trong bồn tắm sục), tẩm quất giác hơi, bấm huyệt. Hình thức du lịch chữa
bệnh này rất tốt cho sức khỏe của khách du lịch sau một hành trình tham gia
các hoạt động du lịch, thường được thực hiện như một nội dung trong lịch
trình của chuyến du lịch. Ví dụ như khách đi du lịch ở Sapa thường sử dụng
dịch vụ tắm thuốc lá của người Dao Đỏ, khách đến Nha Trang sau khi đi tham
quan Tháp Bà Ponarga thường đến tắm bùn ở suối khoáng Tháp Bà Qua tìm
hiểu trên thực tế thấy rằng, các công ty du lịch ở Hà Nội (South Pacific,
Hướng Dương Travel, Hanatour,…) khi đón khách du lịch Hàn Quốc, Đài
Loan đến Việt Nam, đều thiết kế một điểm đến là trung tâm chăm sóc sức
khỏe có dịch vụ massage chân (foot massage) hoặc saunna massage (xông hơi
và massage cơ thể) phục vụ khách.
Thứ năm, du lịch chữa bệnh phục vụ mục đích tăng cường sức khỏe.
Đây là hình thức du lịch chữa bệnh thường được tổ chức gắn với việc
tìm hiểu thiên nhiên thông qua một số hoạt động thể dục thể thao, dã ngoại.
Đây là điều kiện giúp khách du lịch rèn luyện sức khỏe của mình qua việc
thực hiện các ho¹t ®éng trong hình thức du lÞch nµy.
1.1.2.2. Đặc điểm của du lịch chữa bệnh
Bản chất của du lịch chữa bệnh là có sự kết hợp tác dụng chữa bệnh
khoẻ hay hình thức ngoại hình nh- các hoạt động chăm
sóc sức khoẻ, làm đẹp, thẩm mỹ và tập trung chủ yếu
10
là các phụ nữ trẻ. Nhóm đối t-ợng ny i du lch cha bnh
vi mc ớch x stress v chm súc sc p.
Nhóm đối t-ợng khỏch i du lch cha bnh thứ năm, là
nhóm đối t-ợng ng-ời cao tuổi đã nghỉ hu. ối t-ợng
khỏch du lch này thông th-ờng tham gia các hoạt động du
lch cha bnh với mục đích kiểm tra sức khoẻ, th- giãn
nghỉ ngơi và phòng bệnh.
c im v thi gian lu trỳ:
Khỏch i du lch cha bnh thng cú thi gian lu trỳ tng i di,
vì việc điều trị, chữa bệnh đòi hỏi phải có một
khoảng thời gian nhất định mới có hiệu quả. Do vậy,
mi ch-ơng trình du lịch chữa bệnh đ-ợc thiết kế cho
du khách có thể là vài ngày, một tuần, nửa tháng
hoặc thậm chí lâu hơn (th-ờng là đối với khách n-ớc
ngoài), khách trong n-ớc có thể có thời gian l-u trú
ngắn hơn tuỳ theo yêu cầu của du khách.
c im v a im du lch:
Cỏc chng trỡnh du lch cha bnh thng c t chc xung quanh
cỏc khu du lch cha bnh, cỏc bnh vin, cỏc sui khoỏng núng, bói tm bựn,
bói bin, nhng ni cú khớ hu tt cho sc kho. Nu l chng trỡnh di
ngy, i tham quan nhiu a im thỡ cú bỏc s i kốm.
V chi phớ ca khỏch du lch:
Loi hỡnh du lch cha bnh thng ũi hi du khỏch phi cú kh nng
chi tr cao bi ngoi chi phớ cho cỏc dch v du lch, h s phi chi tr mt
khon ln cho vn iu tr v cha bnh. Do cỏc chng trỡnh du lch cha
bnh thng cú thi gian kộo di, v khỏch du lch thng cú yờu cu cao
đi. Các hoạt động đó không chỉ góp phần làm gia tăng vốn sống, kiến thức,
kinh nghiệm của khách du lịch, mà còn góp phần làm phong phú đời sống
tinh thần, tạo nên động lực tích cực để họ tham gia vào các hoạt động của
cuộc sống.
