ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NHANH VÀ BỀN VỮNG KINH TẾ - XÃ HỘI
TỈNH NINH THUẬN ĐẾN NĂM 2020 VÀ NHỮNG NĂM TIẾP THEO
Kỷ yếu hội thảo
KYÛ YEÁU hoäi thaÛo
NINH THUẬN, THáNg 12 Năm 2014
ủy baN NHâN dâN TỉNH NINH THUẬN
ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NHANH VÀ BỀN VỮNG KINH TẾ - XÃ HỘI
TỈNH NINH THUẬN ĐẾN NĂM 2020 VÀ NHỮNG NĂM TIẾP THEO
5
PHẦN 1
ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CHUNG
❖ Sự phát triển tỉnh Ninh Thuận theo quy hoạch: Nhìn lại và định hướng
TS. Trần Du Lịch - NCS.ThS. Đặng Đình Đức 11
❖ Ninh Thuận: Tìm kiếm cách tiếp cận phát triển mới trong không gian hội nhập
PGS.TS. Trần Đình Thiên 23
❖ Phát triển các quan hệ liên kết vùng - Điều kiện khai thác lợi thế phát triển kinh tế tỉnh Ninh Thuận
GS.TS. Nguyễn Kế Tuấn 35
❖ Tăng trưởng xanh là một hướng đột phá đối với tỉnh Ninh Thuận
GS.TS.KTS. Lê Hồng Kế 41
❖ Định hướng phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Ninh Thuận đến năm 2020 và những năm tiếp theo
TS. Trần Kim Chung 57
❖ Phát triển kinh tế bền vững và những vấn đề đặt ra ở tỉnh Ninh Thuận trong thời gian đến
TS. Nguyễn Phú Thái 69
❖ Phát triển kinh tế tỉnh Ninh Thuận
PGS.TS. Bùi Quang Bình 83
❖ Những giải pháp đột phá trong phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Ninh Thuận đến năm 2020, định
hướng đến năm 2030
PGS.TS. Nguyễn Trọng Hòa - ThS. Cao Minh Nghĩa 97
PHẦN 3
DU LỊCH
❖ Xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù, nâng cao tính cạnh tranh của du lịch Ninh Thuận trong
xu thế hội nhập
PGS.TS. Phạm Trung Lương 195
❖ Phát huy giá trị văn hóa Chăm để phát triển du lịch tỉnh Ninh Thuận
PGS.TS. Phan An 203
7
❖ Di sản Hindu giáo - Những giá trị văn hóa đặc sắc để đột phá trong phát triển du lịch của
Ninh Thuận
PGS.TS Ngô Văn Doanh 211
❖ Khai thác giá trị văn hóa truyền thống để phát triển bền vững du lịch ở Ninh Thuận
TS. Phú Văn Hẳn 215
❖ Nghiên cứu định vị nguồn khách và một số giải pháp phát triển du lịch Ninh Thuận
ThS. Cao Trí Dũng 223
❖ Xây dựng festival nho và vang trở thành trụ cột mới trong phát triển du lịch Ninh Thuận
NCS. ThS. Ngô Tấn Hưng 235
PHẦN 4
NÔNG LÂM THỦY SẢN VÀ KINH TẾ BIỂN
❖ Định hướng và giải pháp phát triển bền vững ngành thủy sản gắn với tái cơ cấu kinh tế tỉnh
Ninh Thuận
Nguyễn Huy Điển 249
❖ Những vấn đề đặt ra đối với cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh Ninh Thuận trong thời gian tới
PGS.TS. Nguyễn Đình Hiền - TS. Nguyễn Thanh Sơn 261
❖ Thực trạng và giải pháp đột phá trong phát triển ngành thủy sản của tỉnh Ninh Thuận trong
thời gian tới
Trang Sĩ Trung - Nguyễn Văn Minh - Trần Đức Phú - Nguyễn Tấn Sỹ 267
❖ Định hướng phát triển kinh tế biển tỉnh Ninh Thuận
ThS. Hồ Công Hường 279
❖ Phát triển sản phẩm muối, sản phẩm hóa chất sau muối và một số nông sản có lợi thế
Trong bối cảnh khó khăn chung đó, cần đánh giá lại các mục tiêu đã đề ra trong kế hoạch
5 năm phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2015 của Ninh Thuận để có giải pháp phát triển
phù hợp.
