MỞ ĐẦU .......................................................................................................................... 1
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN VỀ PHÁT TRIỂN VÀ PHÁT TRIỂN
BỀN VỮNG KINH TẾ - XÃ HỘI ................................................................................. 21
1.1.
Cơ sở lí luận ........................................................................................................ 21
1.1.1.
Về phát triển kinh tế .......................................................................................... 21
1.1.2.
Về xã hội .......................................................................................................... 30
1.1.4.
Các tiêu chí đánh giá phát triển bền vững .......................................................... 42
1.2.
Cơ sở thực tiễn .................................................................................................... 55
1.2.1. Kinh nghiệm quốc tế về phát triển BV KT-XH ...................................................... 55
1.2.2. Bài học rút ra cho tỉnh Champasak .................................................................... 62
Chƣơng 2. HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH CHAMPASAK
........................................................................................................................................ 66
2.1. Khái quát chung về tỉnh Champasak ..................................................................... 66
2.2. Các nhân tố chủ yếu ảnh hƣởng tới phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Champasak 68
2.2.1.Vị trí địa lí ............................................................................................................. 68
2.2.2. Nguồn lực tự nhiên .............................................................................................. 68
1. Lí do chọn đề tài
Hiện nay cả thế giới đang trong quá trình hội nhập và toàn cầu hóa mạnh mẽ,
nền kinh tế mỗi nước đã đạt được những thành tựu nhất định, đời sống con người
ngày một cải thiện và nâng cao. Nhưng bên cạnh sự phát triển đó có nhiều vấn đề
cấp bách đặt ra như nguồn tài nguyên đang dần cạn kiệt do bị khai thác phục vụ
phát triển cũng như các mục đích khác của con người. Đồng thời kéo theo hệ quả là
hệ sinh thái đang dần bị phá hủy, chất lượng môi trường xuống cấp đang đe dọa và
tác động lại chính cuộc sống của loài người. Bởi đứng trên quan điểm xã hội học thì
con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội, kinh tế và tự nhiên. Do đó, con người
không thể vừa đứng ngoài xã hội hoặc tách rời khỏi môi trường sống xung quanh.
Việc nghiên cứu tìm ra các giải pháp để hạn chế rủi ro và sự cố trong quá trình phát
triển trở thành vấn đề ngày càng có ý nghĩa cấp bách hơn đối với thực tế phát triển
kinh tế xã hội của mỗi quốc gia, trong đó CHDCND Lào cũng không ngoại lệ.
Chính vì thế, yêu cầu đặt ra là phải phát triển kinh tế xã hội theo hướng bền vững.
Thực tế CHDCND Lào tiến hành xây dựng đất nước từ điểm xuất phát thấp,
nền kinh tế lạc hậu mang tính chất tự cung tự cấp. Về khoa học kỹ thuật cũng như
kết cấu hạ tầng chưa phát triển, bên cạnh là năng suất lao động còn thấp, thu nhập
bình quân trên đầu người cũng vào loại thấp. Nhưng trong quá trình hội nhập, tỉnh
Champasak đang tận dụng thế mạnh của mình nhằm góp phần vào quá trình phát
triển kinh tế xã hội của đất nước, trong đó phải kể đến là nguồn tài nguyên thiên
nhiên hết sức đa dạng và phong phú.
Với mong muốn nghiên cứu các vấn đề lý luận về phát triển bền vững kinh tế
xã hội và thực tiễn phát triển của CHDCND Lào nói chung, tỉnh Champasak nói
riêng, tác giả đã lựa chọn đề tài “Phát triển bền vững kinh tế - xã hội tỉnh
Champasak CHDCND Lào” nhằm vận dụng cơ sở lý luận về phát triển bền vững
vào quá trình nghiên cứu để đánh giá các tiềm năng, làm sáng tỏ thực trạng phát
triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Từ đó đề xuất các giải pháp nhằm phát triển bền vững
đồng thời có hiệu quả về kinh tế và xã hội.
có sự thống nhất trên toàn thế giới. Có lẽ các nhà nghiên cứu nên bàn bạc thảo luận,
nghiên cứu để đề ra một bộ chỉ tiêu chung. Như vậy kết quả đánh giá sẽ chính xác
và khách quan hơn [72].