- Động cơ giao lưu: Cùng tham gia các hoạt động du lịch là cơ hội giúp
các du khách được trò chuyện, giao lưu, chia sẻ với nhau. Đối với loại hình du
lịch chữa bệnh, động cơ giao lưu mang đến cho khách du lịch có được những
động lực tích cực như: xóa bỏ những mặc cảm về thể chất, chia sẻ những kinh
nghiệm về việc trị bệnh, tạo nên sự cởi mở về tinh thần đối với khách du lịch.
- Động cơ muốn được tự thể hiện bản thân: Cuộc sống càng được nâng
cao về chất lượng cũng kéo theo nhu cầu của con người ngày càng được nâng
cao. Khi trong xã hội có một bộ phận người mong muốn được thể hiện bản
thân mình, được xã hội chú ý, thừa nhận và kính trọng, thì du lịch là một
trong những cách thức hữu hiệu để giúp họ có thể được tự thể hiện. Đây là
nhóm khách du lịch có khả năng chi trả cao, tiêu dùng rộng rãi, họ thường
chọn các điểm đến có mức thanh toán cao như: đi nghỉ dưỡng ở Châu Âu, đi
du lịch chữa bệnh ở Mỹ, Pháp, Nhật, hoặc thường lựa chọn các điểm đến du
lịch có các dịch vụ được cung cấp hoàn hảo phục vụ khách du lịch.
Yếu tố thứ hai trong hệ thống nguồn lực để phát triển du lịch chữa
bệnh, đó là các đơn vị cung ứng du lịch, bao gồm: đơn vị kinh doanh dịch vụ
vận chuyển, đơn vị kinh doanh dịch vụ lưu trú, ăn uống, đơn vị kinh doanh lữ
hành
Các đơn vị kinh doanh dịch vụ vận chuyển là nhân tố giúp để thỏa mãn
nhu cầu vận chuyển của khách du lịch. Đối tượng để đáp ứng nhu cầu cơ bản
này trong nhu cầu du lịch nói chung của khách du lịch chính là hệ thống các
loại hình phương tiện vận chuyển như: máy bay, ô tô, tàu hỏa, tàu thủy,
thuyền, xe máy, xe đạp, xích lô
13
trò là trung gian kết nối khách du lịch với các đơn vị cung ứng hàng hoá và
dịch vụ phục vụ chuyến đi của du khách. Thông qua quá trình giao dịch và
cung cấp sản phẩm, dịch vụ của các đơn vị kinh doanh mà công ty lữ hành tổ
chức chương trình du lịch trọn gói hay từng phần dựa theo thoả thuận đạt
được với khách du lịch. Vai trò của các đơn vị kinh doanh lữ hành có ý nghĩa
quan trọng, giúp liên kết các đơn vị cung ứng sản phẩm, dịch vụ du lịch, đặc
biệt tạo điều kiện thuận lợi để khách du lịch đạt được những hiệu quả tối đa
trong chuyến đi du lịch chữa bệnh.
Trong hoạt động du lịch hiện nay, các công ty bảo hiểm đóng vai trò là
thành phần cung cấp các dịch vụ bổ sung hỗ trợ khách du lịch trong suốt
chuyến đi. Đối với du lịch chữa bệnh, các công ty bảo hiểm ngày đem lại
những dịch vụ hỗ trợ đối với rủi ro của con người, đặc biệt về tính mạng và
bệnh tật phải cần đến chi phí phẫu thuật và điều trị lớn. Khi đó, xu thế chung
là các công ty bảo hiểm, tài chính liên kết chặt chẽ với cơ sở y tế, các nhà tổ
chức chương trình du lịch để thực hiện và tạo điều kiện thuận lợi cho khách
du lịch tham gia các chuyến đi với mục đích chăm sóc sức khoẻ, điều trị
bệnh tại điểm du lịch chữa bệnh được lựa chọn.
Yếu tố thứ ba trong vai trò là một trong những nguồn lực để phát triển
du lịch nói chung và du lịch chữa bệnh nói riêng, đó là người dân và chính
quyền sở tại nơi diễn ra hoạt động du lịch. Đây là những nhân tố thuộc về
điểm đến du lịch, là nơi có điều kiện tài nguyên du lịch có sức hấp dẫn được
khai thác phục vụ khách du lịch.
