Phân tích và đánh giá công tác lập dự toán công trình xây dựng tại Trung tâm kỹ thuật Đường bộ - Tổng cục Đường bộ Việt Nam - Pdf 25

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Tùng Phương
LỜI MỞ ĐẦU
Trong thời gian vừa qua có thể nói tổng dự toán ở nhiều công trình xây dựng
do Trung Ương và địa phương quản lý đều vượt tổng mức đầu tư đã được phê
duyệt. Qua số liệu phân tích cho thấy, mức vốn đầu tư của các công trình xây dựng
sau khi tổng dự toán được phê duyệt đều vượt mức tổng vốn đầu tư đã được phê
duyệt trong báo cáo nghiên cứu khả thi. Mức vượt này thấp nhất cũng là 21% và
cao nhất nhà 177,55%. Khi đánh giá vượt mức vốn theo cơ cấu vốn đầu tư cho thấy:
mức vốn xây lắp và vốn thiết bị trong tổng mức đầu tư là cao nhất (vốn xây lắp vượt
từ 26,6% đến 114,15%; vốn thiết bị vượt từ 1,57% đến 69,13%), một số công trình
có khoản vốn dự phòng xác định trong tổng mức đầu tư không phù hợp. Thậm chí
có công trình lượng vốn dự phòng lại quá lớn, nhưng cũng không trang trải hết phần
vượt vốn xây lắp, vốn thiết bị và chi phí khác của công trình.
Quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình là một vấn đề hết sức phức tạp do
lĩnh vực xây dựng cơ bản có nhiều đặc điểm riêng biệt. Dự toán xây dựng là một
trong những công cụ giúp quản lý chi phí đầu tư xây dựng một cách có hiệu quả. Nó
giúp các nhà quản lý dự đoán trước được phần nào tình hình sản xuất kinh doanh và
chuẩn bị đủ nguồn lực tài chính cần thiết cũng như là lượng dự phòng để hoạt động
đầu tư xây dựng công trình được diễn ra thuận lợi, đảm bảo chất lượng cũng như
tiến độ.
Bên cạnh đó, tình hình kinh tế trong những năm vừa qua đã và đang diễn
biến theo chiều hướng ngày càng khó khăn. Chính vì thế, để có thể vượt qua tình
hình khó khăn, không chỉ các doanh nghiệp tư nhân mà cả các doanh nghiệp có sử
dụng vốn nhà nước cũng cần phải có những bước đi chắc chắn và tầm nhìn chiến
lược đúng đắn. Đầu tư xây dựng là một hoạt động tiền đề quan trọng trong quá trình
phát triển kinh tế - xã hội của nền kinh tế. Do đó, hoạt động trong lĩnh vực này thì
các doanh nghiệp cần phải trang bị cho mình các nguồn lực về nhân lực, vật lực
(trang thiết bị, công nghệ…)… để có thể đáp ứng được những đòi hỏi của ngành
cũng như đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội cho đất nước.
Do vậy, nhiệm vụ đặt ra đối với các nhà đầu tư, các nhà tư vấn… đó là cần