Bền vững là một điều khoa trương hay là một thực tế
3
Theo tác giả, sự phát triển bền vững cần được đảm bảo trong 4 lĩnh vực:
kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa. Sinh thái học là một tổng thể, nó bao quát toàn
bộ khung cảnh và toàn bộ các quan hệ, xử lý sáng suốt với sinh thái là một việc tìm
kiếm các phương thức tối ưu và quy mô mà các quần thể loài người đang phải ứng
dụng công nghệ để sử dụng các tài nguyên trong môi trường của họ. Tác giả đã đưa
ra một số chỉ tiêu bền vững và Dự án chỉ số bền vững của châu Âu. Như vậy, đề cập
đến vấn đề phát triển bền vững, ngoài các mặt kinh tế, xã hội thì mặt chính trị và
văn hóa cũng được đánh giá cao. Cuộc tranh luận về bền vững được khép lại với
những điều không xác định và những câu hỏi không có được sự trả lời, trong đó có
2 câu hỏi:
- Sự phát triển bền vững đích thực có hòa nhập được với nền kinh tế toàn cầu hóa
hay không ?
- Liệu sự phát triển bền vững đích thực có phù hợp với sự làm tăng khoảng cách
trong kinh tế toàn cầu hóa hay không ?
Nội dung cuốn sách đã đề ra rằng cần phát triển bền vững một cách toàn diện
ở các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa. Nhưng các cuộc tranh luận về
bền vững vẫn chưa đưa ra được câu trả lời rằng bền vững là một điều khoa trương
hay là một thực tế. Theo tác giả nghiên cứu thì sự phát trển bền vững đạt được các
chỉ tiêu thì có thể hòa nhập được với nền kinh tế toàn cầu hóa.
“Trở lại với con người”(Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia
viện nghiên cứu con người, NXB khoa học xã hội, Hà Nội 2003)
Nội dung cuốn sách đã đề cập đến vấn đề nhân lực xã hội, chủ nghĩa Mác và
thêm nguồn thu nhập, ngoài việc sản xuất nông nghiệp. Ngoài ra họ có thể gắn bó
với nhau thành nhóm sản xuất vững mạnh. Mặt tiêu cực là quá trình sản xuất chậm
chạm, công cụ sản xuất thủ công, bộ máy tổ chức không linh hoạt [111].
Kovin Sangsanan - tạp chí Chính trị “Phát triển cộng đồng để đảm bảo cho
sự phát triển bền vững”, số 1 tháng 2 năm 2013. Trong bài viết này tác giả đã đề
cập 3 yếu tố như: kinh tế, xã hội và môi trường; đã đặt khá nhiều câu hỏi xung
quanh các vấn đề này. Về kinh tế, theo tác giả phải phát triển cơ sở hạ tầng, nghiên
cứu sự khác biệt về thu nhập và vấn đề xóa đói giảm nghèo của cộng đồng, vấn đề
xã hội. Tác giả còn đề cập đến tài năng của cộng đồng, tạo ra thu nhập ổn định.
Ngoài ra, tình trạng của tài nguyên thiên nhiên và lĩnh vực môi trường cũng được
nhắc đến [105].
5
Tanva Chittasangvon, “Sự phát triển bền vững, phân tích từ nhân tố tác động
của kinh tế - xã hội”, Báo cáo tại Hội thảo kinh tế cấp quốc gia lần thứ nhất, ngày
15-17 tháng 5 năm 2000. Tác giả nghiên cứu sự phát triển dưới góc độ phân tích hai
nhân tố là nhân tố kinh tế và nhân tố xã hội. Nhân tố kinh tế tập trung sản xuất
nhiều ngành nghề để giảm bớt sự tác động từ bên ngoài. Nhân tố xã hội chia thành
hai yếu tố quan trọng như yếu tố nông dân và yếu tố của nhà nước. Nông dân có thể
thành lập hợp tác xã, làng nghề, băng chuyền sản xuất nông nghiệp. Về yếu tố nhà
nước: nhà nước đưa ra các chính sách hỗ trợ sản xuất và phát triển kinh tế. Qua đó
tác giả đã cho thấy rằng yếu tố kinh tế, xã hội hoặc bao gồm nông dân, hợp tác xã
của toàn quốc nói chung là nhân tố quan trọng có thể quyết định được tới thắng lợi
hay thất bại trong quá trình thực hiện phát triển bền vững kinh tế - xã hội. Bởi vì, đó
là các nhân tố tác động trực tiếp trong quá trình thực hiện phát triển bền vững kinh
tế xã hội [106].
Katrin Voegli “Tăng trưởng kinh tế thông qua việc phát triển”, trường hợp
của Hàn Quốc, Viện nghiên cứu kinh tế (IEW) tại Đại học Zurich, tháng 7 năm
lợi ích quốc gia từ cơ sở hạ tầng rất tốt và hệ thống giáo dục có chất lượng cao.
