B GIO DC V O TO
Bộ giáo dục đào tạo
B NễNG NGHIP V PTNT
Bộ nông nghiệp và PTnt
TRNG AI HOC LM NGHIấP
------------------Tr-ờng đại học lâm nghiệp
NGUYN
HIấN
Ngô ThếTH
Long
NGHIấN CU IU KIN LP A CHO GY TRNG KEO LAI
(A.mangium
x A.auriculiformis)
TIsinh
MTtr-ởng
S NI VNG
xây dựng
các mô
hình cấu trúc,
ễNG BC B
và hình dạng thân cây làm cơ sở đề xuất các ph-ơng
pháp xác định trữ l-ợng, sản l-ợng cho lâm phần keo
tai t-ợng (Acacia
mangium) tại khu vực
1
MỞ ĐẦU
Trong thực tiễn trồng rừng sản xuất, bên cạnh những thành công thì vẫn
có một số nơi bị thất bại, do đó việc gây trồng ở điều kiện lập địa nào cho phù
hợp với đặc tính của loài cây (đất nào cây ấy) để đạt được năng suất và hiệu
quả cao là vấn đề cần được quan tâm. Những năm gần đây, nhu cầu về gỗ
ngày càng tăng trong khi nguồn gỗ từ rừng tự nhiên ngày càng cạn kiệt. Vì
vậy, việc lựa chọn các loài cây mọc nhanh đã trở thành xu hướng tất yếu ở
các vùng trong cả nước nói chung và Đông Bắc Bộ nói riêng.
Các loài Keo được đưa vào nước ta từ những năm 1960, là loài cây sinh
trưởng và phát triển nhanh, đồng thời lại có khả năng cải tạo đất. Với những
ưu điểm đó, cây Keo đã nhanh chóng trở thành cây trồng rừng chủ lực cho
ngành lâm nghiệp, đặc biệt là cho trồng rừng sản xuất nguyên liệu giấy, chế
biến ván nhân tạo. Trong đó Keo lai và Keo tai tượng được coi là hai loài có
triển vọng nhất cho trồng rừng đa mục đích: Phòng hộ, cải tạo đất, cung cấp
nguyên liệu.
Ở nước ta đã có nhiều nghiên cứu về các loài Keo nhưng phần lớn mới
chỉ tập trung vào khâu tuyển chọn giống mà ít có những nghiên cứu về mối
tương quan giữa tính chất đất với khả năng sinh trưởng của cây đặc biệt là ở
cấp độ vi mô. Bên cạnh đó công tác quy hoạch trồng rừng lại phần lớn thực
hiện ở cấp vĩ mô nên khi áp dụng cụ thể vào một địa phương, một đơn vị sản
xuất cụ thể đã có một vài nơi thất bại do không xác định được các yếu tố hạn
chế về điều kiện đất đai cụ thể của địa phương. Do đó đề tài thực hiện nhằm:
Nghiên cứu mối tương quan giữa sinh trưởng của Keo lai với một số tính chất
đất tại một số lâm trường ở vùng Đông Bắc Bộ làm cơ sở cơ sở cho việc phân
hạng đất trồng rừng cấp vi mô.
3
đất đai đã được nhiều nhà khoa học và các tổ chức Quốc tế quan tâm. Ngày
nay công việc này càng cần thiết hơn và đã trở thành một lĩnh vực nghiên cứu
quan trọng của các nhà quy hoạch, hoạch định chính sách và người sử dụng
[4]. Tùy theo mục đích cụ thể mà mỗi quốc gia sẽ đề gia nội dung, phương
pháp đánh giá đất của mình [23].
Ở Mỹ, đánh giá đất đai được thực hiện với các phương pháp là:
- Phương pháp tổng hợp: Lấy năng suất cây trồng nhiều năm làm tiêu
chuẩn và phân hạng cho từng cây trồng cụ thể, trong đó lấy cây lúa mì là đối
tượng chính.
- Phương pháp yếu tố: Bằng cách thống kê các yếu tố tự nhiên, kinh tế
để so sánh, trong đó lấy lợi nhuận tối đa là 100 điểm (hoặc 100%) để làm mốc
so sánh với đất khác [4].
