Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng ngắn hạn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam Chi nhánh Mỹ Đình - Pdf 25

MỤC LỤC
CHƯƠNG I 3
TÍN DỤNG NGẮN HẠN VÀ MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGẮN
HẠN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 3
2.3.2. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng ngắn hạn tại chi nhánh Mỹ
Đình 40
DANH MỤC BẢNG BIỂU
CHƯƠNG I 3
TÍN DỤNG NGẮN HẠN VÀ MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGẮN
HẠN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 3
2.3.2. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng ngắn hạn tại chi nhánh Mỹ
Đình 40
Biểu đồ 2.1. Sơ đồ cho vay ngắn hạn theo thành phần kinh tế Error: Reference
source not found
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
NHNo&PTNT : Ngân Hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn
AGRIBANK : Ngân Hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn
PGD : Phòng giao dịch.
TDNN : Tín dụng nhà nước.
TDTC : Tín dụng tổ chức
QĐ-TT : Quyết định thủ tướng
HĐQT : Hội đồng quản trị
NHTM : Ngân hàng thương mại
NĐ – CP : Nghị định – chính phủ
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
TW : Trung ương
VND : Việt Nam Đồng
NHNN : Ngân hàng Nhà nước.
TSCĐ : Tài sản cố định.
TSLĐ : Tài sản lưu động.
XNK : Xuất nhập khẩu

nghiên cứu những vấn đề mang tính lý luận của công tác kinh doanh, em chọn đề
tài: “Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng ngắn hạn tại Ngân
hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam Chi nhánh Mỹ Đình”
Nội dung đề tài bao gồm 3 chương:
Chương I: Tổng quan về tín dụng và chất lượng hoạt động tín dụng ngắn
hạn tại Ngân hàng Thương mại.
Chương II: Thực trạng chất lượng hoạt động tín dụng ngắn hạn tại Ngân
hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông Thôn Chi nhánh Mỹ Đình.
Chương III: Giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng tín dụng
ngắn hạn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Chi nhánh Mỹ Đình.
Trong suốt quá trình thực tập, em đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình từ phía
nhà trường, ban giám đốc, cán bộ nhân viên trong phòng tín dụng của NHNo&PTNT
Chi nhánh Mỹ Đình và các thầy cô giáo trong trường đặc biệt là thầy giáo ThS. Đặng
Ngọc Biên đã hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành bài viết của mình.
Em xin chân thành cám ơn!
2
CHƯƠNG I
TÍN DỤNG NGẮN HẠN VÀ MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG
NGẮN HẠN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Một số vấn đề cơ bản về Ngân hàng Thương mại
1.1.1. Khái niệm về ngân hàng thương mại
Cùng với sự phát triển của sản xuất lưu thông hàng hoá Ngân hàng thương
mại đã ra đời và trở thành một thứ dầu bôi trơn cho cỗ máy kinh tế hoạt động một
cách nhịp nhàng thông suốt. Ngân hàng thương mại đã hình thành và tồn tại như
một tất yếu khách quan đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế hàng hoá. Sản xuất lưu
thông hàng hoá càng phát triển nhu cầu giao lưu giữa các vùng càng tăng, tuy nhiên
do sự khác biệt giữa các vùng về tiền tệ cũng như sự khác biệt về địa lý làm nhu cầu
đổi tiền cũng như gửi tiền và thanh toán hộ của các thương gia xuất hiện. Và cũng
chính nhờ hoạt động nhận tiền gửi và thanh toán hộ mà những người giữ tiền đã
nắm trong tay một khối lượng tiền lớn từ đó họ dễ dàng thực hiện hoạt động cho