chuyên đề gồm có 3 chương sau:
Chương I: Cơ sở lý luận về dự toán công trình xây dựng
Chương II:Thực trạng công tác lập dự toán công trình xây dựng tại
Trung tâm kỹ thuật Đường bộ - Tổng cục đường bộ Việt Nam
Chương III: Giải pháp hoàn thiện công tác lập dự toán công trình xây
dựng tại Trung tâm kỹ thuật Đường bộ - Tổng cục đường bộ Việt Nam
SV: Dương Hồng Nhung Lớp: Bất động sản 51
2
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Tùng Phương
Trong quá trình thực hiện đề tài này, với sự giúp đỡ nhiệt tình các thầy cô
giáo trong khoa Bất động sản và Kinh tế tài nguyên đặc biệt là đặc biệt là giảng viên
Th.s Nguyễn Thị Tùng Phương và các cán bộ phòng Kỹ thuật – Công nghệ và
Môi trường đã giúp tôi hoàn thành đề tài này. Nhưng do trình độ và thời gian
nghiên cứu có hạn nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, tôi rất mong
sự quan tâm, đóng góp ý kiến của các thầy cô cũng như các bạn để đề tài ngày càng
hoàn thiện hơn.
SV: Dương Hồng Nhung Lớp: Bất động sản 51
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Tùng Phương
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LẬP DỰ TOÁN CÔNG TRÌNH
XÂY DỰNG
1.1 Khái niệm, đặc điểm của công trình xây dựng
1.1.1 Khái niệm công trình xây dựng
Đối với công nghiệp xây dựng, sản phẩm xây dựng là các công trình (hay
liên hợp công trình, hạng mục công trình) được tổ hợp từ sản phẩm của rất nhiều
ngành sản xuất khác nhau như các ngành: chế tạo máy, ngành công nghiệp vật liệu
xây dựng, ngành năng lượng, hóa chất, luyện kim… Và cuối cùng là ngành công

• Công trình xây dựng có tính chất cố định, được xây dựng và sử dụng tại
chỗ nhưng lại phân bố trên toàn vùng lãnh thổ.
• Sản phẩm xây dựng là công trình cố định tại nơi xây dựng, phụ thuộc
nhiều vào điều kiện tự nhiên, điều kiện địa phương và thường đặt ở ngoài trời.
• Sản phẩm xây dựng thường mang tính chất cá biệt cao cả về phương diện
kết cấu và cả về phương diện chế tạo, kiến trúc. Nó có thể phụ thuộc vào nhu cầu,
khả năng, cũng như điều kiện tự nhiên, khí hậu, xã hội nơi xây dựng mà các công
trình xây dựng rất đa dạng.
• Sản phẩm xây dựng có tính chất tổng hợp về kinh tế kỹ thuật, văn hóa,
chính trị xã hội, quốc phòng…
• Sản phẩm xây dựng có liên quan đến nhiều ngành: bao gồm các ngành
cung ứng vật tư, thiết bị, nguyên vật liệu cho sản xuất đồng thời cũng liên quan đến
nhiều ngành sử dụng các sản phẩm (các công trình này).
• Sản phẩm xây dựng có kích thước, chi phí lớn, thời gian xây dựng và thời
gian sử dụng lâu dài. Do vậy phải tính toán kỹ lưỡng khi thiết kế vì nếu có sái sót sẽ
rất khó sửa chữa.
1.1.3 Quá trình hình thành công trình xây dựng
Quá trình hình thành công trình xây dựng gồm ba giai đoạn:
SV: Dương Hồng Nhung Lớp: Bất động sản 51
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Tùng Phương
Chi tiết các bước công việc của quá trình hình thành và thực hiện một dự án
đầu tư xây dựng được tổng hợp trong bảng sau:
Bảng 1.1: Chi tiết các bước công việc của quá trình hình thành và thực hiện
một dự án đầu tư xây dựng
Chuẩn
bị đầu

Nghiên cứu tìm kiếm cơ hội đầu tư

- Lập dự toán chi phí công trình
- Lập kế hoạch xin cấp và vay vốn
- Ký hợp đồng giao thầu xây dựng
- Lập kế hoạch tiến độ thi công xây lắp
- Ký hợp đồng mời thầu cung ứng vật tư xây
dựng
- Ký hợp đồng mời thầu cung ứng máy móc
thiết bị
Tổ chức thi công
xây dựng
- Tiếp nhận vốn vay, vốn cấp
- Thực hiện đền bù giải tỏa, san lấp mặt bằng
SV: Dương Hồng Nhung Lớp: Bất động sản 51
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Tùng Phương
xây dựng
- Tiếp cận và bảo quản vật tư xây dựng
- Tổ chức thi công xây dựng
- Giám sát thi công xây dựng
- Tiếp nhận, giám sát lắp đặt thiết bị
- Hoàn thiện xây dựng, lắp đặt công trình
- Chuẩn bị bộ máy quản lý, tuyển dụng đào tạo
nhân lực
- Nghiệm thu bàn giao công trình
- Thanh quyết toán xây dựng công trình
- Vận hành thử công trình
Khai
thác
Đưa công trình vào vận hành khai thác

