A. MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Các nhà phương pháp học nổi tiếng khi nghiên cứu về những phương
pháp dạy học tích cực đều có chung nhận định, phươg pháp trực quan tích cực
hơn phương pháp thuyết giảng truyền thống. Trong giảng dạy địa lí có thể sử
dụng rất nhiều những thiết bị dạy học trực quan nhằm nâng cao hiệu quả bài
học. Thiết bị dạy học có ý nghĩa rất lớn đối với việc tiếp thu kiến thức của học
sinh.
Trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy hiện nay, các giáo viên đã rất chú
trọng đến việc sử dụng kênh hình để hướng dẫn học sinh học tập môn Địa lí,
bao gồm : bản đồ treo tường, mô hình, lược đồ, các tranh ảnh, bảng biểu, số
liệu thống kê trong sách giáo khoa và trong Atlat …
Trong giảng dạy bộ môn Địa lí, việc khai thác sử dụng kênh hình là phương
pháp giảng dạy mới. Những năm gần đây do tiến bộ của khoa học kỹ thuật và
công nghệ đã cung cấp cho ngành Giáo dục nhiều phương tiện tiên tiến khoa
học như : Máy vi tính, máy chiếu đa năng, băng - đĩa hình…giúp cho việc
giảng dạy nâng cao hiệu quả. Việc sử dụng Atlat để dạy kênh hình là vấn đề
tuy không mới lạ nhưng cũng không ít khó khăn, song lại rất hấp dẫn học sinh
và đem lại hiệu quả cao. Giúp cho học sinh chủ động tiếp thu những kiến thức
theo nội dung bài học, ít phải ghi nhớ máy móc mà hiệu quả cao.
Hiện tại còn một số giáo viên chưa chú trọng sử dụng Atlat trong việc giảng
dạy Địa lí, không hướng dẫn học sinh sử dụng Atlat nên chưa nắm được vai
trò của Atlat trong việc giảng dạy môn Địa lí, nên hiệu quả thấp.
Đối với học sinh lớp 12 việc sử dụng Atlat để học tập là việc làm rất quan
trọng và cần thiết, tạo thói quen làm việc độc lập, sáng tạo cho các em. Đồng
thời làm giảm tâm lí phải học thuộc lòng, giúp các em học tập và làm bài
kiểm tra có hiệu quả hơn, đặc biệt trong những kì thi tốt nghiệp THPT.
Từ cơ sở lý luận và thực tiễn trên, tôi đã lựa chọn đề tài này để nghiên cứu và
thực nghiệm trong quá trình giảng dạy, đến nay đã thu được những kết quả
1
khả quan, đồng thời rút ra được một số kinh nghiệm xin trao đổi cùng các bạn
B. NỘI DUNG ĐỀ TÀI
I . CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG CỦA ĐỀ TÀI.
1.Quan niệm về sử dụng thiết bị dạy học theo tinh thần dạy học tích cực.
Trong các bộ môn khoa học đang dạy ở nhà trường môn nào cũng có một vai
trò nhất định, giúp học sinh nâng cao nhận thức về tự nhiên và xã hội. Môn
Địa lí giữ một vị trí hết sức quan trọng, nó mở mang cho học sinh hiểu biết về
thiên nhiên trên Trái Đất và cả ngoài Vũ trụ, hoạt động văn hoá, xã hội kinh tế
của con người. Giúp các em đi sâu nghiên cứu khoa học, tìm hiểu khám phá
cấu trúc của Trái Đất, nguồn tài nguyên thiên nhiên, các yếu tố tự nhiên, xã
hội để phát triển kinh tế, góp phần nâng cao đời sống nhân dân.…
Riêng ở trường THPT, mỗi môn học đều yêu cầu những đặc điểm riêng, cần
các phương pháp giảng dạy thích hợp. Môn Địa lí đã xác định phương pháp
đặc trưng là sử dụng kênh hình và kênh chữ trong việc dạy và học. Song việc
giảng dạy kênh chữ đã quen thuộc trong nhà trường, nhưng kênh hình mới
được chú trọng trong những năm đổi mới phương pháp dạy học, nên việc vận
dụng nó còn nhiều khó khăn bỡ ngỡ. Nhất là đối với học sinh lớp 12, việc sử
dụng Atlat Địa lí Việt Nam để đọc và phân tích các dữ liệu, rồi đi đến nhận
biết kiến thức qua các trang bản đồ trong Atlat là rất cần thiết, giúp cho học
sinh nhận thức đầy đủ kiến thức, tiếp thu nhanh, dễ hiểu. Đồng thời tránh
được phương pháp diễn giải dài dòng, từng bước gây hứng thú và ham mê
học tập môn Địa lí cho học sinh.