Trong quá trình phân hạng, đánh giá đất đai ở Mỹ đã đưa ra các khái
niệm là:
+ Phân loại khả năng thích nghi đất có tưới (Irrigation Land
Suitability Classification) của Cục cải tạo đất đai - Bộ Nông nghiệp Mỹ
(USBR) xuất bản năm 1951. Phân loại này dựa vào độ phì của đất để đánh
giá, nó bao gồm 6 lớp (classes) bắt đầu từ lớp có thể canh tác được (arable)
đến lớp có thể trồng trọt một cách giới hạn (limited arable) và lớp không thể
trồng trọt được (non arable). Trong phân loại này, nhiều đặc điểm đất đai và
một số chỉ tiêu kinh tế định lượng cũng được đề cập nhưng giới hạn ở phạm
vi thủy lợi.
+ Tiềm năng đất đai (Land Capability) do Clingebiel và Naontgomery
thuộc Vụ bảo tồn đất đai - Bộ Nông nghiệp cũng đưa ra (năm 1964) trong
công tác đánh giá đất đai ở Hoa Kỳ. Trong đánh giá này các đơn vị bản đồ đất
đai (Land Mapping Units) được nhóm lại dựa vào khả năng sản xuất một loại
cây thực vật tự nhiên nào đó, chỉ tiêu chung là các hạn chế của lớp phủ thổ
5
rằng cần phải có một nỗ lực quốc tế để đạt được sự thống nhất và tiêu chuẩn
hóa vào việc đánh giá đất đai [17].
Phương pháp đánh giá đất đai của FAO: Được hệ thống do 2 Ủy ban
nghiên cứu ở Hà Lan và FAO - Roma thực hiện vào năm 1972, được công bố
đầu tiên vào năm 1976 và được chỉnh lý vào năm 1983 [11], trong đó:
Đề xuất định nghĩa về đánh giá đất đai là: Đánh giá đất đai là quá trình
so sánh, đối chiếu những tính chất của vạt đất cần đánh giá với những tính
chất đất đai mà loại hình sử dụng đất yêu cầu phải có. Đánh giá đất đai là
quá trình thu thập thông tin, xem xét một cách toàn diện các yếu tố đất đai với
cây trồng để phân định ra mức độ thích hợp cao hay thấp.
Đã đưa ra một số nội dung hoặc khái niệm được xác định cụ thể như sau:
- Đánh giá tiềm năng sử dụng đất đai (land capability): Đó là việc
phân chia hay phân hạng đất đai thành các nhóm dựa trên các yếu tố thuận lợi
hay hạn chế trong sử dụng như độ dốc, độ dày tầng đất, đá lẫn, tình trạng xói
mòn, úng ngập, khô hạn, mặn hóa… Trên cơ sở đó có thể lựa chọn những
kiểu sử dụng đất phù hợp.
Việc đánh giá tiềm năng đất sử dụng đất thường áp dụng trên qui mô
lớn, trong phạm vi một nước, một tỉnh hay một huyện.
Thí dụ: Ở Mỹ đã sử dụng các yếu tố hạn chế là những yếu tố hầu như
không thay đổi được là: độ dốc, độ dày tầng đất và khí hậu để phân chia đất
đai toàn quốc thành 8 nhóm với các yếu tố hạn chế tăng dần từ nhóm I tới
nhóm VIII. Trong đó nhóm I là nhóm thuận lợi nhất trong sử dụng, có ít yếu
tố hạn chế nhất, nhóm VIII là nhóm có nhiều yếu tố hạn chế nhất trong sử
dụng. Yếu tố hạn chế được thể hiện chủ yếu qua chữ viết tắt như xói mòn là e,
dư thừa nước là w, v.v, [15].
- Đánh giá mức độ thích hợp đất đai (land suitability): Là quá trình
Evaluation for Rainfed Agriculture - FAO, 1983) [24]
7
- Đánh giá đất đai cho trồng trọt cỏ quảng canh (Land Evaluation for
extensive grazing - FAO, 1990) [25].
- Đánh giá đất đai và phân tích hệ thống canh tác cho quy hoạch sử
dụng đất (Land Evaluation and farming system analysis for land planning FAO, 1992) [26].
