I .LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
“ Dạy học là một nghệ thuật” nghĩa là thực hiện một tiết dạy trên lớp không chỉ
đơn thuần là truyền thụ đầy đủ kiến thức SGK , hoàn thành kế hoạch bài giảng. Bài
giảng dù dễ hay khó , dù đơn giản hay phức tạp thì luôn cần một tấm lòng của thầy
đối với học sinh thân yêu.
Thực tế cho thấy , đôi khi kết thúc một tiết học HS cảm thấy căng thẳng , nặng
nề mà bản thân mỗi giáo viên cũng cảm thấy mệt mỏi không kém .
Yêu cầu giáo dục nagỳ nay phải ‘ Biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào
tạo” nghĩa là GV chỉ là người hướng dẫn , theo dõi, dẫn dắt , HS pahỉ là người chủ
động chiếm lĩnh tri thức . Nhằm đào tạo ra những con người năng động , độc lập ,
sáng tạo , biết hợp tác giúp đỡ nhau cùng tìm ra tri thức . Biết vận dụng những kiến
thức đã học vào cuộc sống cho bản thân cũng như xã hội.
Vâỵ làm thế nào để thực hiện đâỳ đủ các bước lên lớp , hoàn thành kế hoạch bài
giảng mà không rơi vào rậ khuôn , máy móc , không còn cảm giác mệt mỏi cho cả
thầy lẫn trò mà đáp ứng được mục tiêu chung là điều bản thân tôi và nhiều GV
khác luôn trăn trở băn khoăn .
Điều đó đã thôi thúc tôi đi nghiên cứu đề tài “ Nâng cao hiệu quả các bước lên
lớp trong một tiết dạy sinh học 8”.
II. THỰC TRẠNG TRỨƠC KHI THỰC HIỆN CÁC GIẢI CÁC GIẢI PHÁP
CỦA ĐỀ TÀI .
1. Thuận lợi .
- Được sự quan tâm sâu sát của các cấp lãnh đạo : Phòng GD đào tạo , chính
quyền địa phương , hội cha mẹ học sinh.
- Ban giám hiệu luôn quan tâm chỉ đạo kịp thời .
- Đội ngũ giáo viên nhiệt tình , năng động tạo thành một khối đoàn kết giúp
nhau cùng tiến bộ .
- HS là con em lao động đa số có đạo đức tốt .
- Đồ dùng dạy học môn sinh học đa số dễ kiếm , mẫ tươi sống .
2. Khó khăn .
- Phòng thực hành thiết kế không có khoa học .
- Máy chiếu của trường còn thiếu , không có phương tiện để gáo viên dạy công
ta phải vận dụng linh hoạt tuỳ từng bài cụ thể . Nếu bài học có nội dung quá dài
, GV không nên kiểm tra đầu giờ mà thay bằng cách xen kẽ qua các mục của
bài học . Nếu mục nào có liên quan đến kiến thức bài cũ , GV nên yêu cầu hs
nhắc lại để vận dụng luôn vào bài học mới , ngược lại nếu bài học có nội dung
ngắn , GV nên tăng cường kiểm tra bài cũ .
GV nên hạn chế việc đọc câu hỏi rồi gọi hs lên mà có thể cho các em đứng
tại chổ trả lời . GV chuẩn bị sẵn một số câu hỏi tương ứng : 1,2,3… cho hs lựa
chọn số sau đó chiếu câu hỏi tương ứng lên để hs trả lời . Đặc biệt những câu
hỏi tiết trước hs phải nghe giảng mới trả lời được GV nên khuyến khích nghi
điểm cao , đặc biệt là những hs yếu kém . để tận dụng thời gian GV có thể đồng
thời một hs trình bày nội dung viết lên bảng, hs khác trả lời bằng miệng .
Giới thiệu bài mới .
Đây là một hoạt động tưởng chừng như không cần thiết , nhưng lại là một yêu
cầu không thể thiếu được, vì nó không chỉ tạo ra ru8ng cảm ban đầu cho hs mà
còn đặt ra những tình huống cần giải quyết , atọ hứng thú cho hs.Do đó GV
không thể bỏ qua hoặch giới thiệu sơ sài .
VD: Sinh học 8 bài 14 Hôm trước chúng ta đã học bài máu và môi trường
trong cơ thể hôm nay chúng ta tiếp tục học bài 14 Bạch cầu và miễm dịch.
GV cần vào bài một cách tự nhiên , tgạo ra tình huống có vấn đề hoặc tạop
điều kiện cho hs tự bộc lộ tình huống có vấn đề , những mâu thuẫn cần giải
quyết , có vậy các em mới chủ động học tập , tập trung cao độ để giải quyết vấn
đề một cáhc có hiệu quả nhất cụ thể như ở bài 14:
GV:Hằng nagỳ chúng ta đều có thể bị thương sau đó vết thương sưng tấy lên ,
vết thương có sưng tấy mãi được không ?
