Chuyên đề thực tập Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong chuyên đề
thực tập này là trung thực. Những giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh
không sao chép từ bất kì công trình nghiên cứu của tác giả nào.
Hà Nội ngày 7/12/ 2012
Sinh viên
Cao Thị Quỳnh Hoa
SV: Cao Thị Quỳnh Hoa Lớp: QTKD Thương mại 51B
Chuyên đề thực tập Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế
MỤC LỤC
Th ph n c a doanh nghi p/ th ph n c a các i th c nh tranhị ầ ủ ệ ị ầ ủ đố ủ ạ 10
Doanh thu/ doanh thu c a các i th m nh nh tủ đố ủ ạ ấ 10
T l chi phí marketing/ t ng doanh thuỷ ệ ổ 10
T su t l i nhu nỷ ấ ợ ậ 10
SV: Cao Thị Quỳnh Hoa Lớp: QTKD Thương mại 51B
Chuyên đề thực tập Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế
LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam từ khi xóa bỏ cơ chế kinh tế bao cấp chuyển sang cơ chế kinh
tế thị trường, nền kinh tế ngày càng phát triển mạnh mẽ hơn. Trong điều kiện
đó, một doanh nghiệp dù lớn hay nhỏ, nếu muốn đứng vững và tồn tại trên thị
trường thì cạnh tranh là điều không thể tránh khỏi. Doanh nghiệp chỉ có thể
chiến thắng được các đối thủ trên thị trường khi không ngừng hoàn thiện và
nâng cao khả năng cạnh tranh của mình. Vì vậy, việc nâng cao khả năng cạnh
tranh dã trở thành một vấn đề quan trọng hàng đầu mà bất kỳ một doanh
nghiệp nào cũng phải quan tâm.
Công ty cổ phần dịch vụ máy văn phòng A&D là một công ty tư nhân,
tuy thành lập chưa được lâu, nhưng bằng nhiều biện pháp hiệu quả, công ty đã
đạt được nhiều thành công đáng kể trong thời gian qua. Và hiện nay, công ty
vẫn đang tiếp tục tìm ra được hướng đi đúng đắn cho mình để ngày càng phát
triển cao hơn nữa.
phẩm của chính doanh nghiệp trên các thị trường khác nhau mà không phân
biệt nơi bố trí sản xuất của doanh nghiệp đó.
Một quan niệm khác cho rằng, Khả năng cạnh tranh là trình độ công
nghệ sản xuất sản phẩm theo đúng yêu cầu của thị trường đồng thời duy trì
được thu nhập của mình.
Có thể thấy rằng các quan niệm đứng trên các góc độ khác nhau nhưng
chung quy lại đều nói tới việc chiếm lĩnh thị trường và lợi nhuận. Từ các quan
điểm nêu trên, có thể tổng quát lại một quan niệm về khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp như sau: Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng,
năng lực mà doanh nghiệp có thể tự duy trì vị trí của nó một cách lâu dài và
có ý chí trên thị trường cạnh tranh, đảm bảo việc thực hiện một tỷ lệ lợi nhuận
ít nhất bằng tỷ lệ đòi hỏi cho việc tài trợ những mục tiêu của doanh nghiệp,
đồng thời thực hiện được những mục tiêu mà doanh nghiệp đề ra.
Nếu một doanh nghiệp tham gia thị trường mà không có khả năng cạnh
tranh hay khả năng cạnh tranh yếu hơn các đối thủ của nó thì sẽ rất khó khăn
để tồn tại và phát triển được, quá trình duy trì sức mạnh của doanh nghiệp
SV: Cao Thị Quỳnh Hoa Lớp: QTKD Thương mại 51B
2
Chuyên đề thực tập Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế
phải là quá trình lâu dài và liên tục. Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là
cơ sở để đảm bảo khả năng duy trì lâu dài sức mạnh cạnh tranh đó.