2. Một số thiết bị dạy học Địa lí cơ bản
2.1.Bản đồ: Bản đồ, Atlát là nguồn tri thức quan trọng, được coi là quyển sách
giáo khoa địa lí thư hai của học sinh. Vì vậy giáo viên cần nghiên cứu kĩ càng
nội dung chứa đựng trong bản đồ, từ đó giúp học sinh lực chọn bản đồ phù
3
hợp với nội dung bài học. Trên cơ sở đó mà chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kĩ
năng sử dụng bản đồ.
2.2 Máy tính cá nhân: Giúp HS tính toán xử lí số liệu trong Átlát.
2.3. Những thiết bị kĩ thuật hiện đại.
4. Giáo viên cần giúp học sinh nắm được trình tự các bước làm việc với thiết
bị dạy học để tìm tòi kiến thức, rèn luyện kĩ năng và phát triển tư duy học
sinh.
IV.GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. TẦM QUAN TRỌNG CỦA ATLAT ĐỊA LÍ VIỆT NAM TRONG
VIỆC GIẢNG DẠY VÀ HỌC TẬP MÔN ĐỊA LÍ LỚP 12.
1.1. Bố cục của Atlat Địa lí Việt Nam do nhà xuất bản Giáo dục phát
hành năm 2009 có thể khái quát như sau:
a/ Bản đồ chung bao gồm các bản đồ: Hành chính, hình thể, địa chất khoáng
sản, khí hậu, đất, thực vật và động vật, các miền tự nhiên, dân số.
b/ Bản đồ dùng cho các ngành kinh tế : Nông nghiệp chung, nông nghiệp, lâm
nghiệp và thuỷ sản, công nghiệp chung, công nghiệp, giao thông, thương mại,
du lịch.
c/ Bản đồ dùng cho các vùng kinh tế:
Trung du và miền núi Bắc Bộ.
Vùng Đồng bằng sông Hồng
Vùng Bắc Trung Bộ.
Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ
Vùng Tây Nguyên
Vùng Đông Nam Bộ.
5
Vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
* Trong mỗi vùng đều có bản đồ tự nhiên, bản đồ kinh tế và biểu đồ GDP so
với cả nước.
* Trong một trang bản đồ của Atlat thể hiện nhiều yếu tố:
- Yếu tố tự nhiên : Địa hình, đất đai, khoáng sản, sông ngòi, khí hậu, sinh
vật…
- Yếu tố kinh tế, xã hội : Dân cư, hành chính, các ngành kinh tế, các vùng
kinh tế.
* Trong một trang bản đồ của Atlat còn thể hiện:
dùng là những quy định thống nhất, chính xác về màu sắc, ký hiệu, tỷ lệ của
bản đồ Ngay từ trang đầu tiên của Atlat, giáo viên cần hướng dẫn cho học
sinh tìm hiểu và nắm vững các quy ước ở mục chú giải để có thể đọc nhanh,
đúng bản đồ và từ đó phân tích chính xác hơn.
Giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh khi đọc bất cứ một bản đồ nào
phải đọc :
- Tên bản đồ trước để hình dung ra nội dung của bản đồ.
- Đọc phần chú giải để hiểu rõ các kí hiệu được dùng cho bản đồ đó.