3. Theo Quy hoạch đã được Thủ tướng phê duyệt, kinh tế Ninh Thuận sẽ phát triển theo
6 nhóm ngành ưu tiên (dự kiến chiếm 91% GDP): (1) Năng lượng; (2) du lịch; (3) nông, lâm,
thủy sản; (4) sản xuất chế biến; (5) giáo dục đào tạo; (6) xây dựng và kinh doanh bất động
?
Phó Trưởng Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Hồ Chí Minh
Trưởng Nhóm Tư vấn hợp tác phát triển vùng duyên hải miền Trung
Trung tâm Tư vấn - Nghiên cứu Phát triển miền Trung
Kỷ yếu hội thảo
12
sản. Nếu nhìn chiến lược theo Quy hoạch thì Ninh Thuận phát triển dựa vào 3 trụ cột: (1)
nông - lâm - ngư nghiệp; (2) du lịch và (3) năng lượng và chế tạo. Do đó cần nhìn lại triển
vọng phát triển theo các định hướng trên như thế nào? Trong giai đoạn 2016 - 2020 cần tập
trung vào trụ cột nào, nhóm ngành ưu tiên nào, mà Ninh Thuận có cơ hội phát triển nhất?
Từ cách đặt vấn đề như trên, tham luận này sẽ trao đổi 3 nội dung sau đây:
Ninh Thuận là địa phương thuộc vùng duyên hải Nam Trung Bộ; phía bắc giáp tỉnh
Khánh Hòa, phía nam giáp tỉnh Bình Thuận, phía tây giáp tỉnh Lâm Đồng và phía đông
giáp biển Đông; Toàn tỉnh có 7 đơn vị hành chính trực thuộc, trong đó thành phố Phan
Rang - Tháp Chàm là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa.
Diện tích tự nhiên của tỉnh là 3.358 km
2
, dân số hơn 590 ngàn người. Ninh Thuận
nằm trên giao điểm của 3 trục giao thông chiến lược là đường sắt Bắc Nam, Quốc lộ 1A
và Quốc lộ 27 lên Nam Tây Nguyên, cách Thành phố Hồ Chí Minh 350 km về phía nam;
cách thành phố Nha Trang 105 km về phía bắc và cách thành phố Đà Lạt 110 km về phía
- Tài nguyên khoáng sản: Tỉnh Ninh Thuận có nguồn khoảng sản với rất nhiều chủng
loại và quy mô lớn bao gồm các khoáng sản kim loại (wolfarm, titan); khoáng sản phi kim
loại (thạch anh, đất sét); nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng (đá granite, đá vôi san
hô, đá xây dựng) và muối khoáng…
- Tài nguyên du lịch: Với đường bờ biển dài 105 km, Ninh Thuận có rất nhiều bãi
biển đẹp phục vụ cho phát triển du lịch như: Ninh Chữ - Bình Sơn, Cà Ná, Tuấn Tú, Từ
Thiện, Phước Dinh…
Bên cạnh nguồn tài nguyên du lịch biển, Ninh Thuận được xem là điểm đến hội tụ
nhiều nhất giá trị văn hóa Chăm đặc trưng bao gồm cả những giá trị vật thể (cụm tháp
Chăm Pô Klông Garai), và giá trị phi vật thể (lễ hội Katê, sinh hoạt truyền thống đồng bào
Chăm, các làng nghề, tiêu biểu là làng gốm Bàu Trúc, làng dệt thổ cẩm Mỹ Nghiệp hay làng
Chăm Irahani, làng Chung Mỹ). Ngoài ý nghĩa văn hóa lâu đời có giá trị nhân văn sâu sắc,
đây còn là điểm đến rất hấp dẫn khách du lịch khi đến tham quan tại Ninh Thuận.
- Năng lượng: Với đặc điểm khí hậu khô nắng và gió nhiều thuộc loại lớn nhất Việt
Nam, Ninh Thuận có một nguồn tài nguyên gần như vô hạn là năng lượng gió, một loại
hình không phải nơi nào cũng được thiên nhiên ưu đãi. Loại hình này, nếu được nghiên
cứu bài bản, đầy đủ sẽ đem lại nhiều lợi ích quan trọng, không những cung cấp năng lượng
từ gió (có thể có từ thủy triều) mà còn tạo nên một loại hình cảnh quan đẹp, độc đáo phục
vụ du lịch không ống khói không nhiều trên thế giới hiện nay.