1.1.2. Các yếu tố cấu thành khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp được xác định dựa vào các ưu thế
cạnh tranh của nó. Ưu thế mạnh được hiểu là những đặc tính hoặc những
thông số của sản phẩm nhờ đó sản phẩm có được ưu việt, sự vượt trội hơn so
với sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh trực tiếp. Các yếu tố tạo nên khả
năng cạnh tranh của doanh nghiệp bao gồm:
Thứ nhất là uy tín của doanh nghiệp: Đây là một yếu tố rất quan trọng,
nó đánh giá sự tin tưởng của khách hàng vào doanh nghiệp và sản phẩm của
doanh nghiệp. Việc tạo được uy tín tốt đối với khách hàng là điều mà các
hình tạo nên lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp. Người lãnh đạo doanh
nghiệp phải là người có kinh nghiệm kinh doanh mới giúp doanh nghiệp nâng
cao được khả năng cạnh tranh của mình.
Thứ bảy là hệ thống đảm bảo nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ:
Tiêu chuẩn chất lượng mà doanh nghiệp áp dụng nhằm đảm bảo cho chất
lượng sản phẩm của mình. Qua việc áp dụng các tiêu chuẩn, hệ thống quản lý
chất lượng sản phẩm, dịch vụ làm cho khách hàng tin tưởng khi sử dụng sản
phẩm, dịch vụ.
Ngoài ra, lợi thế về vốn và chi phí cũng là một yếu tố tạo nên khả
năng cạnh tranh của doanh nghiệp: Đây là một nhân tố rất quan trọng khi
sản phẩm của các doanh nghiệp trên thị trường là tương đối đồng nhất thì
việc giảm giá bán là một biện pháp rất có hiệu quả để tăng khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp.
1.1.3. Các công cụ sử dụng để nâng cao khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp
Để tồn tại, đứng vững và phát triển nền kinh tế thị trường hiện nay, mỗi
doanh nghiệp đều phải có những công cụ riêng của mình để tạo ra lợi thế cạnh
tranh so với các đối thủ khác trên thị trường. Các công cụ thường được sử
dụng là: giá cả, sản phẩm, hệ thống phân phối, các hoạt động xúc tiến
•Cạnh tranh bằng đặc tính sản phẩm và chất lượng sản phẩm:
Sản phẩm của doanh nghiệp là một hệ thống thống nhất các yếu tố có
liên quan chặt chẽ với nhau nhằm thoả mãn đồng bộ các yêu cầu của khách
hàng bao gồm sản phẩm vật chất, bao bì, nhãn hiệu, các dịch vụ kèm theo
Gắn liền với sản phẩm là khái niệm về chất lượng. Theo ISO 8402, chất
lượng là tập hợp các tính chất, đặc trưng của một sản phẩm có khả năng thoả
mãn nhu cầu của khách hàng. Nhu cầu của khách hàng là nhu cầu đã nêu hoặc
nhu cầu tiềm ẩn.
Sản phẩm và chất lượng của sản phẩm là một công cụ cạnh tranh quan
trọng của các doanh nghiệp trên thị trường.Bởi vì, khi lựa chọn một hàng hóa
nào đó, khách hàng luôn có xu hướng so sánh sản phẩm của doanh nghiệp này
tranh về giá sẽ có ưu thế hơn đối với các doanh nghiệp có vốn và sản lượng
lớn hơn nhiều so với các đối thủ khác.
Giá cả được sử dụng làm công cụ cạnh tranh thể hiện thông qua chính
sách định giá bán mà doanh nghiệp áp dụng đối với các loại thị trường của
mình trên cơ sở kết hợp một số chính sách, điều kiện khác. Doanh nghiệp
phải định giá để có hệ thống giá cả cho đúng với hàng hoá hay dịch vụ bán
cho khách hàng. Có các chính sách định giá sau:
Chính sách định giá thấp: Là chính sách định giá thấp hơn giá thị
trường để thu hút khách hàng về phía mình. Chính sách này đòi hỏi doanh
nghiệp thực hiện nó phải có tiềm lực vốn lớn, phải tính toán chắc chắn và
SV: Cao Thị Quỳnh Hoa Lớp: QTKD Thương mại 51B
5
Chuyên đề thực tập Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế
đầy đủ mọi tình huống rủi ro. Nếu thành công nó sẽ giúp cho doanh nghiệp
chiếm lĩnh thị trường cũ, thâm nhập vào thị trường mới và bán được khối
lượng sản phẩm lớn.