Trên thế giới cũng có nhiều công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa
đặc điểm đất đai với sinh trưởng của cây trồng. Với các kết quả nghiên cứu đã
đạt được, nhiều nhà khoa học đã cho rằng: Đối với các vùng ôn đới, phản ứng
của đất, hàm lượng CaCO3 và các chât BaZơ khác, thành phần cấp hạt và điện
thế ôxy hóa khử (Eh) của đất là những yếu tố quan trọng nhất. Quan điểm này đã
xem xét các yếu tố hóa học đất quan trọng hơn yếu tố vật lý. Đối với vùng nhiệt
đới thì các tác giả cho rằng: Các yếu tố có khả năng giữ nước, độ sâu của đất và
độ thoáng khí là những yếu tố giữ vai trò chủ đạo. Điều này có nghĩa là: Yếu tố
vật lý đất quan trọng hơn yếu tố hóa học đất. Các kết quả này dựa trên các
nghiên cứu về đất đồi núi và đất nông nghiệp [11].
Thời gian gần đây, Trung tâm lâm nghiệp Quốc tế (CIFOR) đã tiến hành
nghiên cứu về quản lý lập địa và sản lượng rừng cho rừng trồng ở các nước nhiệt
đới như: Ấn Độ, Trung Quốc, Indonesia, Nam Phi, Conggo, Brazil. Kết quả
nghiên cứu cho thấy: Các biện pháp xử lý lập địa khác nhau và các loài cây trồng
khác nhau đã có ảnh hưởng khác nhau đến độ phì đất, cân bằng nước, sự phân
hủy thảm mục và chu trình dinh dưỡng khoáng [22], [23].
Phân hạng đất, đánh giá đất trong những năm gần đây đã có những
công trình nghiên cứu cụ thể song mới chỉ nghiên cứu cho từng đối tượng cây
trồng cụ thể. Ở vùng ôn đới các nghiên cứu đã đề cập về ảnh hưởng của rừng
tự nhiên, rừng trồng đến độ phì đất. Nghiên cứu về rừng mưa nhiệt đới ở
Australia, Week (1970) đã khẳng định sinh trưởng của thực vật phụ thuộc vào
- Bảo vệ và chống suy thoái tài nguyên đất.
Năm 1960, F.R. Moormann đã xuất bản Bản đồ thổ nhưỡng ở miền
Nam Việt Nam với tỷ lệ 1/1.000.000 và kèm theo bảng phân loại đất dùng
9
cho bản đồ này. Năm 1969 V.M. Fridland cùng một số nhà khoa học Việt
Nam cũng đã xuất bản Bản đồ thổ nhưỡng miền Bắc Việt Nam tỷ lệ
1/1.000.000 và bản chú giải phân loại. Đặc điểm của 2 bảng phân loại này là
theo 2 phương pháp khác nhau. Bảng phân loại đất dùng cho sơ đồ thổ
nhưỡng miền Bắc là theo hướng phân loại phát sinh của Liên Xô. Bảng phân
loại đất của Moormann theo hướng phân loại của Mỹ trước kia, một phần
theo hướng phân loại phát sinh và một phần theo tính chất thực dụng [4].
- Tôn Thất Chiểu và Hoàng Ngọc Toàn (1980-1985) đã tiến hành
nghiên cứu phân hạng đất đai tổng quan trên toàn quốc, với nhiều đối tượng
cây trồng, nhiều vùng chuyên canh khác nhau trên cơ sở phân hạng định
lượng của FAO. Đối tượng chính của nghiên cứu này là đất nông nghiệp và
đất đồi núi [4].
- Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã ban hành tiêu chuẩn
ngành 10 TCN 343-98 về Quy trình đánh giá đất đai phục vụ nông nghiệp,
trên cơ sở vận dụng nội dung, phương pháp đánh giá đất của FAO theo điều
kiện và tiêu chuẩn cụ thể của Việt Nam [4].
- Kết quả điều tra tổng hợp của Viện quy hoạch thiết kế Nông nghiệp
năm 1995 đã xác định 9 vùng sinh thái nông nghiệp trên toàn quốc. Phương
pháp tổng hợp là căn cứ vào 7 yếu tố với các chỉ tiêu phân cấp là: Loại đất, độ
dày tầng đất, độ dốc, thủy văn mặt nước, tưới tiêu, lượng mưa và nhiệt độ.