Tỉnh Ninh Thuận có Quốc lộ 1A, Quốc lộ 27 và đường sắt Thống Nhất chạy qua; trên
địa bàn tỉnh không có sân bay dân sự, gần nhất là sân bay quốc tế Cam Ranh (tỉnh Khánh
Hòa) cách 60 km về phía bắc. Ninh Thuận có 3 cảng biển là Đông Hải, Cà Ná và cảng Ninh
Chữ. Trong đó, cảng hàng hóa Dốc Hầm - Cà Ná là một trong cảng biển miền Trung được
quy hoạch phát triển thành cảng nước sâu, quy mô công suất hàng hóa qua cảng 15 triệu
tấn/năm.
Kỷ yếu hội thảo
14
Nhìn chung, hạ tầng giao thông toàn tỉnh còn yếu, thiếu đồng bộ. Mật độ giao thông
đạt thấp, mới chỉ 0,68 km/km
năm. Mức GDP bình quân đầu người tính đến thời điểm hiện tại ước đạt 26,8 triệu đồng/
người, dần rút ngắn khoảng cách về thu nhập bình quân đầu người so với cả nước. Tuy cơ
cấu kinh tế của tỉnh đã có những chuyển dịch đúng hướng nhưng tốc độ vẫn còn chậm: Tỷ
trọng GDP khu vực nông nghiệp chỉ giảm 2,8% so với năm 2010 còn chiếm 38,5% GDP của
tỉnh; dịch vụ tăng 1,2% so với năm 2010, chiếm 37,7% GDP; Tỷ trọng công nghiệp - xây
dựng tăng 1,6% so với năm 2010, chiếm 23,8% GDP.
- Tình hình phát triển của các ngành kinh tế:
+ Về nông, lâm, thủy sản: Với tiềm năng đất có khả năng đưa vào sản xuất nông
nghiệp còn lớn, trong những năm vừa qua Ninh Thuận đã thực hiện mở rộng diện tích cây
15
ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NHANH VÀ BỀN VỮNG KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH NINH THUẬN ĐẾN NĂM 2020 VÀ NHỮNG NĂM TIẾP THEO
hằng năm và đất nông nghiệp khác. Bước đầu hình thành các vùng sản xuất tập trung đối
với các nông sản có lợi thế của tỉnh (lúa, mía, thuốc lá, nho, chăn nuôi bò, dê, cừu) chủ
yếu cung cấp cho thị trường trong nước và nguyên liệu cho công nghiệp chế biến. Đây cũng
đang là lĩnh vực tỉnh khuyến khích và kêu gọi đầu tư.
Bên cạnh đó, được xác định là một trong 4 ngư trường trọng điểm của cả nước với tổng
trữ lượng cá, tôm tương đối lớn, khả năng khai thác 50.000 tấn/năm với nhiều loại hải
sản có giá trị kinh tế cao có thể phục vụ cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu, trong giai
đoạn 2010 - 2014 vừa qua ngành thủy sản Ninh Thuận luôn tăng trưởng với tốc độ cao,
bình quân đạt 11,8%/năm. Cơ cấu nội bộ ngành chuyển dịch dần theo hướng nâng cao tỷ
trọng nuôi trồng và sản xuất giống thủy sản nhờ tận dụng nguồn giống bố mẹ dồi dào và
môi trường nước biển trong sạch, là địa bàn lý tưởng để sản xuất các loại giống có chất
lượng cao và với số lượng lớn, nhất là tôm giống và ốc hương giống. Tỉnh cũng đã chú
trọng hình thành các trung tâm thương mại hậu cần phát triển nghề cá trong đó cảng cá
Cà Ná đang đầu tư trở thành Trung tâm nghề cá của tỉnh và khu vực, cảng Ninh Chữ được
xây dựng thành nơi neo đậu an toàn cho tàu thuyền khu vực miền Trung.
Tuy vậy, nông nghiệp Ninh Thuận hiện tại vẫn là nền sản xuất nhỏ, một số ngành
chiếm tỷ trọng lớn nhưng thiếu yếu tố bền vững. Tốc độ tăng trưởng năng suất lao động
giai đoạn vừa qua tuy đạt trung bình 17,7%/năm nhưng mức tăng tuyệt đối mỗi năm chỉ
đạt 5,62 triệu đồng/nông dân.
động đầu tư toàn xã hội năm 2014 đạt khoảng 7.615 tỷ đồng, tuy có tăng 1,5 lần so với
năm 2010, nhưng chiếm tỷ trọng lớn vẫn là nguồn vốn đầu tư của nhà nước, chiếm trên
42% (trong đó có 50% là từ ngân sách nhà nước); vốn đầu tư từ doanh nghiệp và dân cư
chỉ chiếm từ 47,5% - 54,5%; vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài chiếm tỷ trọng khá nhỏ.