Tăng trưởng kinh tế của Pháp chủ yếu là nhờ tiêu thụ nội địa trong thập kỷ qua. Các
khoản tài chính công của Pháp được bù đắp bằng các bảng cân đối vững chắc của
khu vực tư nhân. Mặc dù nền kinh tế tự do rộng rãi, chính phủ đóng vai trò quan
trọng trong nền kinh tế, chi tiêu của chính phủ chiếm 57% GDP vào năm 2013.
Chính quyền sở hữu cổ phần trong các công ty trong một loạt các lĩnh vực và thị
trường lao động, kể cả tiền lương. Ngoài ra, Chính phủ còn sử dụng các quy tắc
nghiêm ngặt và một hệ thống thuế cao thị trường lao động cứng nhắc đã làm suy
yếu vị thế cạnh tranh của Pháp. Tác giả đã cho thấy vấn đề xã hội như vấn đề lão
hóa của dân số Pháp dự kiến sẽ tương đối nhẹ so với các nước khác ở châu Âu,
nhưng nó vẫn còn là một thách thức quan trọng để giữ quyền kiểm soát chi tiêu liên
quan đến tuổi. Ngoài ra, những người trong độ tuổi lao động cần phải tăng kỳ đóng
góp tối thiểu cần thiết cho quỹ lương hưu đầy đủ 41-43 năm là một bước đi đúng
hướng [111].
Fukunari Kimura, Báo cáo nghiên cứu khoa học “Sự phát triển kinh tế Nhật
Bản”, tháng 9 năm 2009. Tác giả đã phân tích rõ quá trình hình thành kinh tế Nhật
Bản đặc biệt là quá trình đi vào sản xuất công nghiệp Nhật Bản là nước châu Á đầu
tiên đưa chính sách phát triển công nghiệp sớm nhất và thành công nhất. Trong quá
7
trình phân tích kinh tế - xã hội của Nhật Bản, tác giả cho thấy sự ổn định về kinh tế
vĩ mô, sự phát triển nguồn nhân lực và cơ sở hạ tầng đảm bảo cho quá trình phát
triển kinh tế. Ngoài ra, còn thể hiện cho thấy chính sách công của Nhật Bản có lúc
tốt và có lúc không phủ hợp tùy theo giai đoạn của thị trường và vị thế, lợi thế của
tính năng động thị trường. Tác giả còn cho thấy không chỉ là các nước kinh tế phát
triển mà ngay cả các nước đang phát triển cũng gây sức ép lớn đối với Nhật Bản
trong thời kỳ thế giới phẳng như hiện nay [113].
Robert WEIDES (chủ biên) Bộ Ngoại giao Lúc Xăm Bua “Sự phát triển kinh
nước này.
Tháng 4 năm 1968: Câu lạc bộ Rôm được thành lập. Đây là một tổ chức phi
chính phủ, hỗ trợ cho việc nghiên cứu “Những vấn đề của thế giới” các vấn đề được
đặt ra những vấn đề chính trị, văn hóa, xã hội, môi trường và công nghệ trên toàn
cầu với tầm nhìn lâu dài. Tổ chức này đã tập hợp được nhiều những nhà khoa học,
nhà nghiên cứu, nhà kinh doanh cũng như các nhà lãnh đạo của các quốc gia trên
thế giới. Trong nhiều năm, câu lạc bộ Rôm đã công bố một số lượng lớn các báo
cáo, bao gồm cả bản báo cáo giới hạn của sự tăng trưởng – được xuất bản năm 1972
đề cập tới hậu quả của việc tăng dân số quá nhanh, sự hữu hạn của các nguồn tài
nguyên... [99, tr 39].
Năm 1970: Thành lập Chương trình Con người và Sinh quyển của UNESCO,
với mục tiêu là phát triển cơ sở khoa học cho sự phát triển hợp lý và bảo tồn các tài
nguyên của sinh quyển và cải thiện hệ toàn cầu giữa loài người và môi trường.
Năm 1972: Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Con người và Môi trường: tại
Stockhom Thụy Điển, được đánh giá là hành động đầu tiên đánh dấu sự nỗ lực
chung của toàn thể nhân loại nhằm giải quyết vấn đề môi trường.