- Sau đó sẽ tìm hiểu các kiến thức liên quan đến bài học được thể hiện trên
bản đồ, biểu đồ trong Atlat. Từ đó rút ra những nhận xét về các yếu tố của tự
nhiên và kinh tế - xã hội theo từng nội dung của bài học.
2.2. Khai thác bản đồ, biểu đồ trong Atlat để rèn luyện cho học sinh kỹ
năng tìm hiểu kiến thức địa lí về dân cư.
Ví dụ:
7
a- Giáo viên hướng dẫn cho học sinh cách phân tích bản đồ trang 16 (dạy
bài16) học sinh rút ra nhận xét :
+ Phân bố các dân tộc nước ta không đều: Các nhóm dân tộc ít người chỉ có
trên 13% dân số nhưng phân bố rất rộng trên khắp các vùng trong cả nước.
Dân cư tập trung đông ở đồng bằng, nhất là ở đô thị.
+ Hiểu được ngữ hệ và các nhóm ngôn ngữ của các dân tộc.
b- Phân tích các bản đồ, biểu đồ trang 15 của Atlat (dạy từ bài 16-17 SGK) rút
ra kết luận về đặc điểm dân cư và nguồn nhân lực nước ta:
+ Dựa vào màu sắc của bản đồ, phân tích mật độ dân số: Nước ta có mật độ
dân số cao nhưng phân bố không đều (tập trung đông ở Đồng bằng sông Hồng
và Đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt mật độ dân số ở các thành thị rất cao,
thưa thớt ở miền núi nhất là vùng Tây nguyên).
+ Phân tích biểu đồ phát triển dân số nước ta qua các năm, từ đó học sinh
nhận thức được: Dân số nước ta đông, gia tăng nhanh từ đầu thế kỷ XX đến
nay (Năm 1960 có khoảng 30,17 triệu người. Năm 1989 có 64,41 triệu người.
lượng
Nông nghiệp Lâm nghiệp Thuỷ sản
2000 163315,5 129017,7 6675,7 26620,1
2007 338553,0 236987,1 12187,9 89377,9
Nhìn bảng số liệu học sinh có thể phát hiện được sự tăng trưởng của các
ngành qua các năm đó.
+ Bản đồ trang 19 Atlat học sinh tìm hiểu và phát hiện:
- Ngành trồng trọt : Tổng diện tích trồng lúa và hoa màu (diện tích trồng cây
lương thực), diện tích trồng cây công nghiệp mà học sinh có thể tìm trên bản
đồ.
Như vậy từ nội dung sách giáo khoa kết hợp đọc bản đồ trong Atlat, học sinh
nhận thức sâu hơn, rộng hơn những nội dung các em học sinh cần lĩnh hội,
không phải ghi nhớ máy móc, không cần học thuộc lòng những kiến thức mà
có thể tìm ngay trong bản đồ, giúp cho học sinh hoạt động trí tuệ hợp lý hơn.
9
- Ngành chăn nuôi : Dựa vào kỹ năng sử dụng Atlat như trên, học sinh sử
dụng biểu đồ trang 19 của Atlat để trình bày giá trị sản lượng của ngành chăn
nuôi gia súc và gia cầm tăng trưởng mạnh qua các năm 2000, 2005,2007.
Ví dụ 2: Dùng Atlat Địa lí Việt Nam để học sinh tìm hiểu sự phân bố lâm
nghiệp ( các loại rừng) và thuỷ sản của nước ta (Bài 14 - SGK Địa lí CB12).
Để trình bày được nội dung trên ta hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức
qua các trang bản đồ, biểu đồ trang 20 của Atlat. Cụ thể là:
+Tổng diện tích rừng nước ta qua các năm 2000,2005, 2007 và giá trị sản xuất
lâm nghiệp của các tỉnh năm 2007.
+ Sự phát triển của ngành thuỷ sản:
- Về sản lượng thuỷ sản của cả nước qua các năm 2000, 2005, 2007.