Người dân ở nơi diễn ra hoạt động du lịch là các cư dân đã có thời gian
sinh sống lâu dài, họ là chủ, hay là những người rất am hiểu về phong tục tập
quán, văn hóa, lối sống ở điểm du lịch. Họ có thể tham gia vào hoạt động du
lịch như: cung cấp dịch vụ, hàng hóa phục vụ khách du lịch, là đối tượng
15
tham gia trực tiếp phục vụ khách du lịch, hoặc cũng có thể không tham gia
vào hoạt động du lịch nào của địa phương.
khỏe được chú trọng ở những nước có nền kinh tế phát triển, rồi mở rộng hơn
về phạm vi địa lí cũng như hoạt động, khai thác nguồn tài nguyên tự nhiên và
các yếu tố y học độc đáo, có tác dụng tích cực cho sức khoẻ, tâm lý của con
người. Một số nước trên thế giới còn xây dựng được “thương hiệu” riêng
như: Cuba chuyên về phẫu thuật mắt, Ba Lan chuyên về thụ thai trong ống
nghiệm, đảo Mauritius chuyên về ghép tóc, Nam Phi chuyên về ghép tim,
Israel chuyên về bệnh hiếm muộn, Hungary chuyên về phẫu thuật chỉnh hình,
Costa Rica chuyên về hút mỡ bụng
Du lịch chữa bệnh đang có xu hướng phát triển mạnh trên thế giới.
Nhiều quốc gia đã có chủ trương phát triển loại hình du lịch này để thu hút
khách du lịch bên cạnh các loại hình du lịch khác như: Hàn Quốc, Ấn Độ,
Singapore, Thái Lan Loại hình du lịch chữa bệnh đang dần khẳng định vị trí
của mình trong ngành du lịch và ngày càng phát triển theo hướng quy mô hơn
và hiện đại hơn.
1.1.4.2. Du lịch chữa bệnh ở một số quốc gia trên thế giới.
Thái Lan
Du lịch được coi là một trong những ngành kinh tế quan trọng của Thái
Lan. Để thành công trong việc thu hút khách du lịch, ngành du lịch Thái Lan
đã chú trọng phát triển đa dạng các loại hình du lịch, trong đó, du lịch chữa
bệnh là một trong những thế mạnh.
Nằm ở vị trí trung tâm giữa các nước có nền kinh tế đang phát triển của
Châu Á, Thái Lan có điều kiện trở thành trung tâm chữa bệnh, chăm sóc sức
khoẻ cũng như nghiên cứu và phát triển y học của khu vực. Thái Lan nổi tiếng
trong khu vực cũng như trên thế giới về chữa các căn bệnh truyền nhiễm và
bệnh nhiệt đới, phẫu thuật tim và chăm sóc hậu phẫu, các bệnh liên quan đến
17
xương, răng, đục thuỷ tinh thể, các phương pháp phẫu thuật làm đẹp, chỉnh
hình. Hàng năm, các bệnh viện của Thái Lan đã tiếp nhận khoảng 400.000 du
khách - bệnh nhân đến từ nước ngoài, tạo ra doanh thu hàng chục tỷ Bath.
Ấn Độ thu hút rất đông du khách cần đại phẫu, trong khi số khách
khám tổng quát và cần tiểu phẫu rất ít. Lý do là chi phí đại phẫu ở Ấn Độ có
giá rất mềm, chỉ bằng 1/5, đặc biệt trong lĩnh vực trồng răng và chuẩn đoán
bệnh qua hình ảnh chỉ bằng 1/10 chi phí ở nước Mỹ. Ấn Độ có nhiều cơ sở y
tế chuyên khoa với đội ngũ bác sĩ đào tạo tại các nước tiên tiến như Anh, Mỹ,
song những chuyên khoa nổi tiếng là phẫu thuật tim và thay khớp.
Mặc dù có chi phí cạnh tranh, không thua kém về tay nghề và chất
lượng chữa bệnh, nhất là những cuộc đại phẫu, nhưng Ấn Độ vẫn còn thua
kém Thái Lan, Singapore về dịch vụ hậu phẫu và các dịch vụ sau chữa bệnh
nói chung. Bởi vậy trong mắt người phương Tây, Thái Lan vẫn là sự lựa chọn
được ưa thích nhất.