yếu tố thời tiết. Phải chú ý cải thiện điều kiện làm việc cho công nhân như làm lều
che mưa nắng, cơ giới hóa tối đa…
Sản xuất xây dựng chịu ảnh hưởng của lợi nhuận chênh lệch do địa điểm xây
dựng mang lại: cùng loại công trình nhưng xây ở các địa phương khác nhau thì giá
vật liệu, nhân công, máy thi công khác nhau do vậy giá thành khác nhau dẫn đến lợi
nhuận khác nhau.
Tốc độ phát triển kỹ thuật ở xây dựng thường chậm hơn so với các ngành
công nghiệp khác, tỷ lệ lao động thủ công cao và ngành xây dựng là một ngành khó
nhập khẩu.
SV: Dương Hồng Nhung Lớp: Bất động sản 51
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Tùng Phương
1.2 Một số khái niệm về dự toán và lập dự toán công trình xây dựng
1.2.1 Khái niệm về dự toán công trình xây dựng
Quá trình đầu tư xây dựng của một dự án được chia làm 3 giai đoạn chính:
giai đoạn chuẩn bị đầu tư, giai đoạn thực hiện đầu tư, giai đoạn kết thúc xây dựng
và đưa dự án vào khai thác sử dụng. Ở mỗi giai đoạn đòi hỏi phải xác định được chi
phí xây dựng công trình tương ứng, làm cở sở để quản lý vốn đầu tư xây dựng công
trình. Tuy nhiên điều kiện và các căn cứ xác định chi phí xây dựng công trình ở mỗi
giai đoạn là khác nhau làm cho độ xác thực của dự toán chi phí xây dựng công trình
ở từng giai đoạn cũng khác nhau.
Dự toán công trình được xác định ở giai đoạn thực hiện dự án. Dự toán công
trình là tổng mức chi phí cần thiết cho việc đầu tư xây dựng công trình được tính
toán cụ thể ở giai đoạn thiết kế kỹ thuật. Tùy thuộc vào trình tự thiết kế mà tổng dự
toán công trình được xác định tương ứng. Nếu công trình được thiết kế theo 2 bước
thì tổng dự toán sẽ được lập theo thiết kế kỹ thuật, còn nếu thiết kế một bước thì
tổng dự toán được lập theo thiết kế bản vẽ thi công. Đó là giới hạn tối đa về vốn
được sử dụng cho công trình, là cơ sở để lập kế hoạch vốn đầu tư và quản lý sử
dụng vốn đầu tư, được dùng để khống chế và quản lý các chi phí trong quá trình

giá trị dự toán cần tính.
1.2.3 Định mức xây dựng, hệ thống đơn giá xây dựng, chỉ số giá xây dựng
Một đặc điểm rất quan trọng của công trình xây dựng là nó được hình thành
từ nhiều bộ phận cấu tạo và nhiều kết cấu khác nhau, có quy mô lớn và thời gian
xây dựng kéo dài nên không thể định giá công trình toàn vẹn một cách đơn giản
được mà phải được tính toán từ những thành phần và kết cấu tạo nên nó. Vì vậy khi
xác định chi phí xây dựng công trình đều phải dựa trên hệ thống định mức, đơn giá
cần thiết và phù hợp. Mỗi loại định mức, đơn giá được dùng thích hợp để xác định
dự toán xây dựng công trình cho từng giai đoạn nhất định.
1.2.4.1Định mức xây dựng
a) Khái niệm
Định mức dự toán được lập trên cơ sở các quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng;
quy phạm kỹ thuật về thiết kế - thi công – nghiệm thu; mức cơ giới hóa chung trong
ngành xây dựng; trang thiết bị kỹ thuật, biện pháp thi công và những tiến bộ khoa
học – kỹ thuật mới trong ngành xây dựng (các vật liệu mới, thiết bị và công nghệ thi
công tiên tiến…). Định mức xây dựng bao gồm định mức kinh tế- kỹ thuật và định
mức tính theo tỷ lệ. Trong đó:
- Định mức kinh tế kỹ thuật quy định mức hao phí cần thiết về vật liệu,
nhân công và máy thi công để hoàn thành một đơn vị khối lượng công tác xây dựng
SV: Dương Hồng Nhung Lớp: Bất động sản 51
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Tùng Phương
như 1m
3
tường gạch, 1m
3
bê tong, 1m
3
mái nhà, từ khâu chuẩn bị đến khâu kết