Ví dụ 3: Sử dụng Atlat để học sinh tìm hiểu tình hình phát triển và phân bố
tổ chức lãnh thổ công nghiệp ở nước ta (Bài 28 – SGK Địa lí CB12).
+ Atlát trang 8: Giúp cho học sinh tìm hiểu về tài nguyên khoáng sản của
nước ta để phát triển công nghiệp.
Giao thông đường thuỷ, đường sắt vận chuyển khối lượng hàng hoá cao.
Tuyến đường bay trong nước, quốc tế ngày càng phát triển.
- Các hoạt động thương mại như : Nội thương (Biết được số người kinh
doanh, hàng hoá bán lẻ qua các năm …), ngoại thương (Cơ cấu giá trị các mặt
hàng xuất khẩu giữa công nghiệp – nông nghiệp – thuỷ sản và tỷ trọng các
mặt hàng nhập khẩu so với xuất khẩu).
- Vai trò của ngành du lịch rất quan trọng trong cơ cấu kinh tế nước ta, tiềm
năng to lớn của ngành du lịch được thể hiện qua các trung tâm du lịch quốc
gia, vùng, các điểm du lịch trong cả nước, số lượng khách du lịch và doanh
thu từ du lịch từ năm 1995 đến năm 2007. Cơ cấu khách du lịch quốc tế với
Việt Nam năm 1995, năm 2007.
11
Tài nguyên du lịch phong phú của nước ta như: Di sản văn hoá thế giới, di
sản lịch sử cách mạng, di tích lịch sử cách mạng, các làng nghề truyền
thống…
+ Phân tích bản đồ trang 26 học sinh nắm được:
- Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên của vùng Trung
du và miền núi Bắc Bộ. Từ đó có thể so sánh được đặc điểm tài nguyên của
hai tiểu vùng Đông Bắc & Tây Bắc.
- Thấy được mối liên hệ: sự phân bố tài nguyên thiên nhiên và hình thành khu
công nghiệp, GDP của vùng Trung du miền núi phía Bắc so với cả nước, sự
phân bố các trung tâm công nghiệp lớn của vùng. Các ngành công nghiệp
trọng điểm có mối liên hệ như thế nào đến giao thông, sông ngòi, nguồn tài
nguyên.
- Đọc được các loại khoáng sản, nắm được vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên,
sông ngòi, khí hậu, tài nguyên thiên nhiên của vùng Đồng bằng Sông Hồng và
giải thích được tại sao ở đây đông dân cư, GDP của Đồng bằng sông Hồng so
với cả nước, đây là vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc.
* Qua các phân tích trên ta thấy rằng : Khi tìm hiểu một số kiến thức về kinh
tế - xã hội, việc sử dụng Atlat đã giúp cho học sinh có phương pháp tiếp thu
Đông.
+ Từ đó rút ra ý nghĩa của vị trí địa lí trong việc phát triển kinh tế của vùng:
- Đây là vùng kinh tế trọng điểm, thuận lợi cho phát triển nông nghiệp lúa
nước, công nghiệp, giao thông vận tải đi các nơi trong nước. Đồng thời ngành
thuỷ - hải sản có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển. Bên cạnh đó ngành
giao thông đường bộ, đường thuỷ, đường biển, đường hàng không đều phát
triển thuận lợi. Ngành du lịch cũng có rất nhiều tiềm năng.
13
- Về khí hậu trong vùng là nhiệt đới gió mùa, có đủ bốn mùa: xuân, hạ, thu ,
đông. Mùa nóng có gió mùa Đông Nam từ biển thổi vào đem theo nhiều hơi
nước gây mưa nhiều thuận lợi sản xuất nông nghiệp. Nhưng kèm theo bão lũ
ảnh hưởng đến sản xuất. Mùa lạnh có gió mùa Đông Bắc lạnh và khô giúp ta
trồng được các cây ôn đới, nhưng cũng gây những khó khăn lớn như sương
muối .
- Tình hình phân bố dân cư của vùng (Sử dụng bản đồ dân số trang 15 Atlat)
để nhận thức được : Đồng bằng sông Hồng có dân số đông nhưng phân bố
không đều, nơi đông dân nhất là Thủ đô Hà Nội .