Mặc dù đã có sự cố gắng gộp nhóm và đơn giản các yếu tố, chỉ tiêu tham gia
xây dựng đơn vị đất đai nhưng kết quả tổ hợp vẫn cho ra số lượng đơn vị đất
đai toàn quốc khá lớn. Trên bản đồ tỷ lệ 1/1.000.000 toàn quốc có tới 373 đơn
Năm 1990 trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm đất rừng Thông nhựa,
tác giả Ngô Đình Quế đã thấy rằng yếu tố quyết định đến việc trồng
rừng Thông nhựa có thành công hay không là: Phản ứng của đất (pH KCl
3,5-5,5), độ xốp (> 40%), độ sâu tầng kết cứng (5-10cm) và yếu tố thực
bì chỉ thị tốt nhất là tế guột dày [12].
11
Kết quả nghiên cứu của Hà Quang Khải (1999) [9], cho thấy sự thay
đổi tính chất của đất gần và xa gốc của rừng trồng Thông mã vĩ và Keo tai
tượng thể hiện tương đối rõ, nhất là các tính chất về lý tính, mối tương quan
giữa sinh trưởng và từng tính chất đất là không rõ ràng. Tuy nhiên mối tương
quan lại tương đối chặt giữa sinh trưởng với tổng hợp một số tính chất đất.
1.2. Các nghiên cứu về Keo lai
1.2.1. Đặc điểm hình thái
Keo lai là tên gọi tắt của giống lai tự nhiên giữa Keo tai tượng
(A.mangium) và Keo lá tràm (A.auriculiformis). Cây gỗ nhỡ, cao 25-30m,
đường kính 30-40 cm, thân thẳng, cành nhánh nhỏ, tỉa cành khá, tán dày và
rậm. Các đặc tính khác có tính trung gian giữa hai loài bố mẹ.
Từ khi hạt nảy mầm tới hơn một tháng hình thái lá biến đổi theo 3 giai
đoạn, lá mầm, lá thật và lá giả. Lá giả mọc cách tồn tại mãi, Keo lai có lá rộng
hơn Keo lá tràm nhưng nhỏ hơn lá Keo tai tượng.
Hoa tự bông, mọc từng đôi ở nách lá. Mùa hoa tháng 3 -4, quả chín
tháng 7 -8. Quả Keo lai có đầu dẹt, khi non thẳng khi già cuộn hình xoắn ốc,
vỏ quả cứng, khi chín màu xám và nứt. Mỗi quả có 5- 7 hạt màu nâu đen,
bóng. Rễ Keo lai có nhiều nốt sần có tác dụng cải tạo đất nhờ khả năng cố
định đạm.
1.2.2. Phân bố
Trên thế giới Keo lai được Messrs Herburn và Shim phát hiện lần đầu
Vì thế nó có khả năng sinh trưởng, phát triển ở nhiều vùng khác nhau với
nhiệt độ trung bình năm từ 21 – 270C, nhiệt độ tối cao tuyệt đối 42,10C, tối
thấp tuyệt đối < 100C.
Keo lai cũng có thể sinh trưởng ở những nơi có sương giá trong mùa
đông lạnh, trong điều kiện nhiệt độ không khí thấp nó vẫn có thể sống được
nhưng sinh trưởng kém hơn rõ rệt.
13
- Lượng mưa
Cũng như Keo tai tượng, Keo lai sinh trưởng tốt ở vùng ẩm. Tuy Keo
lai có khả năng chịu hạn cao hơn nhưng nhu cầu về nước cũng ở mức trung
bình đến khá, do đó những nơi có mùa khô hạn kéo dài thường không thích
hợp vì cây sinh trưởng, phát triển chậm.
Keo lai sinh trưởng rất tốt ở những nơi có lượng mưa hàng năm
1.400 – 2.400mm, lượng bốc hơi 540 – 1.200mm.