Năm 1980: Chiến lược bảo tồn thế giới. Tiếp hội nghị Stockhom, các tổ chức
bảo tồn như Hiệp hội Bảo tồn thiên nhiên Thế giới (IUCN), Chương trình Môi
trường Liên Hiệp Quốc (UNEP) và Quỹ Bảo vệ Thiên Nhiên Thế giới (WWF) đã
đưa ra “Chiến lược bảo tồn thế giới”. Trong chiến lược này thuật ngữ Phát triển bền
vững lần đầu tiên được nhắc tới [99, tr 39].
Năm 1992: Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên Hiệp Quốc tại Rio
de Janeiro, Brazil. Tại đây, các đại biểu tham gia đã thống nhất các nguyên tắc cơ
bản và phát động chương trình hành động vì sự phát triển bền vững có tên Chương
trình Nghị sự 21 vào năm 2002, Hội nghị thượng định thế giới về phát triển bền
vững: tại Johannesburg Nam Phi là dịp cho các bên tham gia nhìn lại những việc đã
9
thập niên 80 đầu thập niên 90 thế kỷ 20, mặc dù xuất hiện khá muộn nhưng nó lại
sớm được thể hiện ở nhiều cấp độ. Đã có hàng loạt công trình nghiên cứu liên quan
10
mà đầu tiên phải kể đến là công trình do giới nghiên cứu môi trường tiến hành như
“Tiến tới môi trường bền vững” (1995) của trung tâm Tài nguyên và Môi trường,
Đại học tổng hợp Hà Nội. Công trình này đã tiếp thu và mở rộng khái niệm phát
triển bền vững theo báo cáo Brundtland như một tiến trình đòi hỏi đồng thời trên
bốn lĩnh vực: Bền vững về mặt kinh tế, bền vững về mặt nhân văn, bền vững về mặt
môi trường, bền vững về mặt kỹ thuật. Ngoài ra, chủ đề này cũng được bàn luận sôi
nổi trong giới khoa học xã hội với các công trình như: “Đổi mới chính sách xã hội Luận cứ và giải pháp” (1997) của Phạm Xuân Nam. Trong công trình này tác giả
làm rõ 5 hệ chỉ báo thể hiện quan điểm phát triển bền vững: Phát triển xã hội, phát
triển kinh tế, bảo vệ môi trường, phát triển chính trị, tinh thần, trí tuệ và cuối cùng
là chỉ báo quốc tế về phát triển. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu này có một
điểm chung là thao tác hóa khái niệm phát triển bền vững theo Brundtland. Tuy
nhiên cần nói thêm rằng những thao tác này còn mang tính chất liệt kê. Đối với cấp
độ địa phương, vùng miền hay các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội vẫn chưa
được làm rõ.
Theo từ điển Tiếng Việt của nhóm tác giả Nguyễn Kim Thân, trung tâm khoa
học và nhân văn quốc gia cho rằng “phát triển là sự biến đổi hoặc làm cho biến đổi
từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp”. Còn
Ivan Illich coi “sự phát triển” là hiện đại hóa sự nghèo khổ” và mất đi về cơ bản khả
năng để mọi người xác định và đáp ứng những nhu cầu riêng của mình. Đối với nhà
kinh tế học kiêm nhà lập kế hoạch Gustavo Esteva (1992) ở Mêhicô thì sự phát triển
là: “ Một từ bắt buộc phải gánh vác và bị kết tội hủy diệt… Từ thi hài không được
chôn cất của sự phát triển, tất cả các loài sâu chuột bắt đầu lan ra… Sự phát triển đã
bị tan biến. Đã đến lúc phải khôi phục sự thanh bình. Cần thiết gì đến đôi nạng hay
chí cũng như tham luận tại các hội thảo khoa học. Với nội dung được đề cập đến
vừa mang tính lí luận cũng như thực tiễn liên quan đến phát triển kinh tế xã hội của
Việt Nam. Đó là các vấn đề như chiến lược phát triển, chủ thuyết phát triển, tư duy
chiến lược, mô hình phát triển,… Ngoài ra, các tác giả còn đề cập đến một số định
hướng phát triển cụ thể của đất nước như phát triển đội ngũ tri thức, phát triển kinh
tế nông thôn,... Tuy nhiên các tác giả chưa đề cập nhiều đến yếu tố môi trường trong
việc phát triển bền vững với quá trình phát triển kinh tế - xã hội phải gắn liền với
việc bảo vệ môi trường.
TS. Nguyễn Minh Tuệ “Phát triển kinh tế và vấn đề bảo vệ môi trường vùng
Tây Nguyên trong tình hình mới”, đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, năm 2006.