Đánh giá chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của Ninh Thuận trong giai đoạn vừa
qua đã cho thấy có những thay đổi theo chiều hướng tích cực trong năng lực cạnh tranh
của tỉnh: Chỉ số tổng hợp tăng dần qua các năm, nhất là trong các năm từ 2011 - 2013;
Điểm số từ mức 47,82 điểm năm 2008 đến năm 2013 đã đạt 54,22 điểm sau khi đạt mức
cao 59,76 điểm năm 2012; Các chỉ số có sự cải thiện rõ rệt đó là Chi phí thời gian, Tính
năng động và thiết chế pháp lý. Tuy vậy sự cải thiện PCI của tỉnh vẫn chưa ổn định; kết
quả chung của tỉnh vẫn xếp ở nhóm tương đối thấp.
- Có tốc độ tăng trưởng nhanh trong giai đoạn 2010 - 2014 vừa qua. Tốc độ tăng trưởng
GDP hàng năm của tỉnh đạt 12,2%/năm, cao hơn mức tăng trưởng trung bình của 9 tỉnh
vùng duyên hải miền Trung
1
(11,94%/năm) và của cả nước (5,83%/năm), nhưng thấp hơn
nhiều so với mục tiêu theo quy hoạch (16 - 18%/năm).
- Ngoài ra tỉnh còn đạt được mục tiêu đa dạng hóa hoạt động phi nông nghiệp và
17
ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NHANH VÀ BỀN VỮNG KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH NINH THUẬN ĐẾN NĂM 2020 VÀ NHỮNG NĂM TIẾP THEO
hướng tới công nghiệp - xây dựng, giúp đẩy nhanh tăng trưởng trong giai đoạn này. Ngành
nông nghiệp, vốn chiếm 44,7% GDP và 52,4% lao động năm 2009, đến nay chỉ còn chiếm
38,5% GDP và 44,8% lao động. Với sự chuyển dịch này, tạo điều kiện cho công nghiệp và
các ngành liên quan tăng trưởng và phát triển, các hoạt động trong khu vực này tập trung
vào chế biến và khai khoáng. Dịch vụ và thương mại cũng có sự phát triển nhất định, thu
hút 30,8% lượng lao động và đóng góp tới 1/3 tổng GDP.
dựng và titan vận hành với công suất cao.
- Thứ nhất, về định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
+ Cơ bản lâu dài việc xác định 3 trụ cột và 6 nhóm ngành sản phẩm ưu tiên phát triển
là đúng. Tuy nhiên, trong giai đoạn 2016 - 2020 cần ưu tiên đầu tư và chính sách để phát
triển 3 nhóm ngành: nông - ngư nghiệp; công nghiệp chế biến và du lịch. Gắn các mục tiêu
phát triển ưu tiên với quá trình tái cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chủ
yếu dựa vào khai thác tài nguyên, dựa vào vốn đầu tư như hiện nay sang phát triển dựa vào
công nghệ, năng suất, chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh.
+ Ưu tiên thu hút các nhà đầu tư chiến lược đầu tư phát triển ngành công nghiệp
điện gió và sản xuất thiết bị phục vụ ngành điện gió và công nghiệp chế biến nông, thủy
sản; công nghiệp hóa chất sau muối chất lượng cao; ngành nông nghiệp công nghệ cao và
ngành du lịch nhằm tạo sức lan tỏa, tạo động lực cho phát triển kinh tế của tỉnh.
- Thứ hai, về thể chế
+ Đẩy mạnh cải cách về thể chế, tiếp tục nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh, cải
thiện môi trường đầu tư, tăng cường xúc tiến để thu hút các nguồn lực đầu tư trong và ngoài
nước. Chính quyền địa phương phải thực sự là người cung cấp dịch vụ hành chính công cho
doanh nghiệp, là người đồng hành cùng doanh nghiệp trong quá trình đầu tư và kinh doanh.
+ Cần chú trọng, đẩy mạnh, khuyến khích và hỗ trợ phát triển khu vục kinh tế tư nhân.
Phải xem nguồn vốn đầu tư tư nhân là động lực chính thúc đẩy tăng trưởng. Tiếp tục tái cơ
cấu đầu tư công, xem vốn đầu tư của ngân sách nhà nước là “vốn mồi”.