Tóm lại đây là vùng kinh tế phát triển toàn diện có nền nông nghiệp, công
nghiệp, dịch vụ đều phát triển mạnh.
Ví dụ2 : Dựa vào átlát trang 29 xác định vị trí địa lí của vùng Đồng bằng
sông Cửu Long:
+ Sử dụng trang 29 Atlat : Xác định quy mô, ranh giới của vùng :
- Phía Bắc giáp Cam Pu Chia, phía Tây Nam là vịnh Thái Lan, phía Đông
Nam là biển Đông.
+ Học sinh rút ra ý nghĩa của vị trí địa lí trong việc phát triển kinh tế của
vùng:
- Đây cũng là vùng kinh tế trọng điểm, thuận lợi cho phát triển nông nghiệp
lúa nước, công nghiệp. Đồng thời ngành thuỷ - hải sản có nhiều điều kiện
thuận lợi để phát triển.
- Đặc biệt là ngành du lịch sinh thái là một tiềm năng lớn, mở ra hướng phát
15
Trong một số bài có những hình ảnh minh hoạ có thể sử dụng hình ảnh trong
Atlat để hỗ trợ cho nội dung của bài.
Ví dụ 1: Dạy về nông nghiệp, hướng dẫn học sinh quan sát hình ảnh thu
hoạch lúa, thu hoạch chè, chăm sóc cây hồ tiêu. Giáo viên có thể khắc sâu cho
học sinh : Trong sản xuất nông nghiệp cây lúa là cây chủ đạo cả về diện tích,
sản lượng, năng suất, sản lượng. Việt Nam là nước xuất khẩu gạo đứng thứ 2
trên thế giới. Bên cạnh đó cây chè, cây hồ tiêu là những cây công nghiệp
mang lại giá trị kinh tế cao. Qua đó học sinh có thể tự rút ra thế mạnh trong
nông nghiệp của nước ta là gì?…
Ví dụ 2: Dạy về công nghiệp Việt Nam có 2 hình ảnh về : Khai thác than ở
Quảng Ninh và dây chuyền sản xuất trong nhà máy dệt .Qua đó giáo viên có
thể nhấn mạnh cho học sinh thấy thế mạnh công nghiệp nặng là khai thác
than. Công nghiệp nhẹ là công nghiệp dệt. Các ngành công nghiệp này đã
mang lại hiệu quả kinh tế lớn cho đất nước.
Ví dụ 3: Về thương mại cho học sinh quan sát hình ảnh, chợ Bến Thành ở TP
Hồ Chí Minh và phiên chợ vùng cao, để nhận biết được các hoạt động dịch vụ
ở nơi đô thị sầm uất và một nơi vùng cao ít người, nhưng đều phục vụ cho đời
sống vật chất và tinh thần cho nhân dân.
Để phát huy được vai trò quan trọng của tập Atlat cho học sinh học tập môn
Địa lí, thì việc phân tích khai thác phải có trình tự, phải biết khai thác những
chi tiết nào, những yếu tố nào và trên bản đồ nào là phù hợp nhất. Tuỳ theo
từng bài cụ thể ta có thể sử dụng một hay nhiều trang bản đồ để phục vụ cho
việc tìm kiếm thông tin thật khoa học, chính xác.
Việc rèn luyện kỹ năng sử dụng Atlat cho học sinh lớp 12 là rất quan trọng và
hết sức cần thiết. Đây không những là phương tiện tìm hiểu kiến thức và còn
phát huy được trí lực học sinh đồng thời kích thích học sinh say mê học tập
môn Địa lí vì nó rất hấp dẫn tính tò mò, ham hiểu biết của học sinh .
16
3.SỬ DỤNG ATLÁT TRONG LÀM BÀI KIỂM TRA.
Bài tập 2.Dựa vào Atlat Địa lí Việt Nam trang nông nghiệp chung (NXBGD
tháng 9-2009) và kiến thức đã học, hãy tính giá trị sản xuất của các ngành
nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản.