Như vậy ta có thể hiểu Ngân hàng thương mại là một loại hình doanh nghiệp
đặc biệt hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực tín dụng với với mục đích thu lợi
nhuận.
Do sự bùng nổ về thông tin và công nghệ thông tin, công nghệ Ngân hàng
ngày càng được hiện đại hoá. Do đó để có thể cạnh tranh và hợp tác, hoạt động
Ngân hàng không chỉ bó hẹp trong phạm vi một vùng, một quốc gia mà hoà nhập
trong toàn cầu. Điều đó tạo ra một cơ hội mới cho các Ngân hàng trong việc phát
triển sản phẩm mở rộng thị trường nhưng cũng tạo ra rất nhiều thách thức cho các
Ngân hàng trong sự cạnh tranh.
4
Không những vậy, căn cứ vào tính chất sở hữu và hình thức góp vốn có rất
nhiều loại Ngân hàng thương mại như Ngân hàng thương mại quốc doanh, Ngân
hàng cổ phần, liên doanh, Ngân hàng nước ngoài ở Việt Nam… góp phần đa dạng
hoá các loại hình Ngân hàng tại Việt Nam. Từ đó thúc đẩy sự tự do cạnh tranh một
cách lành mạnh, giúp các Ngân hàng từng bước tự phát triển, đổi mới, mở rộng hoạt
động kinh doanh
1.1.2 Các nghiệp vụ cơ bản của Ngân hàng thương mại.
Ngân hàng thương mại là một đơn vị kinh doanh tiền tệ do đó các hoạt động
nghiệp vụ của Ngân hàng đều hướng tới mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận. Để đạt được
mục tiêu này Ngân hàng thương mại trong quá trình phát triển đã không ngừng đổi
mới, không chỉ nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ sẵn có mà còn thường xuyên
nghiên cứu nhằm cung cấp các sản phẩm dịch vụ mới phục vụ nhu cầu của người
dân. Tuy nhiên, một Ngân hàng thương mại luôn luôn tiến hành 3 nghiệp vụ cơ bản:
• Huy động vốn
Đối với hoạt động huy động vốn, đây là hoạt động “đầu vào” của ngân hàng,
Ngân hàng phần lớn dựa vào việc huy động tiền vốn nhàn rỗi tạm thời trong nền
kinh tế.
Thông thường Ngân hàng có các loại tiền gửi là tiền gửi không kỳ hạn, tiền
gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm.
Để thực hiện được hoạt động huy động vốn, Ngân hàng cần có một lượng

lãnh, tư vấn, kinh doanh chứng khoán, dịch vụ rút tiền tự động, bảo đảm an toàn vật
có giá, nghiệp vụ thuê mua. Tất cả các nghiệp vụ đều có quan hệ chặt chẽ hỗ trợ
nhau một mặt thoả mãn nhu cầu của khách hàng một mặt mang lại lợi nhuận cho
Ngân hàng.
6
1.2. Tín dụng Ngân hàng và vai trò của tín dụng Ngân hàng trong nền
kinh tế
1.2.1. Khái niệm tín dụng Ngân Hàng
Tín dụng là hoạt động mang tính sơ khai, tính bản chất của Ngân hàng, là cơ sở
chủ yếu để đánh giá chất lượng hoạt động Ngân hàng. Thuật ngữ “ tín dụng” (credit)
xuất phát từ chữ La Tinh credo (tin tưởng, tín nhiệm). Trong thực tế cuộc sống thuật
ngữ tín dụng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, ngay cả trong quan hệ tài chính,
tuỳ theo từng bối cảnh cụ thể mà thuật ngữ tín dụng có một nội dung riêng.
Theo luật NHNN, tín dụng được định nghĩa như sau: “Cấu thành một nghiệp
vụ tín dụng là bất cứ động tác nào qua đó người đưa hay người hứa đưa vốn cho
người khác dùng, hoặc cam kết bằng chữ ký cho người này như đảm bảo, bảo
chứng hay bảo lãnh có thu tiền”.
Trên cơ sở tiếp cận theo chức năng hoạt động của Ngân hàng thì tín dụng được
hiểu là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay ( Ngân hàng và
các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác),
trong đó bên cho vay chuyển giao tiền cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất
định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho
bên cho vay khi đến hạn thanh toán.
Quan hệ tín dụng Ngân hàng chỉ được hình thành khi có những điều kiện
kinh tế xã hội cụ thể làm tiền đề cho nó. Chính vì vậy, mặc dù các NHTM xuất hiện
rất sớm nhưng quan hệ tín dụng chỉ được hình thành vào khoảng cuối thế kỉ 19.
Thông thường quá trình vận động của tín dụng Ngân hàng trải qua 3 giai đoạn :
- Phân phối tín dụng dưới hình thức cho vay
- Sử dụng vốn trong quá trình sản xuất
- Hoàn trả tín dụng

