HƯỚNG DẪN HỌC SINH CÁCH TÌM HIỂU ĐỀ, TÌM Ý, CHỌN VÀ SẮP
XẾP Ý KHI LÀM MỘT BÀI TẬP LÀM VĂN
I. PHẦN MỞ ĐẦU:
I.1.Lí do chọn đề tài:
Hoà chung với nhịp độ đi lên của đất nước đang trên đường tiến vào thế kỉ XXI.
Một thế kỉ công nghiệp hoá – hiện đại hoá ( CNH- HĐH). Mục tiêu của Giáo dục
hiện nay là: “ Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”. Đó là một
nhiệm vụ hết sức vinh quang nhưng cũng không kém phần nặng nề của ngành Giáo
dục. Như Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ VIII của Ban chấp hành TW đã khẳng
định đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước nhằm mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công
bằng , dân chủ và văn minh, đất nước vững bước đi lên CNXH. “Giáo dục & Đào tạo
là quốc sách hàng đầu.”Theo định hướng đó thì bậc tiểu học là nền tảng. Mục tiêu
giáo dục là nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, nhằm đào tạo một thế hệ trẻ vừa
“ hồng” vừa “chuyên”, có đầy đủ” Đức- Trí- Mĩ- Duc”; có kiến thức văn hoá, khoa
học, có kĩ năng nghề nhiệp, lao động tự chủ, sáng tạo, có kĩ thuật, giàu lòng yêu
nước, yêu Chủ nghĩa xã hội, sống lành mạnh, đáp ứng với nhu cầu phát triển của đất
nước trong những năm 2012-2020 và trong tương lai. Mỗi một môn học ở bậc tiểu
học đều góp phần hình thành và phát triển nhân cách của trẻ ; cung cấp cho trẻ những
trí thức cần thiết. Đặc biệt môn Tập làm văn là một phân môn hết sức quan trọng
trong việc rèn luyện kĩ năng nói và viết cho trẻ. Vì vậy dạy cho học sinh biết tìm hiểu
đề ,quan sát tìm ý … để hình thành một thói quen chuẩn bị tốt trước khi làm một bài
Tập làm văn là một yêu cầu hết sức quan trọng. Muốn tìm hiểu đề tốt, học sinh cần
nắm được cách đặt các câu hỏi tìm trọng tâm của đề một cách chính xác và những
yêu cầu để làm tốt một bài Tập làm văn.
Đối với cả giáo viên và học sinh đều chưa nhận thức được hết tầm quan trọng
của giờ hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề bài, quan sát, tìm ý , chọn lọc ý và sắp xếp ý
nên chất lượng giờ dạy còn hạn chế. Từ thực tế trên, qua quá trình giảng dạy, khi
thấy học sinh thường sai đề một cách đáng tiếc.Với mong muốn có một đóng góp
nhỏ bé trong việc giáo dục học sinh phát triển toàn diện; nâng cao năng lực sư phạm
- 1 -
cho bản thân. Xuất phát từ những suy nghĩ trên, tôi chọn nghiên cứu đề tài : “ Hướng
cách đáng tiếc. Với mong muốn có một đóng góp nhỏ bé trong việc giáo dục học sinh
phát triển toàn diện; nâng cao năng lực sư phạm cho bản thân. Tôi đã tìm hiểu
nguyên nhân và bổ cứu trong cách dạy của mình. Sau đây là những bước nhằm giúp
học sinh làm bài một cách có chất lượng qua “Tìm hiểu đề, tìm ý, chọn lọc và sắp
xếp ý” trước khi làm một bài Tập làm văn hoàn chỉnh của lớp 4+5.
I.5. Phương pháp nghiên cứu:
Dùng phương pháp tổng kết kinh nghiệm, ngoài ra còn sử dụng một số phương
pháp sau:
- Phương pháp điều tra.
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm ( Nghiên cứu bài làm của các em).
- Phương pháp trò chuyện.
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Đọc, tham khảo tài liệu qua sách báo,
- Khảo sát tình hình thực tế, dự giờ thăm lớp.
- Phương pháp thực hành, so sánh đối chiếu,….