Tính giá trị sản xuất của các ngành trong nông nghiệp: (tỉ đồng)
Năm Nông nghiệp Lâm nghiệp Thuỷ sản
2000 129017,7 7675,7 26620,1
2007 236987,1 12187,9 89378,0
* Nhận xét về giá trị sản xuất và cơ cấu giá trị sản xuất của các ngành trong
nông nghiệp:
Tổng giá trị sản xuất của các ngành nông nghiệp, của từng ngành nông nghiệp
từ năm 2000 đến năm 2007 đều tăng, tuy nhiên tốc độ tăng không đều.
D/c: Tổng giá trị ngành nông nghiệp tăng 163313,5 tỉ đồng (năm 2000) lên
338553 tỉ đồng, tăng 2,1 lần.
Trong đó: Ngành nông nghiệp tăng 107970,6 tỉ đồng
Ngành lâm nghiệp tăng 4212,2 tỉ đồng
Ngành thuỷ sản tăng 62757,9 tỉ đồng
- Sự gia tăng không đều của các ngành sản xuất → cơ cấu giá trị sản xuất
nông nghiệp thay đổi
+ Tỉ trọng ngành nông lâm nghiệp giảm từ 79,3% (2000) xuống còn 70%
năm 2007
+ Tỉ trọng ngành thuỷ sản tăng từ 16% năm 2000 lên 27,3% năm 2007.
18
Bài tập3. Dựa vào Atlat Địa lí Việt Nam (NXBGD tháng 9-2009) và kiến
thức đã học, hãy nêu sự phân bố của các nhóm đất và các loại đất chính ở
nước ta? Giải thích vì sao Đồng bằng sông Cửu Long có nhiều diện tích đất
phèn, đất mặn
a. Nêu sự phân bố của các nhóm đất và các loại đất chính ở nước ta:
Nhóm đất Phân bố
1. Nhóm đất phù sa:
- Phù sa sông
- Thuỷ triều theo các sông lớn vào sâu trong đất liền làm các vùng đất ven
biển bị nhiễm mặn.
19
Qua việc phân tích mối quan hệ từ kênh hình trong Atlát học sinh sẽ làm
bài tốt hơn và phát triển tư duy của học sinh khi mà các em không phải gi
nhớ máy móc.
C. KẾT LUẬN
I. K Ế T QU Ả TH Ự C NGHI Ệ M
Qua quá trình thực nghiệm rèn luyện cho học sinh kỹ năng sử dụng Atlat.
Giáo viên đánh giá việc sử dụng Átlát qua việc kiểm tra 1tiết học kì II ở các
lớp với nội dung đề giống nhau nhưng:12A3, 12A1 không được sử dung Átlát
còn đối với các lớp 12T1, 12D và 12T2 các em được sử dung Atlát. Kết quả
kiểm tra đã có sự khác nhau giữa các lớp:
LỚP SỐ BÀI
KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM
Khá - Giỏi Trung bình Yếu
SL % SL % SL %
12A3 40 15 37,5 15 40 9 22,5
12A1 40 16 40 17 42,5 7 17,5
12T2 53 34 65,3 17 32,0 2 3,7
!2T1 51 33 64,7 16 31,3 2 4,0
12D 40 27 67,5 13 32,5 0 0
Những năm học trước học sinh phải ghi nhớ nhiều học thuộc lòng nhiều
nhưng khi làm bài kết quả thấp. Phương pháp sử dụng kênh hình trong giảng
dạy Địa lí chắc chắn là phương pháp tiếp cận kiến thức hợp lý nhất, rèn luyện
tư duy nhận thức cho học sinh tốt hơn. Qua thực nghiệm các tiết học theo
20
kênh hình diễn ra hào hứng và hấp dẫn hơn, lôi cuốn học sinh nhiều hơn, phù
hợp với tâm lý tuổi trẻ ưa tìm tòi khám phá những điều mới lạ .