1.2.4. Giống
Trong báo cáo khảo nghiệm giống Keo lai ở một số vùng sinh thái
chính của nước ta của Lê Đình Khả, Hồ Quang Vinh và cộng sự (1999) [5],
đã kết luận Keo lai có thể sống ở tất cả các nơi khảo nghiệm và đều có sinh
trưởng nhanh gấp 1,5 – 3 lần các loài keo bố mẹ. Những nơi Keo lai sinh
trưởng nhanh là Hàm Yên (Tuyên Quang), Phú Lương (Thái Nguyên), Bình
Thanh (Hòa Bình), vv.., trong 3 năm đầu Keo lai có thể đạt năng suất 19 –
27m3/ha/năm
Các nghiên cứu cũng cho thấy sinh trưởng của cây Keo lai đời F1 là tốt
nhất, cây tương đối đồng nhất với nhiều đặc trưng ưu việt. Đến đời F2 Keo lai
có biểu hiện thoái hóa và phân ly, cây sinh trưởng không đồng đều, có khi còn
kém hơn cả sinh trưởng của cây bố mẹ. Như vậy, để phát triển giống Keo lai
vào sản xuất phải áp dụng phương pháp nhân giống bằng hom hoặc nuôi cấy
đề xuất các biện pháp kỹ thuật trồng rừng thâm canh cung cấp gỗ nguyên liệu.
Triệu Văn Hùng và Dương Tiến Đức (2004 – 2006), đã nghiên cứu một
số biện pháp kỹ thuật trồng rừng nguyên liệu trong đó có Keo lai ở Tây
Nguyên cho thấy: Với điều kiện lập địa là đất cát pha, đất chua thì dòng Keo
15
lai BV10 có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt. Tại Đắc tơve trên đất xám
bạc màu dòng Keo lai BV32 lại có triển vọng hơn. Tại Đắcblao – Đắk Nông,
trên đất bazan thoái hóa dòng TB15 là phù hợp.
Nghiên cứu sinh trưởng Keo lai trồng trên hai loại đất khác nhau ở
vùng Đông Nam Bộ, Phạm Thế Dũng và cộng sự (2004), cho thấy mặc dù
được áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canh như nhau, trên đất nâu đỏ
sinh trưởng Keo lai tốt hơn trên đất xám phù sa cổ.
Qua những kết quả nghiên cứu trên, cho thấy Keo lai có khả năng sinh
trưởng, phát triển khác nhau trên những lập địa khác nhau. Vì vậy, muốn
trồng Keo lai có năng suất cao thì phải nghiên cứu, lựa chọn đất đai phù hợp.
16
Chương 2
MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1. Mục tiêu
- Về lí luận
Góp phần tìm hiểu cơ sở khoa học của việc xác định tiêu chuẩn chọn
đất và phân hạng đất trồng rừng.
- Về thực tiễn
với các yếu tố lập địa.
- Đề xuất bảng phân hạng đất cấp vi mô cho trồng rừng Keo lai.
2.2.3. Đánh giá hiệu quả kinh tế của trồng rừng Keo lai.
- Thu thập các tài liệu từ khi trồng đến khi khai thác tại các lâm trường
như: Hồ sơ thiết kế trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng; Hồ sơ thiết kế khai thác
rừng; Lãi suất của nguồn vốn đầu tư trồng rừng; Giá cả của sản phẩm…
- Xử lý các số liệu thu thập được và tính toán hiệu quả kinh tế theo các
chỉ tiêu NPV (giá trị hiện tại thuần); IRR (tỷ suất hoàn vốn nội bộ); BCR(hiệu
suất đầu tư).
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Phương pháp luận và cách tiếp cận
- Dùng không gian thay cho thời gian để bố trí và thu thập số liệu thí
nghiệm ngoài hiện trường.
- Khí hậu và đất đai là hai yếu tố chính để phân hạng đất.
- Do địa điểm nghiên cứu rộng nên chỉ tiến hành nghiên cứu trên những
điểm đại diện đặc trưng cho loài.
- Dùng phương pháp điều tra so sánh năng suất rừng trồng (rừng đã
định hình trên 3 tuổi) xác định các yếu tố đất đai có ảnh hưởng rõ rệt đến sinh
trưởng của rừng.
18
Điều tra khảo sát hiện trường,
thu thập tài liệu liên quan
Lựa chọn các thông tin,
số liệu cần thiết
Lựa chọn phương
bì dưới rừng trồng.
+ Diện tích ô tiêu chuẩn là 20m x 20m = 400m2
+ Đo đường kính ngang ngực (D1.3) bằng thước kẹp kính và đo
chiều cao (Hvn) bằng thước Blumeleiss.
- Ngoài ra trong các ô tiêu chuẩn điển hình, tiến hành đào phẫu diện đất
và mô tả đặc điểm đất, lấy mẫu phân tích các tính chất lý, hóa học của đất
trong phòng thí nghiệm.