Tín dụng là một trong những nghiệp vụ cơ bản nhất và cũng mang lại lợi
nhuận chủ yếu cũng như rủi ro cho các Ngân hàng. Chính vì vậy, các nhà Ngân
hàng luôn phải tìm ra các tiêu thức phân loại tín dụng để có thể dễ dàng quản lý,
kiểm tra từ đó phòng tránh rủi ro tín dụng. Dựa vào các tiêu thức khác nhau ta có
thể phân loại tín dụng như sau:
• Căn cứ vào thời gian của khoản vay:
Tổ chức tín dụng và khách hàng thoả thuận về thời hạn cho vay theo hai loại:
tín dụng ngắn hạn và tín dụng trung, dài hạn.
Tín dụng ngắn hạn: Đây là hình thức tín dụng thường có thời hạn dưới một
năm và mục đích thường để đáp ứng nhu cầu thiếu vốn tạm thời như phục vụ cho
thanh toán tiền, hàng hoá, tài trợ vốn lưu động hay thanh toán ngoại thương.
Tín dụng trung, dài hạn: Tín dụng trung hạn: Đây là hình thức tín dụng có
thời hạn từ một đến năm năm. Các khoản vay thường với mục đích để đầu tư, cải
tiến máy móc, trang thiết bị, đầu tư vào một ngành kinh doanh mới.Tuy nhiên các
máy móc trang thiết bị này cần có thời hạn khấu hao không quá dài, hay dự án kinh
doanh cần có kế hoạch thu hồi vốn sớm, để có thể kịp thời trả vốn cho Ngân hàng.
Tín dụng dài hạn: Đây là các khoản tín dụng được cấp có thời hạn từ 6o
tháng trở lên và cũng thường được sử dụng với mục đích xây nhà xưởng, đầu tư dây
chuyền sản xuất lớn, những dự án có thời hạn thu hồi vốn dài. Tuy nhiên thời gian
cho vay không quá thời hạn hoạt động còn lại theo quyết định thành lập hoặc giấy
phép thành lập đơn vị, pháp nhân và không quá 15 năm đỗi với các dự án đầu tư
phục vụ đời sống.
• Căn cứ theo hình thức bảo đảm
Tín dụng không có bảo đảm bằng tài sản: trong trường hợp này Ngân hàng
cấp tín dụng cho khách hàng mà không cần có tài sản thế chấp, cầm cố hay bảo lãnh
mà dựa vào uy tín của khách hàng. Những khách hàng được cấp tín dụng loại này
9
thường là những khách hàng quen, đã có uy tín với Ngân hàng về việc trả đúng và
đầy đủ các khoản nợ của mình từ trước tới nay.
Tín dụng có bảo đảm bằng tài sản: ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng

trong hợp đồng vay.
Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: Ngân hàng cam kết bảo đảm cho
khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định. Tuy nhiên nhiều
trường hợp khách hàng cần một lượng vốn lớn hơn, do đó Ngân hàng và khách
hàng thường thoả thuận một hạn mức tín dụng dự phòng lớn hơn. Đồng thời khách
hàng và Ngân hàng thường phải quy định về thời hạn hiệu lực và mức phí trả cho
hạn mức tín dụng dự phòng.
Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: Ngân hàng
chấp thuận cho khách hàng đựơc sử dụng số vốn vay trong phạm vi hạn mức tín
dụng để thanh toán tiền mua hàng hoá và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động hay
điểm ứng tiền mặt là đại lý của Ngân hàng.
Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là việc cho vay mà TCTD thoả thuận bằng
văn bản pháp luật chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản
thanh toán của khách hàng.
• Căn cứ vào phương thức trả nợ
Trả nợ một lần: khách hàng và Ngân hàng thoả thuận sẽ trả cả lãi và gốc một
lần duy nhất.
Trả nợ làm nhiều lần: Ngân hàng tính toán chia khoản nợ ra thành nhiều kỳ
để khách hàng có thể dễ dàng trả nợ.
11
Ngoài ra Ngân hàng còn sử dụng nhiều phương thức để phân loại khác như
dựa vào hình thái tiền tệ hay dựa vào đối tượng vay từ đó để Ngân hàng có thể dễ
dàng trong việc quản lý tránh nguy cơ xảy ra rủi ro tín dụng.
1.2.5. Vai trò của tín dụng Ngân Hàng
Một là: Tín dụng Ngân hàng là đòn bẩy kinh tế quan trọng thúc đẩy quá trình
mở rộng quan hệ giao lưu kinh tế quốc tế. Trong xu thế hội nhập quốc tế, mối quan
hệ giữa các nước trên thế giới và trong khu vực được mở rộng và phát triển đa dạng
cả về chiều rộng và chiều sâu. Đây là một trong những nhân tố quan trọng tạo điều
kiện đặc biệt cho các nước đang phát triển trên thế giới trong đó có nước ta. Thực
hiện chủ trương mở rộng hợp tác kinh tế, tăng cường các quan hệ đối ngoại do đó