12
Trong nội dung nghiên cứu, tác giả đã tổng quan về cơ sở lý luận về phát triển kinh
tế và môi trường để vận dụng vào vùng Tây Nguyên; Phân tích, đánh giá thực trạng
phát triển kinh Tây Nguyên và tác động của nó đến môi trường toàn vùng, nêu lên
những kết quả đạt được, những tồn tại trong quá trình phát triển kinh tế và đề xuất
một số giải pháp nhằm đảm bảo cho phát triển nhanh nền kinh tế và bảo vệ môi
trường. Tác giả đã cho người đọc nhận thức được rằng trong quá trình phát triển
kinh tế phải đi liền với việc bảo vệ môi trường. Nhưng các vấn đề về xã hội như
chất lượng cuộc sống, y tế, giáo dục, bảo hiểm xã hội,… lại ít được đề cập đến vì
tác giả tập trung nghiên cứu về kinh tế và các chính sách bảo vệ môi trường.
Triết lý phát triển ở Việt Nam mấy vấn đề cốt yếu, GS.TS Phạm Xuân Nam
(chủ biên), Nhà xuất bản Khoa học Xã hội 2008. Cuốn sách gồm 7 chương, trong
đó đã nêu lên những triết lý về phát triển xã hội, về sự nhân bản hóa các mối quan
hệ giữa cái kinh tế và cái xã hội trong phát triển. Cần phải vận dụng các triết lý này
cùng tư tưởng Hồ Chí Minh kể từ quá trình cách mạng giải phóng dân tộc và bước
đầu xây dựng CNXH ở miền bắc Việt Nam, cho đến quá trình đẩy mạnh CNH,
HĐH và cả tương lai. Trong chương 3 tác giả đã đề cập đến cái kinh tế và cái xã hội
TS. Bùi Đức Hùng (chủ biên), Một số vấn đề cơ bản về phát triển bền vững
vùng duyên hải Nam Trung Bộ, Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa, 2012. Cuốn sách
là kết quả nghiên cứu của đề tài cấp Bộ, cơ quan quản lý là Viện Khoa học Xã hội
Việt Nam, do Viện phát triển bền vững vùng Trung Bộ chủ trì thực hiện. Nội dung
cuốn sách đã nêu lên một số vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển bền vững cấp
vùng trong quá trình đô thị hóa, đồng thời còn trình bày về thực trạng phát triển bền
vững duyên hải Nam Trung Bộ, các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển bền vững của
vùng. Từ phân tích SWOT vùng duyên hải Nam Trung Bộ trong quá trình phát
triển, người viết đã đưa ra nhận định đúng đắn về tiềm năng lợi thế, điểm mạnh
điểm yếu cũng như cơ hội và nguy cơ của vùng. Từ đó tác giả đã đề xuất định
hướng, giải pháp nhằm phát triển bền vững vùng duyên hải Nam Trung Bộ trong
giai đoạn 2011- 2020.
TS. Đào Hoàng Tuấn, “Phát triển bền vững đô thị: những vấn đề lý luận và
kinh nghiệm của thế giới”, NXB Khoa học xã hội năm 2008. Cuốn sách được hình
thành trên cơ sở là kết quả nghiên cứu đề tài cấp Bộ. Trong đó đã nêu ra những vấn
đề về cơ sở lý luận của phát triển đô thị bền vững, với các nguyên tắc chung và các
tiêu chí của châu Âu. Qua đó rút ra những bài học kinh nghiệm của một số nước về
14
phát triển đô thị bền vững như Singapo, Indonexia, Peru,… Ở chương III tác giả đã
đưa ra định hướng quy hoạch tổng thể về phát triển đô thị Việt Nam đến năm 2020.
Lê Huy Bá (chủ biên), Vũ Chí Hiếu, Võ Đình Long “Tài nguyên môi trường
và phát triển bền vững”, Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật, 2006. Cuốn sách gồm
13 chương, trong đó đã khái quát về tài nguyên và môi trường; sự phát triển bền
vững, vấn đề phát triển bền vững ở Việt Nam và các khái niệm về phát triển bền
vững của thế giới. Từ đó đã đề ra chính sách kinh tế, bảo vệ môi trường và phát
triển bền vững. Theo tác giả “ Phát triển kinh tế bền vững, một chiến lược phù hợp
với tiêu chuẩn hiện tại mà không phá hủy tiềm năng của thế hệ tương lai, là nền
Ở CHDCND Lào, khái niệm “phát triển bền vững” vẫn còn là một khái niệm
mới. Tiến hành xây dựng và thao tác hóa khái niệm này phù hợp với thực tiễn đất
nước, với bối cảnh thế giới hiện nay sẽ có ý nghĩa rất quan trọng. Các nghiên cứu
khoa học môi trường, khoa học xã hội, trong đó đặc biệt là kinh tế học, xã hội học
và luật học hy vọng sẽ có nhiều đóng góp cho việc hoàn thiện hệ thống quan điểm
lý luận về phát triển bền vững của đất nước trong những thập niên sắp tới.