SV: Dương Hồng Nhung Lớp: Bất động sản 51
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Tùng Phương
Định mức xây dựng là căn cứ để xây dựng đơn giá phục vụ cho lập dự toán,
xác định giá xây dựng.
Là cơ sở để tính toán lượng hao phí vật liệu, lao động, ca máy phục vụ cho
định giá và yêu cầu quản lý chi phí xây dựng. Qua đó làm cơ sở để phân tích hiêu
quả kinh tế các giải pháp và phương án thiết kế.
Là cơ sở để lựa chọn các hình thức, giải pháp thi công xây lắp như: căn cứ tổ
chức cung ứng vật liệu, điều động sử dụng lao động, tổ chức thi đua, trả lương…
Là cơ sở để nghiên cứu vận dụng các phương pháp tổ chức lao động khoa
học trong tổ chức thi công xây lắp.
Là cơ sở để lập kế hoạch cung ứng vật liệu, cấp vốn thi công xây lắp
Đế phát huy tác dụng đòi hỏi định mức dự toán phải luôn luôn hoàn thiện sửa
đổi để mang tính chất trung bình tiên tiến, phù hợp với sự thay đổi của thực tiễn.
Hiện nay, hệ thống định mức mà Việt Nam sử dụng khi lập dự toán được
tổng hợp theo phụ lục 01.
1.2.4.2Hệ thống đơn giá xây dựng
a) Khái niệm về đơn giá xây dựng
Đơn giá xây dựng là chi phí trực tiếp dự toán về vật liệu, nhân công và máy
thi công để thực hiện và hoàn thành một đơn vị khối lượng công tác hoặc kết cấu
xây lắp công trình.
Đơn giá xây dựng cơ bản là cơ sở chủ yếu để xác định chi phí trực tiếp dự
toán xây lắp công trình. Đơn giá xây dựng công trình phải thể hiện đầy đủ đặc điểm
công trình, vị trí thi công, yêu cầu kỹ thuật, điều kiện thi công, biện pháp thi công,
chế độ chính sách và mặt bằng giá cả thị trường tại thời điểm thi công xây dựng
công trình.
b) Các loại đơn giá xây dựng
• Đơn giá xây dựng chi tiết

không đầy đủ
Đơn giá xây dựng chi tiết
đầy đủ
Chi phí vật liệu
Chi phí nhân công
Chi phí máy thi công
Thu nhập chịu thuế tính trước
Chi phí chung
Chi phí trực tiếp
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Tùng Phương
dự án chỉ việc lấy tổng vốn đầu tư chi cho công suất thiết kế của dự án.
Suất vốn đầu tư được dùng để xác định tổng mức đầu tư của dự án cần xây
dựng trong giai đoạn lập dự án hoặc báo cáo đầu tư.
1.2.4.3 Chỉ số giá xây dựng công trình
Chỉ số giá xây dựng là chỉ tiêu phản ánh mức độ biến động của giá xây dựng
công trình theo thời gian.
Chỉ số giá xây dựng dùng để phục vụ cho việc lập, điều chỉnh tổng mức đầu
tư, dự toán xây dựng công trình, giá hợp đồng xây dựng và quản lý chi phí đầu tư
xây dựng công trình.
Chỉ số giá xây dựng được xác định theo loại công trình, theo các yếu tố chi
phí, cơ cấu chi phí, loại vật liệu xây dựng chủ yếu, theo khu vực và được công bố
theo từng thời điểm.
Chỉ số giá xây dựng có vai trò xác định phần dự phòng trượt giá trong tổng
mức đầu tư, dự toán công trình và điểu chỉnh các chi phí đầu tư xây dựng, đơn giá
xây dựng về thời điểm lập dự toán khi sử dụng các số liệu về chi phí đầu tư xây
dựng, đơn giá cũ có sẵn.
1.3 Vai trò của công tác lập dự toán công trình
Bóc tách dự toán là một công việc không thể thiếu trong công tác đầu tư xây
dựng. Bóc tách dự toán có liên quan hầu hết đến các khâu trong quá trình đầu tư xây