động có hiệu quả, thu hút nhanh chóng các vật tư lao động, những tiềm năng sẵn có
khác vào sản xuất.
Bốn là: Tín dụng Ngân hàng có vai trò là công cụ kiểm soát hoạt động kinh
tế nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội.
Năm là: Đối với hoạt động kinh tế đối ngoại, tín dụng Ngân hàng tạo điều
kiện phát triển kinh tế giữa các nước.
Sáu là: Tín dụng Ngân hàng là động lực đối với việc hình thành và chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
1.3. Chất lượng hoạt động tín dụngn ngắn hạn của Ngân hàng thương mại
1.3.1.Các hình thức tín dụng ngắn hạn cảu Ngân hàng thương mại.
Một là : Chiết khấu chứng từ có giá
Các chứng từ có giá ở đây có thể là hợp đồng mua bán, các trái quyền (thương
phiếu, trái phiếu, tín phiếu kho bạc, công trái) hoặc mua bán lại các khoản nợ.
Hai là: Cho vay từng lần: Dịch vụ cho vay từng lần được các Ngân hàng
13
thương mại áp dụng đối với các khách hàng không có nhu cầu thường xuyên về
nguồn vốn tín dụng ngắn hạn hoặc không có đủ điều kiện để áp dụng hình thức cho
vay hạn mức, Mỗi một nhóm vay sẽ được kí một hợp đồng tín dụng riêng biệt
Ba là: Cho vay hạn mức: Ngân hàng và khách hàng có một thỏa thuận về
hạn mức tín dụng trong một kì nhất định (thường là một năm), theo đó khách hàng
được vay với số dư tối đa là một mức hạn nhất định, không cần làm lại hợp đồng,
Ngân hàng không xác định trước thời hạn tín dụng, qua đó tạo sự chủ động cho
khách hàng
Bốn là: Cho vay thấu chi: Thấu chi là hình thức cho vay theo đó khách hàng
được sử dụng số tiền vượt quá số tiền trong tài khoản vãng lai của họ tại Ngân hàng,
nó giúp họ giải quyết khó khăn trong ngắn hạn về tài chính.
Năm là: Bao thanh toán; Theo định nghĩa về bao thanh toán của Ngân hàng
Nhà Nước, bao thanh toán là hình thức cấp tín dụng của tổ chức tín dụng cho bên
bán hàng thông qua việc mua lại các khoản phải thu phát sinh từ việc mua, bán hàng
hóa đã được bên bán hàng và bên mua hàng thỏa thuận trong hợp đồng mua bán