Chính sách định giá ngang thị trường: Đây là chính sách định giá phổ
biến, doanh nghiệp sẽ định giá bán sản phẩm của mình xoay quanh mức giá
bán trên thị trường của các đối thủ khác. Với chính sách này, doanh nghiệp
phải tăng cường công tác tiếp thị, marketing, và phải chú trọng đến các khía
cạnh khác như chất lượng sản phẩm, chất lượng dịch vụ thì mới có thể đứng
vững trên thị trường.
Chính sách định giá cao: Là chính sách giá bán sản phẩm cao hơn giá
thống trị trên thị trường, cao hơn nhiều so với giá trị thực của sản phẩm.
Chính sách này chỉ áp dụng cho các doanh nghiệp có sản phẩm hoặc dịch vụ
độc quyền hoặc với doanh nghiệp có chất lượng sản phẩm cao hay những
doanh nghiệp có thương hiệu, uy tín. Chính sách này giúp cho các doanh
nghiệp thu được lợi nhuận lớn.
Chính sách bán phá giá: Giá bán thấp hơn hẳn so với giá thị trường,
thậm chí còn thấp hơn cả giá thành.Doanh nghiệp có thể sẽ bị lô nhưng vẫn sử
tạo ra hình ảnh đẹp về doanh nghiệp trước con mắt của khách hàng, lợi thế
cạnh tranh của doanh nghiệp nhờ thế mà không ngừng tăng lên.
Thêm vào đó, xúc tiến bán hàng còn kích thích người tiêu dùng mua sản
phẩm của doanh nghiệp nhiều hơn, thu hút được các khách hàng tiềm năng từ
đó làm tăng khả năng tiêu thụ của doanh nghiệp, doanh nghiệp ngày càng
được khách hàng ưa chuộng hơn. Vì vậy, để nâng cao khả năng cạnh tranh,
một vấn đề quan trọng ảnh hưởng tới sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
là phải tổ chức tốt xúc tiến bán hàng.
•Cạnh tranh bằng nghệ thuật phân phối, tiêu thụ sản phẩm:
Hiện nay, ngày càng có nhiều doanh nghiệp quan tâm đến phân phối
như là biến số marketing tạo lợi thế cạnh tranh dài hạn cho doanh nghiệp
trên thị trường. Hoạt động phân phối giải quyết vấn đề hàng hoá dịch vụ
được đưa như thế nào đến người tiêu dùng. Vì vậy, doanh nghiệp nào có
cách thức tổ chức hệ thống phân phối sản phẩm, dịch vụ của mình tốt, tạo ra
sự thuận tiện nhanh chóng cho người tiêu dùng thì việc đó sẽ góp phần làm
tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường lên khá nhiều.
Các doanh nghiệp tổ chức và quản lý hoạt động phân phối thông qua các hệ
thống kênh phân phối.
Kênh phân phối là con đường mà hàng hoá được lưu thông từ nhà sản
xuất đến người tiêu dùng. Nhờ có mạng lưới kênh phân phối mà khắc phục
được những khác biệt về thời gian địa điểm và quyền sở hữu giữa người sản
xuất với người tiêu dùng các hàng hoá, dịch vụ. Các kênh phân phối phải thực
hiện các chức năng chủ yếu sau:
- - Phân phối vật chất: Vận chuyển, bảo quản, dự trữ hàng hoá.
- Thiết lập các mối quan hệ: Tạo dựng và duy trì mối liên hệ với những
người mua tiềm năng.
- Nghiên cứu thị trường, thu thập các thông tin cần thiết
SV: Cao Thị Quỳnh Hoa Lớp: QTKD Thương mại 51B
7
Chuyên đề thực tập Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế
hoá, dịch vụ của doanh nghiệp đến người tiêu dùng, nhằm làm cho khách
hàng chú ý đến sự hiện diện của doanh nghiệp cũng như sản phẩm và dịch vụ
mà doanh nghiệp sẽ cung cấp ra thị trường. Quảng cáo giúp cho việc khác
biệt hoá sản phẩm được rõ nét hơn và thúc đẩy tăng doanh số bán một cách có
hiệu quả, không làm tổn thương đến lợi nhuận của doanh nghiệp và tất nhiên
SV: Cao Thị Quỳnh Hoa Lớp: QTKD Thương mại 51B
8
Chuyên đề thực tập Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế
đó phải là một quảng cáo có hiệu quả. Khi thực hiện các hoạt động quảng cáo
như một công cụ cạnh tranh cần tính được doanh nghiệp sẽ tăng lên bao nhiêu
doanh số tính cho một đơn vị quảng cáo, phải định lượng được những thay
đổi của thị trường để đảm bảo được hiệu quả của quảng cáo.