chỉ đạo thi công xây dựng công trình nếu cán bộ dự toán không biết mình cần phải
làm những công việc gì và như thế nào, để hoàn thành được một công việc như vậy
thì phải dùng loại vật tư gì và mỗi số lượng mỗi loại là bao nhiêu…?
c) Giai đoạn thanh quyết toán công trình
Có thể nói đây là giai đoan vô cùng quan trọng và cán bộ dự toán chính là
người quyết định đến thành quả của toàn bộ quả trình xây dựng. Nói vậy là bởi vì
người lập dự toán sẽ đồng thời là người lập quyết toán công trình nếu họ bỏ qua
khối lượng khi bóc tách công trình từ bản vẽ hoàn công thì thành quả làm việc của
cả đơn vị sẽ không còn ý nghĩa? Dựa vào bản vẽ hoàn công, kỹ thuật thi công cung
cấp và bản dự toán công trình, đơn giá dự thầu thì người lập dự toán cần phải bóc
tách lại khối lượng thi công căn cứ vào tình hình thực tế và đưa ra giá quyết toán
cho công trình xây dựng. Nếu giao cho một người lập dự toán công trình rồi lại giao
cho người khác lập quyết toán thì sẽ rất dễ bị mất khối lượng bởi người lập dự toán
mới là người nắm rõ nhất những công việc mà mình đã làm.
1.4 Nội dung và phương pháp lập dự toán công trình xây dựng
1.4.1 Nội dung lập dự toán công trình xây dựng
Dự toán chi phí xây dựng được lập theo công trình và hạng mục công trình
SV: Dương Hồng Nhung Lớp: Bất động sản 51
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Tùng Phương
chính, công trình phụ trợ, công trình tạm phục vụ thi công hoặc có thể lập cho từng
bộ phận công trình hoặc một gói thầu riêng. Nội dung của dự toán công trình xây
dựng bao gồm: chi phí xây dựng (G
XD
), chi phí thiết bị (G
TB
), chi phí quản lý dự án
(G
QLDA

cung cấp); chi phí nhân công để thi công công trình; chi phí sử dụng các loại máy
thi công; chi phí trực tiếp khác là chi phí được dùng cho những công tác cần thiết để
phục vụ trực tiếp hoạt động thi công xây dựng công trình như chi phí để di chuyển
lực lượng lao động tại nội bộ công trường, an toàn cho hoạt động lao động, bảo vệ
môi trường cho người lao động và bảo môi trường xung quanh, thí nghiệm vật liệu
của đơn vị nhà và chi phí bơm nước, chi phí vét bùn không thường xuyên và không
xác định được các khối lượng từ thiết kế.
- Chi phí chung gồm các khoản mục chi phí như: chi phí quản lý của doanh
nghiệp, chi phí điều hành hoạt động sản xuất tại công trường, chi phí phục vụ cho
công nhân, chi phí phục vụ thi công xây dựng tại công trường và một số chi phí
khác.
- Thu nhập chịu thuế tính trước được hiểu là khoản lợi nhuận của doanh
nghiệp xây dựng đã được tính trước trong khi dự toán công trình xây dựng.
- Thuế giá trị gia tăng (viết tắt là GTGT) là thuế được tính trên giá trị tăng
thêm của hàng hoá, của dịch vụ được phát sinh trong quá trình từ sản xuất đến lưu
thông và tiêu dùng.
- Chi phí nhà tạm để ở và điều hành thi công xây dựng.
SV: Dương Hồng Nhung Lớp: Bất động sản 51
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Tùng Phương
1.4.1.2Chi phí thiết bị
Nội dung chi phí thiết bị (G
TB
) bao gồm các khoản mục là: chi phí mua sắm
thiết bị (G
ms
); chi phí đào tạo và chuyển giao công nghệ (G
đt
); chi phí lắp đặt, thí