Bên cạnh đó, lượng khách đến Ấn Độ phụ thuộc phần lớn vào các công
ty lữ hành và đặc biệt vào mạng Internet, trong khi hầu hết các chuyên gia về
du lịch chữa bệnh đều khuyên du khách khi quyết định đến nước nào để du
lịch và chữa bệnh và nên cẩn trọng với những quảng cáo trên mạng hay của
những công ty lữ hành không tên tuổi. Do đó, các trung tâm y tế Ấn Độ
không thể thu hút nhiều du khách bằng Thái Lan hay Singapore.
Singapore
Không chỉ là một nước sạch sẽ, trật tự và có kỹ thuật cao, Singapore
còn có hệ thống y tế vào loại tốt nhất trên thế giới hiện nay với đội ngũ
chuyên gia giỏi, trang thiết bị hiện đại, tiến tiến. Chi phí chữa bệnh ở
Singapore chỉ bằng một nửa của Mỹ, song vẫn đắt hơn Thái Lan và Ấn Độ.
Để cạnh tranh hữu hiệu với hai đối thủ trong khu vực Châu Á là Thái Lan và
19
Ấn Độ, chính phủ Singapore đã chủ trương mở rộng lĩnh vực công nghệ sinh
học như nghiên cứu tế bào mầm, nhờ vậy mà nước này có những liệu pháp
chữa trị rất mới, nhất là chữa bệnh ung thư. Bên cạnh đó, các nhà cung cấp
dịch vụ y tế Singapore phải tìm cách mở rộng thị trường ra bên ngoài, thu hút
bệnh nhân quốc tế đến chữa bệnh nhằm tăng thu nhập, tạo việc làm, đồng thời
nhiều mỏ bùn khoáng, suối khoáng vừa được sử dụng làm nước uống, nước
giải khát, vừa đáp ứng nhu cầu nghỉ dưỡng, chữa bệnh của con người như
Bình Châu (Bà Rịa - Vũng Tàu), Tháp Bà (Nha Trang), Kim Bôi (Hòa Bình),
Thanh Thủy (Phú Thọ) Hiện nay, ở nước ta có 3.920 loài thực vật được coi
là dược liệu quý có tác dụng chữa bệnh, bồi bổ sức khoẻ, chiếm 16% số cây
thuốc đã được biết đến trên thế giới. Tính đến năm 2007, Việt Nam đã được
UNESCO công nhận có 6 khu dự trữ sinh quyển thế giới và 30 vườn quốc
gia.
Về khả năng chuyên môn và nhân tố con người, Việt Nam có nền y học
dân tộc lâu đời, bài bản, uy tín với đội ngũ bác sĩ Đông y có trình độ cao và
tận tâm. Hiện nay cả nước có hơn 40 bệnh viện y học cổ truyền, nhiều khoa y
học cổ truyền trong các bệnh viên đa khoa, khoảng 5.000 người hành nghề y
học cổ truyền, gần 4.000 cơ sở chuẩn trị Đông y. Nhiều bài thuốc cổ truyền,
phương pháp trị liệu bằng bắt mạch, bấm huyệt, châm cứu…của chúng ta đã
nổi tiếng thế giới, có chi phí rất thấp so với các nước khác trong khu vực. Đây
cũng là những yếu tố thu hút đối với đối tượng khách du lịch chữa bệnh tại
Việt Nam.
Y học hiện đại ở Việt Nam cũng có những bước tiến đáng kể trong
nhiều năm gần đây cả về cơ sở vật chất, trang thiết bị và nhân lực, tuy nhiên
để đáp ứng nhu cầu y tế của nhân dân và huy động hệ thống y tế quốc gia
tham gia chăm sóc sức khoẻ, chữa bệnh cho du khách nước ngoài trong giai
21
đoạn hiện nay còn gặp nhiều khó khăn. Xét về khả năng chuyên môn, đội ngũ
thầy thuốc ở Việt Nam hội tụ được những yếu tố và khả năng tham gia được
nhiều loại hình dịch vụ chữa bệnh có yêu cầu cao như: thay tạng và xương
khớp, phẫu thuật thẩm mỹ Tuy nhiên, bên cạnh các yếu tố nhân lực, loại
hình du lịch chữa bệnh còn đòi hỏi nhiều yếu tố khác về hạ tầng cơ sở, cơ sở
vật chất, trang thiết bị, cơ chế hoạt động…
Gần đây, không ít du khách nước ngoài đến Việt Nam để thực hiện các