Khuyến mại: Có tác dụng kích thích người tiêu dùng sản phẩm, khuyến
mại thường áp dụng ở khâu thứ 3 của chu kỳ sản phẩm khi mà thị trường mục
tiêu đã ở trạng thái bão hòa. Khuyến mại làm tăng doanh số bán, nó đánh vào
lợi ích kinh tế của cá nhân làm cho việc quyết định mua sản phẩm tăng lên
đặc biệt là trong trường hợp phân vân giữa các đối thủ. Khuyến mại thường
thích hợp cho việc hấp dẫn khách hàng hiện tại làm cho việc thâm nhập sâu
vào thị trường được nhanh hơn.
Chiêu hàng: Là biện pháp được các doanh nghiệp sử dụng để khuyến
khích tiêu thụ sản phẩm, hình thức chiêu hàng thường được sử dụng như:
Tặng quà cho khách hàng khi mua hàng, trưng bày hàng hoá để khách hàng
nhìn thấy và có điều kiện tìm hiểu, hỏi han về hàng hoá đó, gửi mẫu hàng đến
khách hàng dùng thử.
Bên cạnh các công tác chiêu thị thì hoạt động tham gia hội trợ cũng rất
quan trọng. Hội trợ là nơi doanh nghiệp có thể trưng bày giới thiệu các sản
phẩm của mình, gặp gỡ bạn hàng, tìm hiểu các đối thủ cạnh tranh.
Khi chọn phương pháp tiếp thị bằng việc tham gia hội trợ, doanh nghiệp
cần cân nhắc lựa chọn tham gia đúng hội trợ cần tham gia. Các yếu tố cần lựa
chọn là thị trường thâm nhập, địa điểm và uy tín của hội trợ, các doanh nghiệp
Chỉ tiêu này đơn giản và dễ tính. Tuy nhiên, khó đảm bảo tính chính xác
do khó thu thập được doanh số chính xác của doanh nghiệp.
•Doanh thu/ doanh thu của các đối thủ mạnh nhất
Nếu sử dụng chỉ tiêu này người ta có thể chọn từ 2 đến 5 doanh nghiệp
mạnh nhất tuỳ theo lĩnh vực cạnh tranh khác nhau mà chọn khác nhau.
Chỉ tiêu này có ưu điểm đơn giản, dễ tính. nhưng có nhược điểm là khó
chính xác vì mỗi lĩnh vực có doanh nghiệp đứng đầu khác nhau.
•Tỷ lệ chi phí marketing/ tổng doanh thu
Đây là chỉ tiêu hiện nay được sử dụng nhiều để đánh giá khả năng cạnh
tranh cũng như hiệu quả tiêu thụ sản phẩm của các doanh nghiệp. Thông qua
chỉ tiêu này mà doanh nghiệp thấy được hiệu quả hoạt động của mình. nếu chỉ
tiêu này cao có ý nghĩa là doanh nghiệp đã đầu tư quá nhiêu vào chi phí cho
công tác marketing mà hiệu quả không cao.
•Xem xét tỷ lệ: chi phí marketing/ tổng chi phí ta thấy: Tỷ lệ này cao
chứng tỏ việc đầu tư cho khâu marketing là tương đôí lớn, đòi hỏi doanh
nghiệp phải xem xét lại cơ cấu chi tiêu. có thê thay vì quảng cáo rầm rộ công
ty có thể đầu tư cho nghiên cứu và phát triển.
•Tỷ suất lợi nhuận
SV: Cao Thị Quỳnh Hoa Lớp: QTKD Thương mại 51B
10
Chuyên đề thực tập Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế
Tỷ suất lợi nhuận là một chỉ tiêu tổng hợp, nó không chỉ phản ánh tiềm
năng cạnh tranh của doanh nghiệp mà còn thể hiện tính hiệu quả trong sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp ấy. Đó chính là: Chênh lệch (giá bán - giá
thành)/giá bán. Nếu chỉ tiêu này thấp chứng tỏ cạnh tranh trên thị trường là rất
gay gắt. Ngược lại, nếu chỉ tiêu này cao thì điều đó có nghĩa là doanh nghiệp
đang kinh doanh rất thuận lợi.