trình theo yêu cầu của chủ đầu tư;
- Chi phí tổ chức kiểm tra và chứng nhận sự phù hợp về chất lượng công
trình;
- Chi phí tổ chức nghiệm thu, thanh toán, quyết toán hợp đồng, thanh toán
quyết toán vốn đầy tư xây dựng công trình;
- Chi phí tổ chức giám sát, đánh giá dự án đầu tư;
- Chi phí tổ chức nghiệm thu, bàn giao công trình;
- Chi phí khởi công, khánh thành, tuyên truyền quảng cáo;
- Chi phí tổ chức lập định mức, đơn giá xây dựng công trình;
- Chi phí tổ chức thực hiện công việc quản lý khác
1.4.1.4Chi phí tư vấn đầu tư xây dựng
Nội dung chi phí tư vấn đầu tư xây dựng bao gồm 20 khoản mục:
SV: Dương Hồng Nhung Lớp: Bất động sản 51
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Tùng Phương
- Chi phí lập nhiệm vụ khảo sát xây dựng;
- Chi phí khảo sát xây dựng;
- Chi phí lập báo cáo đầu tư, lập dự án đầu tư hoặc báo cáo kinh tế - kỹ
thuật;
- Chi phí thẩm tra tính hiệu quả và khả thi của dự án;
- Chi phí thi tuyển thiết kế kiến trúc;
- Chi phí thiết kế xây dựng;
- Chi phí thẩm tra thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi công, dự toán công
trình;
- Chi phí lập hồ sơ yêu cầu, hô sơ mời sơ tuyển, hồ sơ mời thầu và chi phí
phân tích đánh giá hồ sơ đề suất, hồ sơ sơ tuyển, hồ sơ dự thầu để lựa chọn nhà thầu
tư vấn, thi công xây dựng, cung ứng vật tư thiết bị, tổng thầu xây dựng;
- Chi phí giám sát, khảo sát xây dựng, giám sát thi công xây dựng, giám sát
lắp đặt thiết bị;

- Các khoản phí và lệ phí
- Chi phí nghiên cứu khoa học công nghệ liên quan đến dự án, vốn lưu động
ban đầu (đối với dự án sản xuất kinh doanh); lãi vay trong thời gian xây dựng; chi
phí chảy thử không tải, có tải trước khi bàn giao (trừ giá trị sản phẩm thu hồi được).
- Một số khoản chi phí khác, những khoản còn lại chưa được dự toán
Chú ý: Trường hợp dự án có nhiều công trình thì: chi phí rà phá bom mìn
vật nổ, chi phí thẩm trả phê duyệt quyết toán, chi phí nghiên cứu khoa học liên quan
đến dự án, chi phí chạy thử trước khi bàn giao, lãi vay trong xây dựng, vốn lưu
động ban đầu đối với dự án sản xuất kinh doanh; các khoản chi phí và lệ phí không
cần phải lập trong dự toán công trình mà chỉ cần xác nhận trong Tổng mức đầu tư
của dự án
1.4.1.6 Chi phí dự phòng
Nội dung của chi phí dự phòng bao gồm:
- Dự phòng cho khối lượng phát sinh chưa lường trước được tính bằng 5%
tổng: chi phí xây dựng, chi phí thiết bị, chi phí quản lý dự án, chi phí tư vấn đầu tư
xây dựng và chi phí khác.
- Dự phòng do yếu tố trược giá tính theo thời gian thực hiện dự án và chỉ số
giá theo từng khu vực xây dựng.
Từ các nội dung trên chúng ta có bảng tổng hợp dự toán công trình sẽ được
tổng hợp như phụ lục 08.
1.4.2 Phương pháp lập dự toán công trình xây dựng
1.4.2.1Xác định chi phí xây dựng
• Chi phí trực tiếp
Chi phí trực tiếp bao gồm chi phí vật liệu (kể cả vật liệu do chủ đầu tư cấp),
chi phí nhân công, chi phí sử dụng máy thi công và chi phí trực tiếp khác.
a. Chi phí vật liệu, nhân công, máy thi công trong chi phí trực tiếp được xác
định bằng một trong các phương pháp sau đây:
- Theo khối lượng và đơn giá xây dựng tổng hợp.
SV: Dương Hồng Nhung Lớp: Bất động sản 51
19