+ Xã hội hóa đầu tư cơ sở hạ tầng. Chọn dự án thí điểm để triển khai mô hình công - tư
đối tác (PPP) nhằm huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực từ các thành phần kinh tế
trong và ngoài nước để đầu tư xây dựng, nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội,
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
+ Cần xây dựng chương trình cụ thể để tham gia vào các hoạt động liên kết vùng, liên
kết với các địa phương trong xúc tiến quảng bá thu hút đầu tư, xúc tiến thương mại, sản
phẩm du lịch, đào tạo nguồn nhân lực, cung cấp nguyên vật liệu phục vụ sản xuất, sản
theo hướng doanh nghiệp hóa sản phẩm, liên kết hóa sản xuất và xã hội hóa đầu tư.
- Phát triển gắn với công nghiệp bảo quản, chế biến và thị trường tiêu thụ; gắn hộ nông
dân với thị trường với doanh nghiệp.
- Đẩy mạnh việc xây dựng các chuỗi liên kết kinh tế trong sản xuất, ưu tiên đầu tư và
hỗ trợ phát triển, xây dựng các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, quy mô lớn đối với các
Kỷ yếu hội thảo
20
sản phẩm nông sản có lợi thế, có giá trị (cây nho, cây neem, chăn nuôi dê, cừu, bò, sản
xuất tôm giống…) để nâng cao giá trị sản xuất và quảng bá thương hiệu nông sản của tỉnh
Ninh Thuận trên thị trường nông sản trong và ngoài nước.
- Đẩy mạnh ứng dụng có hiệu quả các thành tựu khoa học công nghệ mới, sử dụng
hiệu quả các tài nguyên đất, nước, lao động; thích ứng biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường
sinh thái.
- Tiếp tục thực hiện chương trình đào tạo lao động cho khu vực nông nghiệp, nông thôn.
- Hướng dẫn và tạo điều kiện để nông dân tiếp cập và thụ hưởng có hiệu quả các chính
sách hỗ trợ của Nhà nước.
(2) Phát triển ngành công nghiệp: tiếp tục chú trọng và đẩy mạnh phát triển các cụm
ngành nhằm phát huy tiềm năng của tỉnh, sử dụng nhiều lao động gắn với bảo vệ môi
trường, tăng trưởng xanh, nhằm tạo điều kiện để từng bước chuyển dần sang phát triển các
ngành công nghiệp có hàm lượng công nghệ hiện đại, năng suất lao động cao, có giá trị gia
tăng và sức cạnh tranh lớn…
- Tập trung nguồn lực đầu tư và khai thác có hiệu quả ngành công nghiệp năng lượng
đặc biệt là năng lượng sạch như năng lượng mặt trời và điện gió, đưa Ninh Thuận trở thành
trung tâm năng lượng của cả nước.
- Tiếp tục ưu tiên phát triển trong giai đoạn đến 2020 như: công nghiệp chế biến nông,
thủy sản; công nghiệp sản xuất muối và hóa chất sau muối (muối cao cấp, xút, magiê
clorua ); công nghiệp chế biến khoáng sản (chế biến xỉ titan); vật liệu xây dựng cao cấp;
năng lượng (điện gió, điện mặt trời), may xuất khẩu
- Thu hút đầu tư phát triển các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ như: máy móc và thiết bị
phục vụ sản xuất, khai thác và chế biến nông, lâm, thủy sản; thiết bị phục vụ ngành điện
lượng cao; trong xúc tiến, quảng bá, xây dựng điểm đến và tìm kiếm thị trường khách du
lịch; đào tạo nguồn nhân lực du lịch.
- Đẩy mạnh thu hút và đào tạo nguồn nhân lực du lịch chất lượng cao cho tất cả các lĩnh
vực từ quản lý nhà nước về du lịch, nhà hàng, khách sạn, hướng dẫn viên du lịch…
- Tiến hành rà soát và đẩy nhanh việc thực hiện các dự án du lịch (mạnh dạn thu hồi các
dự án chậm triển khai), thu hút đầu tư xây dựng thêm các cơ sở lưu trú 3 đến 5 sao, phát
triển các dịch vụ còn thiếu như: sản phẩm điểm đến, các dịch vụ vui chơi giải trí trong nhà
về đêm và trên biển; khu mua sắm tập trung
- Tăng cường công tác quản lý nhà nước về du lịch; bảo đảm an ninh, an toàn cho khách
du lịch, xử lý các hành vi vi phạm (gian lận, ép giá, chèo kéo, đeo bám khách…), bảo vệ môi
trường du lịch…
Tóm lại, một số ý kiến trên đây mang tính gợi ý về định hướng và giải pháp thúc đẩy
sự phát triển kinh tế của tỉnh Ninh Thuận trong thời gian tới, trên cơ sở các ý tưởng, các đề
Kỷ yếu hội thảo
22
xuất tại hội thảo lần này tỉnh Ninh Thuận cần tiếp tục triển khai nghiên cứu các đề án cho
từng ngành, lĩnh vực cụ thể nhằm bổ sung và hiện thực hóa các quan điểm, định hướng
và giải pháp nhằm góp phần phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Ninh Thuận nhanh và bền
vững đến năm 2020 và những năm tiếp theo.