1.2. TẦM QUAN TRỌNG VÀ NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP
TRONG NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN
được mục tiêu này buộc doanh nghiệp đó phải không ngừng nâng cao khả
năng cạnh tranh của mình.
Đối với Việt nam, khi chuyển từ cơ chế tập trung sang cơ chế thị trường,
các doanh nghiệp Nhà nước không còn tính độc quyền và được Nhà nước bao
cấp như trước nữa mà phải tự quyết định lấy các vấn đề quan trọng mang tính
sống còn của doanh nghiệp (sản xuất cho ai, sản xuất cái gì, sản xuất như thế
nào, bao nhiêu…). Các doanh nghiệp Nhà nước buộc phải làm quen với điều
này cũng như phải thích nghi với môi trường kinh doanh mới của cơ chế thị
trường, chấp nhận các quy luật của thị trường cũng như là phải chấp nhận
cạnh tranh. Trong nền kinh tế thị trường đa hình thức sở hữu, khi mà quan
điểm, chính sách của Nhà nước về vai trò của các thành phần kinh tế khác đi,
các doanh nghiệp Nhà nước nếu không tự đổi mới sẽ không thể chạy đua nổi.
Bởi các hãng nổi tiếng trên thế giới đầu tư vào Việt nam ngày càng nhiều và
có ưu thế hơn hẳn về tiềm lực tài chính cũng như là trình độ kỹ thuật, kinh
nghiệm quản lý. Bên cạnh đó là khu vực kinh tế tư nhân đầy năng động và
hiệu quả đang vươn lên mạnh mẽ.
Tóm lại, việc nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong điều
kiện hội nhập là cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
1.2.2. Ý nghĩa của việc nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp
Trong điều kiện hội nhập vào nền kinh tế thế giới và khu vực, vấn đề
nâng cao khả năng cạnh tranh có ý nghĩa quyết định đối với sự tồn tại và phát
triển của các doanh nghiệp Việt Nam và sự tăng trưởng kinh tế của đất nước.
Trong xu thế hội nhập và mở cửa của nước ta,.nâng cao năng lực cạnh tranh
của các doanh nghiệp Việt Nam đã là thách thức lớn nhất đối với quá trình hội
nhập của nước ta. Mỗi chủ thể kinh tế phải tự vận hành, tự quyết định tất cả
mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, từ hoạt động thăm dò thị
trường, quyết định đầu tư máy móc thiết bị, dây truyền công nghệ, đầu tư cho
lực lượng lao động, đến hoạt động tiêu thụ sản phẩm. Trong toàn bộ hoạt
động của doanh nghiệp, doanh nghiệp phải làm gì và làm như thế nào để có
thiện và tăng lên đáng kể. Ở thị trường máy văn phòng, khách hàng chủ yếu là
những người có thu nhập khá và cao. Vì thế nhu cầu sử dụng những sản phẩm
này cũng ngày càng đa dạng và phong phú hơn. Nắm rõ được những yếu tố
này sẽ giúp công ty có thể nâng cao khả năng cạnh tranh của mình hơn.
+ Tỷ giá hối đoái và giá trị của đồng nội tệ : Có ảnh hưởng trực tiếp đến
hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt là trong nền kinh tế mở như hiện nay.
Ở thị trường máy văn phòng và linh kiện máy tính, có nhiều mặt hàng
được nhập khẩu từ nước ngoài. Vì thế nếu đồng nội tệ mấy giá thì đây là khó
khăn vì nó làm cho giá thực tế của hàng hoá nhập khẩu tăng lên, làm ảnh
hưởng tới giá thành sản phẩm và khả năng cạnh tranh của công ty. Do đó,
Công ty cần quan tâm tới yếu tố này để có thể đưa ra được các chiến lược hợp
lý trong hoạt động kinh doanh của mình.