Phương pháp 2: Xác định chi phí xây dựng trong dự toán xây dựng công trình theo
khối lượng và đơn giá xây dựng đẩy đủ
Các bước tính toán tương tự như trường hợp xác định chi phí xây dựng theo
khối lượng và đơn giá xây dựng không đầy đủ
Chi phí xây dựng được tổng hợp theo phụ lục 04
• Chi phí trực tiếp khác
Khoản mục chi phí trực tiếp khác sẽ được tính bằng 1,5% trên tổng chi phí
vật liệu, chi phí nhân công và chi phí máy thi công. Riêng đối với các công tác xây
dựng trong hầm giao thông, hầm thuỷ điện và hầm lò thì chi phí trực tiếp khác (kể
cả chi phí vận hành công trình, chi phí sửa chữa đối với hệ thống cấp nước, hệ
thống thoát nước, hệ thống thông gió, cấp điện phục vụ cho công tác thi công trong
SV: Dương Hồng Nhung Lớp: Bất động sản 51
20
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Tùng Phương
hầm) sẽ được tính bằng 6,5% tổng chi phí vật liệu, chi phí nhân công và chi phí máy
thi công để xây dựng công trình.
Trường hợp nếu chi phí trực tiếp khác được tính theo tỷ lệ quy định không
phù hợp thì cần phải căn cứ vào điều kiện thực tế để xem xét điều chỉnh các mức tỷ
lệ cho phù hợp với thực tế.
• Chi phí chung
Chi phí chung sẽ được tính theo tỷ lệ phần trăm (%) trên chi phí trực tiếp
hoặc bằng tỷ lệ phần trăm (%) trên chi phí nhân công trong dự toán theo quy định
đối với từng loại công trình xây dựng khác nhau.
Đối với các hạng mục công trình tương ứng với từng loại công trình thì mỗi
hạng mục công trình đó được coi như một công trình độc lập và được áp dụng định
mức tỷ lệ chi phí chung theo loại hình công trình phù hợp.
• Thu nhập chịu thuế tính trước:
Thu nhập chịu thuế tính trước được tính bằng tỷ lệ phần trăm (%) trên chi
phí trực tiếp và chi phí chung theo quy định đối với từng loại công trình.

: Là số lượng thiết bị loại i của công trình đang xét trong dự án
M
i
: là giá một đơn vị thiết bị loại i tính tại hiện trường công trình xây dựng
không bao gồm thuế giá trị gia tăng
M
i
= G
gi
+ G
vci
+ G
kbi
+ G
bqi
+ G
ki
Trong đó:
G
gi
: là giá một đơn vị thiết bị lại i tại nơi mua không kể thuế giá trị gia tăng
G
vci
: là chi phí vận chuyển đơn vị thiết bị loại i về tại hiện trường không kể
thuế giá trị gia tăng
G
kbi
: là chi phí lưu kho bãi cho một đơn vị thiết bị i không kể thuế giá trị gia
tăng
G

tự tính theo một đơn vị khối lượng mở rộng
G

=
lđi
x D
lđi
x (1+TS

)
Trong đó:
- Q
lđi
: là khối lương lắp đặt ứng với thiết bị i (tấn, cái…)
- D
lđi
: đơn giá lắp đặt một đơn vị khối lượng lắp đặt ứng với thiết bị loại đơn
giá đầy đủ gồm chi phí trực tiếp, chi phí chung, thu nhập chịu thuế tính trước.
- TS