một giải pháp tối ưu nhất cho các doanh nghiệp.
Như vậy, nghiệp vụ tín dụng Ngân hàng cũng là một yếu tố kích thích sản
xuất của doanh nghiệp, thúc đẩy đổi mới công nghệ và cải tiến mẫu mã sản phẩm để
có thể rút ngắn chu kỳ sản xuất, đưa nhanh sản phẩm vào lưu thông, tạo lập chỗ
đứng trên thị trường.
• Đối với nền kinh tế
Tín dụng ngắn hạn là một nguồn cung cấp vốn không thể thiếu đối với bất kì
một nền kinh tế nào, nó đáp ứng được nhu cầu cấp thiết về vốn trong quá trình sản
xuất kinh doanh, nhờ có tín dụng ngắn hạn, nền kinh tế tránh được những khó khăn
về tính thanh khoản, giải quyết khó khăn ngắn hạn để đảm bảo cho tăng trưởng
15
trong dài hạn.
Ngân hàng trong nền kinh tế với tư cách là một doanh nghiệp kinh doanh
trên lĩnh vực tiền tệ. với tư cách là một trung gian tài chính, nó là kênh chuyển vốn
từ những người thừa vốn đến những nơi thiếu vốn và hoạt động hiệu quả trong nền
kinh tế.
- Đảm bảo phát triển kinh tế theo chiều sâu:
- Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với mục tiêu của Chính Phủ
- Thúc đẩy mở rộng kim ngạch xuất nhập khẩu.
- Đảm bảo nguồn thu vững chắc cho Ngân hàng nhà nước.
• Đặc trưng của tín dụng ngắn hạn
Tín dụng ngắn hạn ngoài những đặc trưng của tín dụng Ngân hàng còn có
những đặc điểm riêng sau :
Tín dụng ngắn hạn là nghiệp vụ chủ yếu của Ngân hàng thương mại vì thời
gian cho vay đến 12 tháng. Chính loại vay này giúp cho Ngân hàng giữ được khả
năng thanh toán vì nó tương thích với kết cấu nguồn vốn của Ngân hàng thường là
tiền gửi tiết kiệm dưới 12 tháng
- Rủi ro tín dụng ngắn hạn thấp: Do khoản vay chỉ cung cấp trong thời gian
ngắn vì vậy ít chịu ảnh hưởng của sự biến động không thể lường trước của nền kinh
tế như các khoản tín dụng trung và dài hạn. Ngoài ra, các khoản vay được cung cấp

các nhóm chỉ tiêu sau :
+ Một là: Chỉ tiêu về huy động vốn ngắn hạn
Tỷ trọng vốn huy động
ngắn hạn
=
Vốn huy động ngắn hạn
17
Tổng nguồn vốn
Chỉ tiêu này cho biết trong tổng nguồn vốn của Ngân hàng thì vốn ngắn hạn
huy động được bao nhiêu, đồng thời cho biết khả năng huy động vốn ngắn hạn của
Ngân hàng. Chỉ tiêu này càng cao thì Ngân hàng càng có cơ hội mở rộng đầu tư cho
vay ngắn hạn, nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn. Tuy nhiên, chỉ tiêu này cao
cũng đồng nghĩa với việc chi phí tạo nguồn vốn lớn, nếu Ngân hàng không sử dụng
tốt nguồn vốn này thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến lợi nhuận của Ngân hàng.
+ Hai là: Khả năng cấp tín dụng
Khả năng cấp tín dụng =
Vốn huy động ngắn hạn
Dư nợ tín dụng ngắn hạn
Chỉ tiêu này cho biết vốn huy động ngắn hạn đảm bảo bao nhiêu phần trăm
nhu cầu tín dụng ngắn hạn, từ đó cho thấy khả năng tự chủ của Ngân hàng trong
việc cấp tín dụng cho nền kinh tế. Ngoài ra, chỉ tiêu này còn ảnh hưởng đến khả
năng thanh toán của Ngân hàng. Tỷ lệ này cao chứng tỏ Ngân hàng cho vay ngắn
hạn nhiều và đã sử dụng tốt nguồn vốn huy động ngắn hạn. Nếu tỷ lệ này thấp kết
hợp với khả năng huy động vốn ngắn hạn cao thì có thể kết luận Ngân hàng đã sử
dụng vốn lãng phí, không hiệu quả, ảnh hưởng tới lợi nhuận và an toàn trong hoạt
động Ngân hàng.
+ Ba là: Chỉ tiêu cho vay ngắn hạn
* Chỉ tiêu dư nợ:
Tỷ lệ dư nợ =
Dư nợ ngắn hạn