Dưới góc độ địa lý học cũng có nhiều, giáo trình về địa lý kinh tế - xã hội có
ý nghĩa thực tiễn như:
Bun Tien Chanthaphon (chủ biên) cùng nhóm tác giả, Địa lý 4, NXB Nhân
dân TP.Hồ Chí Minh, 2009.
Ken Chăn Sinsamphan (chủ biên) cùng nhóm tác giả, Địa lý Lào, NXB thanh
niên Viêng Chăn, 1998. Tác giả đã đề cập đến:
- Vấn đề tài nguyên thiên nhiên của CHDCND Lào trong quá trình phát triển kinh tế
- xã hội.
- Tình trạng dân số và tài nguyên nhân lực.
- Về phương diện ngành: bao gồm các ngành kinh tế nông nghiệp, công nghiệp, tiểu
thủ công nghiệp, dịch vụ.
- Nông thôn và thành thị.
3. Mục tiêu, nhiệm vụ và giới hạn nghiên cứu
3.1. Mục tiêu
Vận dụng cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển bền vững kinh tế - xã hội
(PTBVKTXH ) để làm căn cứ khoa học việc đánh giá tiềm năng, phân tích thực
trạng PTBVKTXH cũng như định hướng và giải pháp PTBVKTXH tỉnh
Champasak dưới góc độ địa lí học.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
16
- Tổng quan cơ sở lý luận và thực tiến về phát triển bền vững; giới hạn của sự bền
17
4.1.1. Quan điểm hệ thống
Sự phát triển kinh tế - xã hội là một bộ phận cấu thành của hệ thống kinh tế - xã
hội. Sự thay đổi về quy mô các ngành kinh tế có thể chịu ảnh hưởng tự phát của
kinh tế - xã hội và ngược lại. Vì vậy, phải coi sự phát triển như là một hệ thống kinh
tế - xã hội hoàn chỉnh, luôn vận động và phát triển không ngừng.
4.1.2. Quan điểm tổng hợp lãnh thổ
Việc nghiên cứu sự phát triển kinh tế theo hướng bền vững của tỉnh không thể
tách rời vấn đề chung về tài nguyên, nguồn nhân lực phục vụ cho sự phát triển kinh
tế của các tỉnh lân cận phía Nam và của cả nước. Vì vậy việc phát triển bền vững
nền kinh tế - xã hội của tỉnh Champasak không chỉ liên quan trong phạm vi tỉnh mà
còn có mối liên hệ với những tỉnh, vùng và những khu vực khác.
4.1.3. Quan điểm lịch sử - viễn cảnh
Sự khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên nhằm phục vụ nhu cầu, lợi ích của
con người và sự phát triển kinh tế - xã hội từ trong quá khứ đã ảnh hưởng rất lớn
đến môi trường sống, đến quy mô, đặc điểm của sự phát triển kinh tế - xã hội hiện
tại và trong tương lai. Vì vậy, việc nghiên cứu sự phát triển của các ngành kinh tế xã hội theo hướng bền vững trong mối liên hệ quá khứ - hiện tại - tương lai sẽ làm
rõ được bản chất của vấn đề theo một chuỗi thời gian, đảm bảo được tính logic,
khoa học và chính xác khi nghiên cứu.
4.1.4. Quan điểm phát triển bền vững
Phát triển bền vững là một khái niệm tương đối mới, ra đời trên cơ sở đúc
rút kinh nghiệm phát triển của các quốc gia trên hành tinh, phản ánh xu thế phát
triển của thời đại và xu hướng cho tương lai của nhân loại. Đối với việc nghiên cứu
địa lí kinh tế - xã hội, phát triển bền vững có thể được coi vừa là quan điểm, vừa là
mục tiêu nghiên cứu.