SV: Cao Thị Quỳnh Hoa Lớp: QTKD Thương mại 51B
13
Chuyên đề thực tập Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế
+ Lãi suất cho vay của ngân hàng : Là một yếu tố ảnh hưởng lớn tới khả
năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Đặc biệt đối với những doanh nghiệp tư
nhân kinh doanh về máy văn phòng và linh kiện máy tính thường cần rất
nhiều vốn nên không tránh khỏi việc phải vay của ngân hàng. Nếu tỉ lệ lãi
suất cao, chi phí của doanh nghiệp tăng lên do trả lãi tiền vay lớn, khả năng
cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ kém đi, nhất là so với các đối thủ có tiềm lực
mạnh về vốn. Các doanh nghiệp cần phải tính toán hợp lý về lãi suất khi vay
ngân hàng để đảm bảo việc kinh doanh có lợi nhuận.
+ Các nhân tố kinh tế trong môi trường kinh tế quốc dân tương đối
rộng có ảnh hưởng đến nhiều mặt, nhiều ngành, nhiều lĩnh vực của đời
sống kinh tế, do đó doanh nghiệp cần chọn lọc các ảnh hưởng (ở dạng cơ
hội và đe dọa).
- Các nhân tố về chính trị – pháp luật :
Các nhân tố về chính trị pháp luật là nền tảng qui định các yếu tố khác
của môi trường kinh doanh. Có thể nói quan điểm đường lối chính trị nào, hệ
cạnh tranh của mình.
•Các nhân tố thuộc môi trường ngành.
- Khách hàng :
Là một bộ phận không thể tách rời trong môi trường cạnh tranh, sự tín
nhiệm của khách hàng có thể là tài sản có giá trị nhất của doanh nghiệp. Sự
tín nhiệm đạt được do biết thoả mãn tốt hơn các nhu cầu và thị hiếu của khách
hàng so với đối thủ cạnh tranh.
Các doanh nghiệp muốn nâng cao được khả năng cạnh tranh của mình
thì cần phải tìm các biện pháp để thu hút được khách hàng về phía mình.
Khách hàng có thể gây ảnh hưởng của mình tới khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp thông qua thị hiếu và thu nhập. Khách hàng luôn là đối tượng
phục vụ của các doanh nghiệp. Thông qua sự tiêu dùng của khách hàng mà
doanh nghiệp đạt được mục tiêu lợi nhuận. Các doanh nghiệp cần phải tìm
hiểu được nhu cầu của khách hàng để có thể đáp ứng một cách tốt nhất so với
đối thủ cạnh trạnh của minh.
- Các đối thủ cạnh tranh hiện có và các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn:
Các đối thủ cạnh tranh hiện có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp. Hoạt động của các đối thủ cạnh tranh có ảnh hưởng
trực tiếp đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Mỗi đối thủ khi tham gia vào thị trường đều muốn huy động mọi khả
năng của mình nhằm thoả mãn đến mức cao nhất mọi yêu cầu của người tiêu
dùng. Các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn có khả năng tham gia vào ngành sẽ tác
động đến mức độ cạnh tranh của ngành trong tương lai.
Đối với thị trường về sản phẩm máy văn phòng và linh kiện máy tính,
mỗi doanh nghiệp đều có rất nhiều đối thủ cạnh tranh trong ngành. Do nền
kinh tế hiện nay phát triển gắn liền với các sản phẩm công nghệ thông tin nên
các doanh nghiệp về lĩnh vực này mở ra ngày càng nhiều, mức độ cạnh tranh
ngày càng khốc liệt. Bởi vậy nếu muốn tồn tại và đứng vững thì đòi hỏi doanh
SV: Cao Thị Quỳnh Hoa Lớp: QTKD Thương mại 51B
15
thế với kích thước, mẫu mã, chức năng, tiên tiến hơn. Các sản phẩm thay thế
này đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng ngày càng đa dạng và đòi hỏi cao hơn
của khách hàng. Do đó các doanh nghiệp cần phải nắm bắt, tìm hiểu được các
sản phẩm thay thế của mình để lựa chọn kinh doanh những sản phẩm cho phù
hợp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp.
SV: Cao Thị Quỳnh Hoa Lớp: QTKD Thương mại 51B
16
Chuyên đề thực tập Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế
•Các nhân tố bên trong Doanh nghiệp:
- Hê thống máy móc thiết bị công nghệ.
Tình trạng, trình độ của hệ thống máy móc, thiết bị công nghệ của doanh
nghiệp có ảnh hưởng mạnh mẽ tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp đó.