Dư nợ tín dụng ngắn hạn
Nếu tỷ lệ nợ không có khả năng thu hồi cao thì chất lượng tín dụng ngắn hạn
được đánh giá là thấp, hoạt động của Ngân hàng không có hiệu quả và các chỉ tiêu
khác đánh giá chất lượng tín dụng ngắn hạn không có giá trị.
+ Bốn là: Thu nhập từ hoạt động cho vay
19
Thu nhập từ hoạt động = Lợi nhuận từ tín dụng ngắn hạn
Tổng dư nợ tín dụng ngắn hạn
Chỉ tiêu thu nhập từ hoạt động cho vay cho biết khả năng sinh lời của tín
dụng ngắn hạn. Bất kỳ một khoản tín dụng nào, dù ngắn hay dài hạn, không thể coi
đó là có chất lượng cao nếu không đem lại lợi nhuận cho Ngân hàng. Ngoài ra còn
có thể thấy được vị trí của tín dụng ngắn hạn trong hoạt động của Ngân hàng thông
qua chỉ tiêu:
Khả năng sinh lời =
Lãi từ hoạt động cho vay
Tổng thu nhập
1.3.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến tín dụng ngắn hạn của Ngân hàng
Như vậy, nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn là một yêu cầu cấp thiết
không chỉ đối với Ngân hàng thương mại mà còn đối với nền kinh tế, doanh
nghiệp, hộ kinh doanh cá thể, các cá nhân, nói cách khác là tất cả các chủ thể trong
nền kinh tế. Để có thể nâng cao được chất lượng tín dụng ngắn hạn, trước hết,
chúng ta cần xem xét tới các nhân tố ảnh hưởng tới nó, mà cụ thể là các nhóm nhân
tố khách quan (đến từ bên ngoài Ngân hàng) và nhóm nhân tố chủ quan từ bên trong
Ngân hàng.
• Các nhân tố khách quan
+ Môi trường kinh tế:
- Nền kinh tế ổn định sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động tín dụng. Nền
kinh tế ổn định làm cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tiến hành
trôi chảy. Trong điều kiện không chịu ảnh hưởng của lạm phát, khủng hoảng khả
năng cho vay và khả năng trả nợ tiền vay sẽ thuận tiện.

nhiều khách hàng đến với mình. Khách hàng càng có sự tín nhiệm với Ngân hàng
thì càng được Ngân hàng ưu đãi trong quan hệ tín dụng. Đây là điều kiện để cải
21
thiện chất lượng tín dụng.
+ Nhân tố môi trường tự nhiên
Môi trường tự nhiên là nhân tố khách quan gây ảnh hưởng lớn đến chất
lượng tín dụng của Ngân hàng. Thực tế nhân tố này không tác động trực tiếp mà là
tác động gián tiếp đến hoạt động của Ngân hàng. Đối với những nước có khí hậu
không ổn định, khi thiên tai hạn hán, lũ lụt dịch bệnh bất ngờ xảy ra ảnh hưởng tiêu
cực đến sự phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh của các tổ chức kinh tế mà họ
không lường trước được, đặc biệt trong lĩnh vực này bị ứ đọng hoặc mất mát không
thu hồi được, từ đó không có khả năng thanh toán, trả nợ Ngân hàng, làm cho chất
lượng tín dụng của Ngân hàng bị hạ thấp.
+ Các nhân tố thuộc về khách hàng:
Khách hàng với tư cách là người gửi tiền, cung cấp nguồn lực đầu vào cho
hoạt động tín dụng ngắn hạn. Nguồn lực được duy trì ổn định mới tạo điều kiện cho
chất lượng tín dụng ngắn hạn tốt. Bên cạnh đó, với tư cách là đối tượng cho vay của
Ngân hàng, khách hàng là yếu tố quyết định trực tiếp đếnchất lượng tín dụng (vì
công tác phân tích thẩm định và ra quyết định của Ngân hàng dù sao cũng chỉ là
công tác dự báo). Khách hàng là đối tượng sử dụng vốn vay, đạo đức, trách nhiệm,
năng lực của họ mang ý nghĩa quyết định đến chất lượng khoản tín dụng. Có rất
nhiều nhân tố đánh giá năng lực của khách hàng, có thể kể ra như quy mô và chất
lượng sản xuất, mức độ chiếm lĩnh thị trường, tiềm lực tài chính, khả năng quả lý,
khả năng đáp ứng các điều kiện tài sản đảm bảo.
• Các nhân tố chủ quan.
+ Nhân tố khách hàng:
Tiềm lực tài chính của khách hàng: Thể hiện qua các chỉ tiêu như vốn tự có,
hệ số nợ, khả năng thanh toán, khả năng sinh lợi hàng năm.
Triển vọng kinh doanh: Thông thường khi doanh nghiệp đưa vốn của Ngân
hàng vào kinh doanh, một doanh nghiệp đang trong tình trạng thị phần của mình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status