Vị trí đào phẫu diện: Đào ở vị trí trung tâm của ô tiêu chuẩn.
c. Phương pháp nội nghiệp
- Xây dựng bản đồ phân cấp mức độ thích hợp cấp vĩ mô trên cơ sở kế
thừa kết quả nghiên cứu về tiêu chuẩn phân chia độ thích hợp cây trồng của
Trung tâm Nghiên cứu sinh thái và Môi trường rừng.
- Phân tích các mẫu đất trong phòng thí nghiệm: Các mẫu đất lấy về
được phân tích các chỉ tiêu lý, hóa tính theo các phương pháp đang được áp
dụng phổ biến hiện nay:
+ Dung trọng: Sử dụng ống đong có thể tích V = 100cm3.
+ Thành phần cơ giới: Theo phương pháp 3 cấp của Mỹ.
+ Mùn tổng số: Theo Walkley-Black.
+ Đạm tổng số: Theo Kjendhall
+ pHKCl của đất: Dùng pH metter (Đức)
20
+ P2O5 dễ tiêu: Trắc quang (Bray II).
+ K2O5 dễ tiêu: Theo Maslova (đo trên quang kế ngọn lửa).
- Tổng hợp và xử lý số liệu bằng chương trình Excel và phần mềm
SPSS:
+ Ứng dụng xử lý thống kê trên máy tính bằng phần mềm SPSS để loại
bỏ những trị số đặc thù về D1.3 và Hvn có thể sai sót trong quá trình quan sát,
Phân tích thống kê với 28 mẫu (n = 28) để lựa chọn hàm tương quan,
chọn hàm có R2 lớn nhất. Các hàm có tương quan là các hàm đều có xác suất
của trị số F (trị số kiểm tra sự tồn tại của hệ số xác định R2), nếu Sig F < 0,05
thì tồn tại R2 và ngược lại. Một phương trình tương quan chỉ có ý nghĩa khi hệ
số của phương trình tồn tại. Hệ số phương trình tồn tại đều có xác xuất của trị
số t (trị số kiểm tra sự tồn tại của các hệ số a, b). Nếu Sig t < 0,05 thì các hệ
số tồn tại và ngược lại. Phương trình tương quan được thiết lập sau khi đã
kiểm tra sự tồn tại của hệ số b. Ở đây việc kiểm tra sự tồn tại của hệ số b là
đồng nhất với việc kiểm tra sự tồn tại của hệ số tương quan R (chi tiết xem
phần phụ lục).
- Xác định các yếu tố có ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng của rừng
trồng Keo lai làm cơ sở đề xuất bảng phân hạng đất cấp vi mô.
d. Phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tế của rừng Keo lai
Đánh giá hiệu quả kinh tế của trồng rừng Keo lai dựa trên một số chỉ
tiêu sau:
- Chỉ tiêu giá trị hiện tại thuần NPV (Net Pressent Value): Là hiệu số của
giá trị hiện tại dòng doanh thu (cash inflow) trừ đi giá trị hiện tại dòng chi phí
(cash outflow) tính theo lãi suất chiết khấu lựa chọn. Công thức tính như sau:
NPV
Bt Ct
t
t 1 (1 r )
n
Trong đó:
t - thời gian tính dòng tiền
n - tổng thời gian thực hiện dự án
IRR - Tỷ suất hoàn vốn nội bộ
t = 1, 2, 3,…n
n - Tổng số năm trong một chu kỳ kinh doanh rừng trồng.
Ct - Chi phí cho rừng trồng trong năm thứ t
Bt - Thu nhập từ rừng trồng trong năm thứ t
- Chỉ tiêu đánh giá hiệu suất đầu tư BCR: Là thương số giữa toàn bộ
thu nhập so với toàn bộ chi phí sau khi đã triết khấu đưa về giá trị hiện tại.
BCR được tính theo công thức là:
n
BCR
t 1
n
t 1
Trong đó:
Bt
1 r
t
Ct
1 r t
Ct - Chi phí cho rừng trồng trong năm thứ t
Lượng mưa không phân bố đều, thường tập trung từ tháng 5 đến tháng
10 trong năm, chiếm 70-80% lượng mưa cả năm và không phân bố đều giữa
các tỉnh trong vùng. Do lượng mưa phân bố không đều nên đã tạo nên các
mùa khô hạn và lũ lụt.