Nó là yếu tố quan trọng thể hiện năng lực sản xuất của doanh nghiệp và tác
động trực tiếp tới chất lượng sản phẩm. Một doanh nghiệp có máy móc thiết
bị hiện đại, công nghệ sản xuất tiên tiến thì doanh nghiệp đó có thể nâng cao
chất lượng sản phẩm, giảm bớt chi phí nguyên liệu, chi phí nhân công làm
cho doanh nghiệp có lợi thế trong việc sử dụng giá cả làm công cụ cạnh tranh
trên thị trường.
Đối với doanh nghiệp kinh doanh về máy tính và các linh kiện thì nên
đầu tư vào các thiết bị giao vận, thiết bị sửa chữa máy móc, nhà kho…để đảm
bảo cho quá trình kinh doanh được thuận lợi và đạt hiệu quả, từ đó nâng cao
được khả năng cạnh tranh của mình.
- Khả năng tài chính của doanh nghiệp.
Năng lực về tài chính luôn luôn là yếu tố quyết định đối với hoạt động
sản xuất kinh doanh nói chung cũng như khả năng cạnh tranh nói riêng của
mỗi doanh nghiệp.
Một doanh nghiệp có khả năng tài chính đảm bảo sẽ có ưu thế trong việc
đầu tư, đổi mới máy móc thiết bị, tiến hành các hoạt động khác nhằm nâng
cao khả năng cạnh tranh. Doanh nghiệp có khó khăn về vốn sẽ rất khó khăn
để tạo lập, duy trì và nâng cao khả năng cạnh tranh của mình trên thị trường.
nghiệp nói riêng. Bộ máy quản lý doanh nghiệp cũng có tầm quan trọng như
bộ óc con người, muốn chiến thắng được đối thủ trong cuộc cạnh tranh đòi
hỏi doanh nghiệp phải nhạy bén, chủ động trước tình huống thị trường, phải
đi trước các đối thủ trong việc đáp ứng các nhu cầu mới
Tất cả những hoạt động của công ty đều phụ thuộc vào bộ máy quản lý
của doanh nghiệp. Bộ máy quản lý phải tốt, phải có trình độ thì công ty mới
đạt hiệu quả trong kinh doanh, từ đó mới có thể nâng cao khả năng cạnh tranh
cho mình.
- Vị trí địa lý
Việc lựa chọn mặt bằng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là điều
cần thiết quan trọng, nó có thể tạo thuận lợi hoặc khó khăn cho quá trình cung
ứng nguyên vật liệu đầu vào và quá trình tiêu thụ sản phẩm.
Tùy từng loại sản phẩm của công ty mà lựa chọn những vị trí thích hợp
để quá trình kinh doanh được hiệu quả.
1.3. ĐẶC ĐIỂM CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN DỊCH VỤ MÁY VĂN
PHÒNG A&D
1.3.1. Lịch sử hình thành và phát triển của công ty
Tên công ty : Công ty Cổ phần dịch vụ máy văn phòng A & D
Tên giao dịch tiếng anh : A&D office machine service join stock
company.
Tên công ty viết tắt : A&D OMA., JSC
SV: Cao Thị Quỳnh Hoa Lớp: QTKD Thương mại 51B
18
Chuyên đề thực tập Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế
Địa chỉ trụ sở chính : Tập thể Bệnh viện Nông Nghiệp I – Xã Ngọc Hồi
– Huyện Thanh Trì – Thành phố Hà Nội.
Trụ sở giao dịch: Số 11 – Ngõ 15 – Đường Ngọc Hồi – Hoàng Liệt –
Hoàng Mai – Hà Nội.
Số giấy phép đăng ký kinh doanh/ Mã số thuế: 0102641108
Điện thoại : 04.36815184/04.36815878
rộng hơn, không chỉ bán lẻ nữa mà công ty bắt đầu bán buôn cho các công ty
SV: Cao Thị Quỳnh Hoa Lớp: QTKD Thương mại 51B
19
Chuyên đề thực tập Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế
và đại lý ở một số tỉnh như Ninh Bình, Nghệ An, Hà Nam, Hải Dương với các
mặt hàng chính vẫn là các loại máy văn phòng, linh kiện máy tính, máy in.