II. PHẦN NỘI DUNG :
II.1. Cơ sở lí luận:
Trong thực tế bài làm của học sinh thường không xuất sắc vì rơi vào các trường
hợp sau: sai đề hoàn toàn; bài làm dàn trãi, không thể hiện được trọng tâm yêu cầu
của đề ra; bài làm phiến diện, thiếu cân đối (ý trọng tâm thì lướt qua còn ý phụ lại đi
sâu hơn); bài làm đúng yêu cầu nhưng ý nghèo, nông cạn,… Nguyên nhân chính của
những sai sót này là do học sinh không chịu tìm hiểu kỹ đề, tìm và chọn lọc ý mà chỉ
đọc qua quýt rồi làm bài trực tiếp chứ không thông qua làm nháp. Không chỉ do học
sinh lười tìm hiểu đề mà thực chất do giáo viên chúng ta không chú trọng đến khâu
này, không trực tiếp hướng dẫn và kiểm tra một cách nghiêm túc, chặt chẽ đối với
học sinh cho nên các em không có thói quen tìm hiểu đề, tìm ý. Thậm chí, một số
giáo viên có ý thức chú trọng khâu này nhưng lại lúng túng chưa tìm ra biện pháp
hướng dẫn cho học sinh xâm nhập đề ra nên đã bỏ qua bước quan trọng bậc nhất này.
- 3 -
Tìm hiểu đề, tìm ý, chọn và sắp xếp ý khi làm một bài văn là khâu đầu tiên quan
trọng nhất quyết định đúng sai trong quá trình làm bài. Đặc biệt, đối với học sinh
Sự quan tâm của phụ huynh học sinh cũng góp phần nâng cao chất lượng phân môn
Tập làm văn nói riêng và môn Tiếng việt nói chung.
- Học sinh lớp 4+5 phần lớn đã đọc thông viết thạo, có cố gắng trong quá trình tiếp
thu bài cũng như hình thành và rèn luyện kĩ năng cho mình. Một số học sinh có khả
năng tiếp thu nhanh kiến thức, ý thức tốt trong việc tìm hiểu đề kĩ, quan sát, tìm và
chọn lọc ý khi làm một bài văn.
- Các em rất giàu tư duy sáng tạo, mỗi em đều có những sở trường riêng. Ở lứa tuổi
các em rất thích tỏ ra mình là một người lớn, biết vâng lời, luôn luôn lắng nghe, ham
học hỏi,say mê tìm tòi,hồn nhiên, ngây thơ, trong sáng. Các em thường thể hiện nét
ngộ nghĩnh đáng yêu và cảm nhận thế giới xung quanh theo từng cách riêng với trí
tưởng tượng không giống nhau.
- Các em học sinh đều được học 2 buổi/ngày. Buổi sáng học lý thuyết và buổi chiều
được luyện tập củng cố để khắc sâu kiến thức. Từ đó giúp các em có khả năng sử
dụng thành thạo các bài tập thực hành và áp dụng linh hoạt vào các phân môn khác.
* Khó khăn:
- Do đặc điểm lứa tuổi học sinh giai đoạn này thường tiếp thu tốt nhưng cũng nhanh
quên; các em còn ngại khó, hễ gặp vấn đề hơi khó là muốn dừng lại mà phân môn
Tập làm văn lại là môn đòi hỏi tính cần cù, nhẫn nại cao.
- Trong trường có học sinh của ba dân tộc khác nhau, nhìn chung khả năng tiếp thu
không đồng đều, một số học sinh vốn ngôn ngữ Tiếng việt hạn chế nên đã ảnh hưởng
nhiều đến khả năng tạo lập văn bản của các em.
- Đối với học sinh vùng sâu, vùng xa điều kiện để các em phát triển về giao tiếp còn
hạn chế không được mở rộng như thành thị, học sinh chưa nhạy bén trong va chạm,
vốn sống của các em chưa thật phong phú.
- 5 -
- Ý thức học tập của một số em còn hạn chế. Bên cạnh đó học sinh với lối tư duy cụ
thể, khả năng tư duy trừu tượng chưa cao, chưa có ý thức tự giác học bài ở nhà, còn
trông chờ vào sự giúp đỡ của giáo viên nên kết quả học tập chưa cao.
- Một số phụ huynh chưa thực sự quan tâm đến con em mình khi cuộc sống còn gặp
nhiều khó khăn, vất vả, còn có quan điểm '' trăm sự nhờ nhà trường, nhờ thầy cô''
+ Kĩ năng làm văn của các em học sinh yếu hầu như không có. Các em chưa biết
cách tìm hiểu đề, quan sát, tìm ý,… thực hiện làm một bài văn chưa đúng quy trình,
chưa biết cách chọn lọc các chi tiết miêu tả đặc sắc để đưa vào bài văn, làm cho bài
văn thành “một mớ hỗn độn” của các chi tiết hoặc là thành “một bản liệt kê” với rất
nhiều chi tiết.