HS: Có thể tự lành sau một thời gian .
GV: Tại sao vết thương lại sưng tấy lên ? tại sao chúng lại có thể tự lành ?
Chúg ta sẽ cùng đi tìm câu trả lời ở bài 14 : Bạch cầu và miễn dịch
Nội dung bài mới .
2
Đây là nhiệm vụ trọng tâm của tiết học , GV cần phaỉ xác định được :
HS phát biểu khái niệm.
GV : Sữa chữa lại cho hoàn chỉnh kiến thức .
Dạng bài lý thuyết mang tính thực hành tại chỗ: Dạng bài này chủ yếu
cho hs quan sát , tìm tòi phát hiện kiến thức sau đó GV giúp hs củng cố .
VD: Sinh học 8: bài 7: Bộ xương.
I Các phần chính của bộ xương .
GV: yêu cầu hs quan sát mô hình xác định các phần chính của bộ xương …
rồi giúp hs chốt lại kiến thức .
Dạng bài thực hành :Giúp hs rèn kĩ năng thực hành , khả năng quan sát
củng cố kiến thức .
VD: Sinh học 8,bài 23: Hô hấp nhân tạo .
GV: Yêu cầu hs nghiên cứu bài trước ở nhà . Cho hs trình bày cách làm . GV
điều chỉnh sau đó cho hs tiến hành
GV: Sữa lỗi cho các nhóm .
3
Dạng bài ôn tập : Đây là dạng bài đồi hỏi GV pjải có nhiều kinh nghiệm, kĩ
năng nghiệp vuk rất cao . GV thâu tóm toàn bộ kiến thức trọng tâm thành
các sơ đồ hoặc phiếu giao nhiệm vụ .
GV phải tận dụng tối đa tranh ảnh , mẫu vật có sẵn , khuyến khchs hs nêu thắc
mắc bằng cách : khi có hs nào đưa ra câu hỏi , GV nên khen ngợi nếu các em
có câu hỏi hay . GV phải nhiệt tình giải đáp nếu có cơ hội cho hs tranh luận ,
cùng nhau giải đáp , lúc này GV đóng vai trò là người trong tài để phân giải
cho các em.
Kiểm tra đánh giá .
Trước yêu cầu của chương trình cũng như của xã hội hiện nay , Gv có thể đánh giá
hs theo nhiều hình thức :
Rèn kĩ năng phê và tự phê : HS có khẳ năng tự đánh giá kết quả học tập của
bản thân và cho bạn dưới sự cố vấn của GV
VD: Sinh học8, bài 14: Đông máu và nguyên tắc truyền máu .
-GV phát phiếu đánh giá ( Câu hỏi, bài tập)
thần học tập, vui tươi sau một tiết học , giúp hs không còn cảm thấy căng
thẳng , mệt mỏi khi học môn sinh .
Dặn dò
Đây là phần tưởng như không cần thiết do đó không ít GV bỏ qua hoặc quên
nhưng thực ra nó là một khâu không kém phần quan trọng . GV cần giúp HS
biết được các em cần học những nội dung nào, ôn tập những kiến thức nào,
chuẩn bị những gì cho tiết học sau.
3. Thực hiện các bước lên lớp trong một tiết dạy
VD: Sinh học 8, Bài 15: Đông máu và nguyên tắc truyền máu
A. Mục tiêu bài học :
• Kiến thức:
- HS trình bày được cơ chế đông máu và vai trò của nó trong bảo vệ cơ thể .
- Trình bày được các nguyên tắc truyền máu và cơ sở khoa học của nó .
• Kỹ năng :
- Rèn kỹ năng: -Quan sát sơ đồ thí nghiệm tìm kiến thức .
-Hoạt động nhóm.
-Vận dụng lí thuýet giải thích các hiện tượng liên quan đến đông máu
trong đời sống
• Thái độ .
- Giáo dục ý thức giữ gìn , bảo vệ cơ thể ,biết xử lí khi bị chảy máu và giúp đỡ
những người xung quanh.
B. ĐỒ DÙNG DẠY HỌC.
- GV chuẩn bị tranh phóng to SGK Tr 48,49. Bảng phụ .
C. HOẠT ĐỘNG DẠY - HỌC.
1. Ổn định lớp (1’).
2. Kiểm tra bài củ: ( 4’)
-Cho biết Thành phần cấu tạo của máu ? Vai trò của huyết tương, hồng cầu,
bạch cầu?
3. Bài mới .
- Giới thiệu bài: Khi bị đứt tay em thấy có hiện tượng gì ( Chảy máu ) . trường hợp
nếu bị thương chảy mất khoảng 1/3
lượng máu của cơ thể thì tính mạng sẽ
bị đe doạ.
- Sự đông máu có ý nghĩa gì đối với cơ
thể?
GV giải thích thêm: Đối với người bị
thương : sự đông máu cùng với sự co lại
của thành mạch có tác dụng bịt kín vết
thương làm cho máu không chảy ra
ngoài nữa.Đối với người bị mổ , người
ta tiêm V
k
làm cho máu chống đông ,
giúp người bệnh nhanh lành vết mổ .