23
ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NHANH VÀ BỀN VỮNG KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH NINH THUẬN ĐẾN NĂM 2020 VÀ NHỮNG NĂM TIẾP THEO
NINH THUẬN: TÌM KIẾM CÁCH TIẾP CẬN PHÁT TRIỂN MỚI
TRONG KHÔNG GIAN HỘI NHẬP
?
Viện Kinh tế Việt Nam
Giả thuyết: Ninh Thuận không sẵn có nhiều tiềm năng và lợi thế phát triển. Nhưng ít
lợi thế có phải là một “lợi thế” cho sự lựa chọn đột phá phát triển?
Ninh Thuận có những nét đặc sắc và khác biệt, vừa là “lợi thế”, vừa là “bất lợi thế”
cho sự phát triển.
Ninh Thuận còn có di sản lịch sử - văn hóa đặc sắc. Đó là nền văn hóa Chăm độc đáo,
là các tòa tháp Chăm, là nghề gốm Bàu Trúc, là văn hóa truyền thống của các dân tộc ít
người như Raglai, Chu Ru, Đây là một loại tài nguyên du lịch có khả năng tạo sự khác
biệt và có sức hấp dẫn du khách rất riêng của Ninh Thuận.
Ngoài ra, nhờ điều kiện tự nhiên đặc thù, Ninh Thuận còn là xứ của một số“đặc sản”nông
nghiệp ít có hoặc không có ở các địa phương khác như: cừu, dê, nho, táo, hải sản.
Những đặc sản này vốn là sản phẩm “tự nhiên, tự thân” nhiều đời của Ninh Thuận.
Giờ đây, trong thời đại hội nhập và bùng nổ du lịch toàn cầu, chúng có tiềm năng trở thành
- và đang là - những tài nguyên du lịch mang tính “đặc hữu Ninh Thuận”.
Như vậy, tài nguyên tự nhiên - vốn có và mang tính đặc sắc - đặc hữu của Ninh Thuận
không nhiều. Nhưng đó lại là những điều kiện cơ bản để phát triển ngành du lịch hiện đại
và đẳng cấp. Gọi là “những điều kiện cơ bản” vì chúng đáp ứng tốt hai yêu cầu căn bản để
phát triển ngành du lịch hiện đại: i) khám phá và ii) tận hưởng.
1
1
Khái niệm “hiện đại” được nhấn mạnh ở đây gắn với tính “toàn cầu” đang bùng nổ của ngành du lịch và
“đẳng cấp nhu cầu” ngày càng cao của du khách. Tính hiện đại đòi hỏi mỗi điểm đến du lịch phải thỏa mãn
ở mức độ rất cao hai nhu cầu đặc trưng của du lịch hiện đại: khám phá và tận hưởng. Tính mục đích tối cao
của hoạt động du lịch hiện đại là thỏa mãn du khách hoạt động khám phá và tận hưởng. Hai nội dung này
hàm chứa đòi hỏi của du khách đối với ngành du lịch: ăn gì? xem gì? chơi gì? mua gì? Nếu không đáp ứng
các đòi hỏi thì du lịch chỉ còn lại nội dung “nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng”, không có khả năng hấp dẫn du khách
đến và ở lại lâu dài, chi tiêu “hào phóng”. Thực tế diễn ra đối với ngành du lịch Việt Nam mấy năm qua: 80
- 90% du khách tuyên bố “một đi không trở lại” - có lý do căn bản là do các điểm đến du lịch của Việt Nam
không đủ năng lực cung cấp các yếu tố thỏa mãn nhu cầu “khám phá” và “tận hưởng” của du khách quốc tế
ở mức độ cạnh tranh cao so với các nước khác.