Quán triệt quan điểm phát triển bền vững đòi hỏi phải đảm bảo về sự bền
vững về cả ba mặt: kinh tế, xã hội và môi trường. Về mặt kinh tế, đó là tốc độ tăng
trưởng, hiệu quả và sự ổn định của nền kinh tế. Dưới góc độ xã hội, phải chú trọng
4.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
4.2.1. Phương pháp thu thập tài liệu
Đây là phương pháp đặc trưng trong việc nghiên cứu khoa học, việc thu thập
và sưu tầm số liệu là rất cần thiết để có đủ cơ sở tài liệu phân tích so sánh và đánh
giá trong quá trình nghiên cứu kinh tế xã hội. Từ đó rút ra được những nội dung
tổng hợp nhất, đầy đủ nhất đáp ứng được nhiệm vụ và mục tiêu mà vấn đề đã đặt ra
[105].
Các nguồn tài liệu cần thu thập tương đối đa dạng, phong phú bao gồm các
tài liệu đã được xuất bản, tài liệu của các cơ quan lưu trữ với các cơ quan khác nhau
theo chương trình hay đề tài nghiên cứu hoặc theo những vấn đề nghiên cứu riêng
cũng như các tài liệu trên thực địa và cả tài liệu trên mạng Internet.
4.2.2. Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, việc vận dụng phương pháp phân tích, tổng
hợp, so sánh một cách nhuần nhuyễn sẽ mang lại nhiều lợi ích. Sau khi thu thập tài
19
liệu, các số liệu về kinh tế - xã hội của tỉnh Champasak được thu thập từ nhiều
nguồn khác nhau có độ chệnh lệch nhất định. Thông qua các phương pháp này,
nguồn số liệu đã được xử lý sao cho phù hợp với thực tế khách quan. Tiếp theo, tài
liệu được phân tích, tổng hợp, đối chiếu để từng bước biến chúng thành cơ sở cho
những nhận định hoặc kết luận khoa học của công trình nghiên cứu.
Ngoài ra, việc so sánh các đối tượng nghiên cứu theo thời gian và không
gian, bản chất của các đối tượng sẽ dần dần hiện lên và người nghiên cứu có cơ sở
để phát hiện ra tính quy luật của quá trình phát triển.
4.2.3. Phương pháp phân tích lịch sử, viễn cảnh
Mỗi một hiện tượng địa lý kinh tế - xã hội đều tồn tại rong một thời gian
nhất định. Nói cách khách, các hiện tượng này có quá trình phát sinh, phát triển và
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
- Tổng quan có chọn lọc một số vấn đề lí luận về phát triển bền vững; các yếu tố
ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững; các chỉ tiêu đánh giá sự bền vững của phát
triển kinh tế xã hội và vận dụng vào điều kiện cụ thể của tỉnh Champasak.
- Đánh giá nhân tố tác động đến sự phát bền vững triển kinh tế - xã hội tỉnh
Champasak.
- Phân tích vai trò mối quan hệ giữa tài nguyên thiên nhiên; tài nguyên nhân lực đối
với phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Champasak.
- Đề xuất những giải pháp nhằm phát huy tiềm năng thế mạnh của tỉnh, nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực, thực hiện các chính sách cải thiện đời sống cho người
dân, đồng thời phải chú trọng đến bảo vệ môi trường để đáp ứng quá trình phát triển
kinh – xã hội tỉnh Champasak theo hướng bền vững.
- Đóng góp vào nguồn tài liệu nghiên cứu của tỉnh Champasak để các nhà lãnh đạo
tham khảo tài liệu đề ra các chính sách, mục tiêu phát triển kinh tế của tỉnh phù hợp
với thực tiễn và yêu cầu của quá trình phát triển trong thời kỳ mới.
6. Cấu trúc luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, các bản
đồ, tranh ảnh, luận án được cấu trúc làm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển bền vững
Chương 2: Hiện trạng phát triển bền vững kinh tế xã hội tỉnh Champasak
Chương 3: Định hướng và giải pháp nhằm phát triển bền vững kinh tế - xã hội tỉnh
Champasak đến 2030
21
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN VỀ PHÁT TRIỂN VÀ
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG KINH TẾ - XÃ HỘI
Trong tác phẩm “Kinh tế học” ngoài việc dẫn ra một học thuyết kinh tế của
các học giả, A.Smuelson còn chú ý nhấn mạnh rằng, để tăng trưởng kinh tế nói
chung, phải có bốn nhân tố: nhân lực, tài nguyên, cấu thành tư bản và kỹ thuật. Ông
coi đó là “bốn bánh xe thiết yếu của cỗ xe kinh tế”.
22
*Lý thuyết phát triển các điểm trung tâm của W. Chistaller.