- Sự đông máu liên quan tới yếu tố nào
của máu?
- Tiểu cầu đóng vai trò gì trong quá
trình đông máu ?
- GV tổng hợp ý kiến và đi đến kết luận.
- GV liên hệ thực tế :
- Nếu ngưòi thân, bạn bè hoặc người
xung quanh em bị chảy máu em sẽ xử lí
như thế nào
- GV: Đông máu chỉ xẩy ra với trường
hợp vết thương không lớn lắm còn vết
thương lớn cần phải thực hiện các biện
pháp cầm máu .
-Các nhóm tiến hành thảo luận .
- Đại diện nhóm lên trình bày, các nhóm
khác bổ sung.
- Giải thích cơ sở khoa học của việc cho, nhận máu .
Hoạt động cảu GV Hoạt động của HS
- GV yêu cầu HS thu thập thông tin từ
kiến thức .
Ở người cón những nhóm máu nào?
- Thí nghiệm của Các lanstâynơ cho
biết:
+ Hồng cầu trong máu gười có loại
kháng nguyên nào?
+ Trong huyết tương có những loại
kháng thể nào ?
- Trong các nhóm máu A, B, AB, O có
những kháng nguyên và kháng thể
nào ?
- GV giới thiệu : Nếu đem truyền máu
có kháng nguyên A với máu có kháng
thể và máu có kháng nguyên B với
máu có kháng thể ß thì sẽ gây kết dính
hồng cầu máu của người nhận không
thể lưu thông tử vong .
- GV yêu cầu HS dựa vào hình 15 SGK.
Và hoàn thành sơ đồ cho và nhân máu .
- GV kẻ sẵn sơ đồ cho và truyền máu
yêu cầu đại diện nhóm lên hoàn thành
- GV thông báo đáp án đúng .
a. Các nhóm máu ở người
- HS tự tìm hiểu thông tin .
HS trả lời.
Ở người có 4 nhóm máu : A, B, AB, O
- HS :
- Khi truyền máu để không xẩy ra hậu
quả xấu cần tuân thủ các nguyên tắc
nào?
B
B
b. Các nguyên tắc cần tuân thủ khi
truyền máu .
HS: Không . Vì gây kết dính
HS: được.
HS: Không . Vì sẽ truyền bệnh cho
người nhận máu .
HS trả lời.
Khi truyền máu cần tuân thủ các
nguyên tắc:
- Làm xét nghiệm trước để lựa chọn
máu truyền cho phù hợp tránh tai
biến( Hồng cầu người cho bị kết dính
trong huyết tương ngưòi nhận gây tắc
mạch) và tránh nhận máu nhiễm các
tác nhân gây bệnh .
4. Kiểm tra đánh giá .
GV hỏi đại diện 1 số hs cho biết nhóm máu của mình và cho biết máu của mình có
thể cho và nhận máu của người có nhóm máu nào? Vì sao?
5. Dặn dò :
- Trả lời câu hỏi SGK .
- Đọc mục em có biết.
IV KẾT QUẢ
Sau một thời gian giảng dạy có vận dụng sáng tạo các bứơc lên lớp tôi nhận thấy
rằng:
- Đối với GV: Việc chuẩn bị cho một tiết dạy có phần vất vã , công phu hơn
VI. KẾT LUẬN.
Để thực hiện một tiết dạy lên lớp đạt hiệu quả , GV phải đống vai trò là “một
soạn giả” thiết kế giáo án, “ một đạo diễn” lựa chộn phưong pháp, xác định mục
tiêu , nội dung, dự trù được diễn biến của hoạt động đồng thời là một diễn viên thể
hiện một cách linh hoạt các nội dung đã đề ra cho phù hợp với các đối tượng HS ,
xử lí một cách có hiệu quả các tình huống bất ngờ xẩy ra trong tiết học , đảm bảo
không rơi vào rập khuôn máy móc, khong đi lạc hướng .
Sau gần 5 năm giảng dạy tôi thấy ràng đồ dùng dạy học ở một số bài rất cần
nhưng lại thiếu trong khi một số bài không thực sự cần thiết thị vẫn có hoặc một số
mô hình dạy học rất dễ bị hư hỏng , phòng bộ môn cần nghiên cứu kĩ để đảm bảo
phù hợp với đặc trung của bộ môn . Đồng thời cần tăng cương tổ chức các chuyên
đề cụ thể để GV học hỏi lẫn nhau .
Trên đây là một số kinh nghiệm ít ỏi mà trong quá trình giảg dạy tôi đã rút ra
được . Tuy đã cố gắng rất nhiều nhưng chắc chắn sẽ không tránh khỏi thiếu sót , rất
mong được đóng góp nhiệt tình của quí thầy cô giúp tôi tiến bộ hơn trong sự
nghiệp của mình .
9