: thuế suất thuế giá trị gia tăng áp dụng cho công tác lắp đặt thiết bị
Bảng chi phí lắp đặt thiết bị được tổng hợp theo phụ lục 06.
• Trường hợp 2: Khối lượng lắp đặt có thể bóc tách chi tiết theo danh mục
công việc của định mức lắp đặt hiện có. Phương pháp lập dự toán chi phí lắp đặt
trong trường hợp này giống như lập dự toán chi phí xây dựng
Dự toán chi phí thiết bị được tổng hợp theo phụ lục 07.
1.4.2.3 Chi phí quản lý dự án
Trường hợp lập dự án có nhiều công trình thì chi phí quản lý dự án được lập
theo loại công trình trong dự án.
G

SV: Dương Hồng Nhung Lớp: Bất động sản 51
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Tùng Phương
Đối với các dự án có nhiều công trình thì chi phí lập báo cáo đầu tư, chi phí lập
dự án hoặc lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật không tính trong chi phí tư vấn đầu tư xây
dựng công trình của dự toán công trình.
Chi phí tư vấn đầu tư xây dựng được xác định trên cơ sở tham khảo định mức
tỷ lệ do Bộ Xây dựng công bố hoặc bằng cách lập dự toán.
1.4.2.5 Chi phí khác
Được xác định bằng định mức tỷ lệ (%) hoặc bằng cách lập dự toán. Đối với
các dự án có nhiều công trình thì chi phí thẩm tra tổng mức đầu tư; chi phí nghiên
cứu khoa học công nghệ liên quan dự án; vốn lưu động ban đầu đối với các dự án
đầu tư xây dựng nhằm mục đích kinh doanh, lãi vay trong thời gian xây dựng; chi
phí cho quá trình chạy thử không tải và có tải theo quy trình công nghệ trước khi
bàn giao (trừ giá trị sản phẩm thu hồi được) và các khoản phí và lệ phí không tính
trong chi phí khác của dự toán công trình.
Nếu còn có các chi phí khác có liên quan thì được bổ sung các chi phí này.
Chủ đầu tư quyết định và chịu trách nhiệm về quyết định của mình.
Trường hợp các công trình của dự án phải thuê tư vấn nước ngoài thực hiện thì
chi phí tư vấn được lập dự toán theo quy định hiện hành phù hợp với yêu cầu sử
dụng tư vấn cho công trình hoặc giá trị hợp đồng tư vấn đã ký kết để ghi vào dự
toán.
Một số chi phí khác nếu chưa có quy định hoặc chưa tính được ngay thì được
tạm tính đưa vào dự toán công trình để dự trù kinh phí.
1.4.2.6 Chi phí dự phòng
Đối với các công trình có thời gian thực hiện đến 2 năm: chi phí dự phòng
được tính bằng 10% trên tổng chi phí xây dựng, chi phí thiết bị, chi phí quản lý dự
án, chi phí tư vấn đầu tư xây dựng và chi phí khác.
Đối với các công trình có thời gian thực hiện trên 2 năm, chi phí dự phòng

định trong thiết kế.
- Sử dụng đơn giá có biện pháp thi công không phù hợp với đặc điểm cụ thể
của công trình (ví dụ: khối lượng đất đào đắp hàng vạn m3, cự ly vận chuyển vài
km lại tính theo biện pháp thi công bằng thủ công hoặc là khối lượng đào đắp không
cho phép sử dụng thi công bằng máy thì lại tính đợn giá theo biện pháp thi công
này…).
- Sai khác với điều kiện thi công: độ sâu, bề rộng, chiều cao thi công của
công tác…
SV: Dương Hồng Nhung Lớp: Bất động sản 51
25

Trích đoạn Đối với cỏ nhõn người lập dự toỏn Giai đoạn chuẩn bị hợp đồng Giai đoạn thực hiện hợp đồng Giai đoạn kết thỳc hợp đồng Về tổ chức nhõn sự
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status