- Với học sinh khá, giỏi, việc dạy học Tập làm văn gặp một số tồn tại sau:
+ Do trong lớp có nhiều đối tượng học sinh nên giáo viên thường sử dụng phương
pháp làm mẫu để tạo đà giúp học sinh trung bình, yếu làm văn. Phương pháp này
giúp học sinh yếu có thể làm được bài bằng những gợi ý. Tuy nhiên, một số học sinh
học được lại thường hay bắt chước các câu, đoạn văn mẫu nên nhiều bài làm có các
câu, đoạn giống nhau.
+ Có sự chênh lệch rất lớn về trình độ của học sinh khá, giỏi và học sinh trung bình,
yếu nên giáo viên rất khó sử dụng các phương pháp “hiện đại” để có thể thực hiện tốt
nhiệm vụ giáo dục. Nếu chú ý đến học sinh khá, giỏi thì sẽ bỏ qua học sinh trung
bình, yếu. Nhưng nếu tập trung vào học sinh trung bình, yếu, kiên trì với đối tượng
này đạt được yêu cầu bài văn thì lại ảnh hưởng đến sự phát triển của số học sinh khá,
giỏi.
+ Một khó khăn nữa là nhiều học sịnh viết chữ chưa đẹp, nếu không nói là rất xấu,
sai chính tả. Nhiều bài văn có chữ viết lem nhem, đầy vết bẩn. Với một bài văn đầy
lỗi chính tả, tẩy xoá thì việc đọc lại bài, chau chuốt câu văn, sửa ý, sửa từ quả là khó
khăn, gian khổ.
- 7 -
c/ Mặt mạnh- Mặt yếu
* Mặt mạnh:
Do chú trọng khâu này nên đã khắc phục được tình trạng lạc đề hoặc làm bài dàn
trãi. Đối với những em yếu, trung bình thì bài làm đã đúng trọng tâm. Đối với những
em khá, giỏi thì rất phong phú về ý, sâu sắc về nội dung, chặt chẽ trong lập luận. Do
vậy, có một phần không nhỏ cho thành công của học sinh trong mùa thi.
* Mặt yếu:
Còn có nhiều học sinh đọc chưa thông, viết chưa thạo nên khi làm bài văn không
trưng, những đặc điểm nỗi bật của vật được quan sát đã gây ấn tượng và cảm xúc cho
các em. Nhũng hình ảnh đó được ghi lại theo trình tự thời gian và không gian bằng
các giác quan, từ đó tập cho các em thói quen tự giác tích cực trong việc tìm hiểu đề,
quan sát, tìm, chọn, sắp xếp ý thành một dàn bài logic. Đây là bước đầu tiên khi thực
hành làm một bài TLV.
Tuy nhiên thực trạng hiện nay cho thấy, rất ít giáo viên cũng như học sinh có thể
nhận thức được tầm quan trọng của việc đọc kỹ đề, quan sát, tìm, chọn và sắp xếp ý
trong quá trình làm một bài TLV. Do đó bài viết của tôi nhằm nêu rõ hơn về tầm
quan trọng của vấn đề trên cũng như kiến nghị một số giải pháp để giải quyết như
sau.
II.3. GIẢI PHÁP, BIỆN PHÁP
a. Mục tiêu của các giải pháp, biện pháp:
- Hướng dẫn học sinh đọc kỹ đề ra.
- Hướng dẫn và yêu cầu học sinh đặt câu hỏi tìm trọng tâm đề ra.
- Hướng dẫn, yêu cầu học sinh đặt câu hỏi tìm ý.
- Hướng dẫn, yêu cầu học sinh đặt câu hỏi chọn lọc và sắp xếp ý.
b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp biện pháp:
+ Tìm hiểu đề: Đọc kỹ đề ra (Đọc nhiều lần, đọc theo từng mức độ khác nhau,
vừa đọc vừa suy nghĩ, cân nhắc từng chữ, từng ý trong đề ra)
- 9 -
- Đọc thầm: Đây là bước đầu tiên tiếp xúc với đề ra nên yêu cầu học sinh thật
tập trung chú ý. Giáo viên yêu cầu cả lớp im lặng nhìn lên đề ra ghi trên bảng và đọc
kỹ bằng mắt cho quen chữ, quen cách ngắt, nghỉ trong từng câu, từng vế của đề ra.
Tất nhiên, đây là lúc giáo viên đọc đề cho các em nghe.
- Đọc to: Yêu cầu vài em đứng dậy đọc to đề cho cả lớp nghe, trong lúc đó, lớp
vẫn đọc thầm bằng mắt theo bạn.
- Đọc diễn cảm: Đây là khâu rất quan trọng trong quá trình đọc đề, tìm hiểu đề.