II. BÀI H Ọ C KINH NGHI Ệ M
- Rèn luyện kỹ năng sử dụng Atlat Địa lí Việt Nam là rất cần thiết và
quan trọng trong việc dạy và học môn Địa Lí. Đối với học sinh lớp 12 THPT
kỹ năng này có tác dụng thúc đẩy tính tích cực, tự giác, tư duy độc lập logic
trong học tập của học sinh, giúp các em chủ động, sáng tạo, độc lập tự mình
phân tích, khai thác kiến thức qua các trang bản đồ (hay lược đồ), biểu đồ
trong Atlat. Học sinh nhận thức được các nội dung trong bản đồ không những
chỉ là phương tiện trực quan sinh động mà còn là bản mật mã ẩn chứa trong
đó nhiều điều mới lạ, mang tính hấp dẫn tuổi trẻ mà ngôn ngữ của nó là: các
quy ước, ký hiệu, mầu sắc, và cả hình dáng kích thước của cả nước, một khu
vực, một vùng lãnh thổ. Giúp các em nắm bài nhanh, hiểu bài sâu sắc hơn.
- Trong công cuộc đổi mới phương pháp dạy học, đòi hỏi giáo viên phải luôn
luôn cải tiến các phương pháp giảng dạy so với các phương pháp trước đây,
để tăng tính hấp dẫn với học sinh. Ngược lại, nếu giáo viên chỉ trình bày theo
kiểu thuyết trình, vừa mệt thầy, học sinh không thích nghe, hay mất trật tự,
không thúc đẩy tính độc lập sáng tạo của trò, hiệu quả bài dạy thấp.
IV. KIẾN NGHỊ
1. Do giá thành Atlat còn cao so với học sinh ở vùng nông thôn, các em chưa
mua đủ Atlat để học tập nên mỗi trường cần mua tối thiểu từ 15 -20 quyển
đưa vào thư viện, cho học sinh sử dụng trong việc hoạt động nhóm, nhằm
nâng cao hiệu quả dạy và học.
2. Các thầy cô giáo cần tích cực hướng dẫn học sinh sử dụng Atlat để học tập
môn Địa lí đạt hiệu quả cao.
22
3 . Phòng Giáo dục nên tổ chức các chuyên đề về sử dụng Atlat cho giáo viên
dạy môn Địa lý ở các trường, trao đổi, đúc rút kinh nghiệm để việc sử dụng
Atlat có hiệu quả hơn.
Trên đây là một số việc làm và những suy nghĩ về cách sử dụng Atlat của tôi
để giúp học sinh học tập môn Địa lí lớp 12 bước đầu đã có hiệu quả, xin trình
bày để đồng nghiệp tham khảo, có thể còn những khiếm khuyết không thể
tránh khỏi, rất mong các bạn góp ý để cùng nhau tìm ra phương pháp giảng
lớp 12.
1.1.Bố cục của Atlat Việt Nam do nhà xuất bản giáo dục phát hành
năm 2009.
1.2. Tầm quan trọng của Atlat địa lí Việt Nam
2.Các phương pháp rèn luyện các kĩ năng cho học sinh.
2.1. Rèn luyện cho HS kĩ năng tìm hiểu các nội dung trong bản đồ
của Atlát để rút ra đặc điểm của các yếu tố tự nhiên, xã hội.
2.2.Khai thác bản đồ, biểu đồ trong Atlat để rèn luện cho HS tìm
hiểu kiến thức địa lí về dân cư.
2.3. Phân tích bản đồ trong Atlat để rút ra nhận định tình hình phát
triển các ngành kinh tế nước ta.
2.4.Phân tích bản đồ, biểu đồ trong Atlat để rút ra nhận định tình
hình phát triển các Vùng kinh tế nước ta.
2.5.Rèn luyện kĩ năng sử dụng hình ảnh trong Atlat để khắc sâu
kiến thức của bài học
3.Sử dụng Atlát để làm bài kiểm tra.
C. Kết luận.
1
1
1
1
2
2
2
2
3
3
3
4
4