Nhận thấy tiềm năng của thị trường cùng với những kinh nghiệm quý báu tích
lũy được trong những năm đầu kinh doanh, các cổ đông sáng lập đồng thời là
ban lãnh đạo của Công ty A&D quyết định tăng vốn kinh doanh của công ty
bằng các khoản vay ngân hàng và tăng vốn điều lệ từ lên từ 500.000.000
đồng lên 4.900.000.000 đồng.
Do nhu cầu phát triển, đầu năm 2011, Công ty A&D đã chuyển sang trụ
sở kinh doanh mới là số 11 – Ngõ 15 – Đường Ngọc Hồi – Hoàng Liệt –
Hoàng Mai – Hà Nội. Trụ sở mới có nhiều ưu điểm là rộng rãi, đáp ứng đủ
như cầu về diện tích của các phòng ban nhất là bộ phận kho, thuận tiện về
giao thông cho việc phân phối, vận chuyển hàng bán buôn đi các tỉnh trên cả
nước. Công ty A&D cũng tuyển thêm một đội ngũ nhân viện chuyên nghiệp,
chia thành các phòng ban phụ trách riêng phù hợp với đặc thù kinh doanh.
Với phương châm “chất lượng và dịch vụ hoàn hảo” cán bộ công nhân viên
công ty A&D luôn nỗ lực không ngừng để tạo nên uy tín, sự chuyên nghiệp
và chỗ đứng vững chắc trên thị trường.
1.3.2. Chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy công ty
1.3.2.1.Chức năng, nhiệm vụ của công ty
•Chức năng
Công ty Cổ phần Dịch vụ Máy văn phòng A&D hoạt động trong lĩnh
vực kinh doanh máy văn phòng với 2 chức năng chính:
- Bán buôn, bán lẻ các loại máy, linh kiện máy văn phòng.
- Tổ chức phân phối các sản phẩm tin học ứng dụng, sản phẩm tin học
công nghệ cao.
Bên cạnh hoạt động kinh doanh chính, công ty cũng quan tâm phát triển
riêng. Giám đốc có thể điều hành trực tiếp các phòng ban hoặc có thể điều
hành gián tiếp qua các phó giám đốc.
- Phó giám đốc phụ trách nhập hàng: chịu trách nhiệm nhập hàng chính
cho công ty, là người theo dõi, dự đoán trước những biến động về giá cả, nhu
cầu của thị trường để lên kế hoạch, tham mưu cho giám đốc về những mặt
hàng chiến lược. Phó giám đốc phụ trách nhập hàng làm việc trực tiếp với nhà
cung cấp, đảm bảo những lô hàng nhập về chất lượng chính hãng, giá cả hợp
lý. Đối với những mặt hàng do nhân viên kinh doanh đề nghị nhập thì phải
được Phó giám đốc ký duyệt về số lượng và giá cả. Phó giám đốc cũng phải
theo dõi thường xuyên, nắm được số lượng hàng hóa trong kho để có kế
hoạch nhập hàng hợp lý, đảm bảo lượng hàng hóa trong kho cho kinh doanh
SV: Cao Thị Quỳnh Hoa Lớp: QTKD Thương mại 51B
22
Giám đốc
Phó Giám đốc
(Phụ Trách Nhập hàng)
Phó Giám đốc
(Phụ Trách Xuất hàng)
Phòng Kinh
doanh
Phòng Kế
toán
Bộ phận
Kho
Bộ phận
Giao vận
Bộ phận Kĩ
thuật và Bảo
hành
Chuyên đề thực tập Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế
châm của phòng kỹ thuật và bảo hành là đáp ứng nhanh nhất và tốt nhất
những nhu cầu về kỹ thuật của khách hàng.
Bộ phận kho: có nhiệm vụ nhập hàng và xuất hàng theo phiếu đề nghị
nhập hàng, hóa đơn bán hàng chính xác về chủng loại mặt hàng, số lượng, đầy
đủ giấy tờ, tem phiếu bảo hành gốc. Sắp xếp và quản lý hàng trong kho hợp lý
đảm bảo an toàn, đủ số lượng. Những trường hợp mất mát, thiệt hại trong quá
SV: Cao Thị Quỳnh Hoa Lớp: QTKD Thương mại 51B
23