Vào đầu những năm 30, W. Chistaller (Mỹ) đã đưa ra lý thuyết phát triển các
điểm trung tâm (1933). Ông đã góp phần to lớn vào việc tìm ra quy luật phát triển
của toàn bộ hoạt động sản xuất vật chất và phi sản xuất theo không gian, là ý tưởng
cho việc nghiên cứu tổ chức không gian kinh tế - xã hội sau này.
Định nghĩa sự phát triển.
Hiện vẫn chưa có sự đồng thuận về cách thức định nghĩa về sự phát triển,
nhưng mục tiêu của phát triển là gì và phải đề ra những chiến lược gì để theo đuổi.
Nhà kinh tế học Keith Griffin đã đánh giá 6 chiến lược phát triển: chủ nghĩa tiền tệ,
nền kinh tế mở, công nghiệp hóa, cuộc cách mạng xanh, phân phối lại và chủ nghĩa
xã hội. Ông đi tới kết luận rằng: “không có một đường lối phát triển nào là tốt
nhất”. Các nhà chiến lược thuộc phái tăng trưởng nhằm vào việc tối đa hóa toàn bộ
nền sản xuất để tạo được “một chiếc bánh kinh tế to hơn”.
Theo từ điển Tiếng Việt của nhóm tác giả Nguyễn Kim Thân trung tâm khoa
học và nhân văn quốc gia cho rằng “phát triển là sự biến đổi hoặc làm cho biến đổi
từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp”. Còn
Ivan Illich coi “sự phát triển” là hiện đại hóa sự nghèo khổ” và mất đi về cơ bản khả
năng để mọi người xác định và đáp ứng những nhu cầu riêng của mình. Đối với nhà
kinh tế học kiêm nhà lập kế hoạch Gustavo Esteva (1992) ở Mêhico thì sự phát triển
là: “Một từ bắt buộc phải gánh vác và bị kết tội hủy diệt… Từ thi hài không được
chôn cất của sự phát triển, tất cả các loài sâu chuột bắt đầu lan ra… Sự phát triển đã
bị tan biến. Đã đến lúc phải khôi phục sự thanh bình. Cần thiết gì đến đôi nạng hay
Thân thiện về sinh thái.
-
Một khuôn mẫu toàn diện về cuộc sống, có quan hệ tới các hệ thống ý nghĩa,
hình tượng và tín ngưỡng liên quan tới ý nghĩa cuối cùng của cuộc sống và lịch
sử.
Đó là những khái niệm phát triển của một số nhà khoa học, còn những ý
tưởng hàm ý phát triển bền vững sớm xuất hiện trong xã hội loài người nhưng phải
đến thập niên đầu của thế kỷ XX, những hàm ý này mới phát triển, chuyển hóa
thành hành động và cao hơn là phong trào xã hội. Tiên phong cho các trào lưu này
phải kể đến giới bảo vệ môi trường ở Tây Âu và Bắc Mỹ. Thập kỷ 70, thuật ngữ xã
hội bền vững tiếp tục xuất hiện trong các công trình nghiên cứu của các học giả
phương Tây với công trình của Barry Commner “Vòng tròn khép kín” (1971),
Herman Daily “Kinh tế học nhà nước mạnh” (1973) và công trình “Những con
đường sử dụng năng lượng mềm: về một nền hòa bình lâu dài” của Amory Lovins
(1977). Khái niệm phát triển bền vững tiếp tục được đề cập và bổ sung với những
đóng góp quan trọng thể hiện trong các tác phẩm của Maurice Strong (1972) và
Ignacy Sachs (1975). Đặc biệt khái niệm này được đề cập toàn diện nhất trong công
trình của Laster Brown “Xây dựng một xã hội bền vững” (1981).
Trong việc phát triển kinh tế của một quốc gia, khi có con người mới khai
thác được tài nguyên và nếu con người không phát triển thì kinh tế cũng không phát
triển. Như vậy, sự phát triển cũng phải mang tính chất toàn diện. Chúng ta hiểu rằng
nó phải có sự biến đổi, một sự biến đổi về lượng để dẫn đến sự biến đổi về chất.
Định nghĩa của Denis Groulet về phát triển đã bao quát tương đối đầy đủ về các
phương diện của nó. Các phương diện này được quy lại trong ba vấn đền lớn: kinh
tế, xã hội (trong đó gồm cả văn hóa) và môi trường.
tranh luận về khái niệm này mà đến nay vẫn chưa ngã ngũ.
Theo giáo sư Grima Lino “Phát triển bền vững là một mô hình chuyển đổi
mà nó tối ưu các lợi ích kinh tế và xã hội trong hiện tại nhưng không hề gây hại