Diễn cảm ở đây không phải ngân nga lên bổng xuống trầm mà là đọc rõ, biết ngắt,
nghỉ, nhấn giọng ở những từ ngữ quan trọng (Giáo viên đọc một lần, yêu cầu hai đến
bốn em đọc). Qua đọc, ý của đề ra sẽ rõ ràng, các trọng tâm yêu cầu rất dễ nhận rõ,
a/ Tả làng em sau cơn bão.
b/ Tả làng em trong cơn bão.
Ở đây, yêu cầu học sinh đọc kỹ đề và cân nhắc từng chữ, qua sự gợi ý của giáo
viên, ở hai đề trên về số lượng từ có khác nhau không? Về đối tượng có khác nhau
không? (không khác vì cùng tả "làng em").
Vậy, khác nhau ở điều gì? (khác ở ý nghĩa qua hai chữ "sau","trong"),"Tả làng
em sau cơn bão" tức là tả làng em khi bão đã như thế nào? (bão đã tan tức là chỉ còn
lại hậu quả của bão gây nên cho làng em). Còn "làng em trong cơn bão" thì sao? (tức
là làng em đang bị bão hoành hành…). Cả hai đề cùng tả "làng em" nhưng nội dung
tả có giống nhau không ? Vậy do đâu mà có sự khác nhau về trọng tâm yêu cầu đó?
Qua hai đề trên, ta thấy nhiều lúc từ ngữ đóng vai trò gì trong đề văn? (Quyết định
nội dung chính trong bài làm). Bỏ sót từ ngữ hoặc không hiểu từ, ngữ sẽ dẫn đến sai
trọng tâm yêu cầu. Do đó ta phải cân nhắc từng chữ.
Dạng đề thứ ba: đảo từ ngữ dẫn đến khác nhau về nội dung:
Ví dụ 3:
a/ Tả quê em chiều mưa.
- 11 -
b/ Tả chiều mưa quê em.
Sau khi giúp học sinh nhận định: cả hai đề không khác về số lượng chữ và đều
nói đến "chiều mưa", "quê em" và cùng yêu cầu miêu tả nhưng vị trí các ngữ được
đảo lại.
Qua sự đảo lại như vậy giúp em hiểu trọng tâm yêu cầu của mỗi đề.
Đề a: Yêu cầu tả "chiều mưa" là chính, hay tả "quê em" là chính? (tả "quê em"
là chính: Tức là tả cảnh, người, vật "quê em" lúc trời mưa).
Đề b: Tả cảnh nào là chính? (Cảnh "chiều mưa", tức là cảnh mưa như thế nào?
Âm thanh, màu sắc, mức độ gió ra sao? Sấm? Chớp?… Mưa làm cho cảnh vật ra
sao?
Sau đó, giáo viên cung cấp hai đoạn văn miêu tả (Viết lên bảng).
Giáo viên hỏi học sinh : Theo em đoạn văn nào tả "quê em chiều mưa" đoạn
văn nào tả "chiều mưa quê em"? qua trả lời của học sinh, giáo viên giúp các em nắm
Vậy, hệ thống câu hỏi tìm ý, giáo viên phải hướng dẫn làm thế nào để các em
linh hoạt sao cho phù hợp với yêu cầu đề, qua đó, phân biệt được cây này với cây kia,
con này với con kia, người này với người khác.
Trong phần này giáo viên cũng phải cho một số đề cụ thể để vừa làm ví dụ vừa
luyện tập tìm ý:
Ví dụ 5:
a/ Tả con trâu.
b/ Tả con mèo.
Giáo viên ghi 2 đề thành 2 cột trên bảng để hệ thống các ý tìm hiểu song song
nhau nhằm giúp các em nhận thấy được sự khác nhau giữa các loài vật (giáo viên yêu
cầu các em nêu câu hỏi và trả lời, lớp nhận xét bổ sung, giáo viên chốt lại, ghi bảng).
Câu hỏi bao quát: lông mèo màu gì? Dày hay thưa? Mềm hay cứng? Lông trâu
có giống lông mèo không? Mèo thì ta có nhìn thấy da không? Còn trâu thì sao? Da
- 13 -
trâu màu gì? Đầu mèo như thế nào? Tai ra sao? Còn mắt mèo? Mũi, miệng? Đầu, tai,
mắt, mũi miệng của trâu khác của mèo như thế nào? Mỗi câu trả lời đúng của học
sinh, giáo viên ghi bảng theo 2 cột để học sinh dễ phân biệt.
Sau khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu theo hệ thống câu hỏi, giáo viên có thể kết
luận: "loài vật đa số có đầu, thân, lông, chân, đuôi…nhưng mỗi loài mang những nét
đặc điểm riêng biệt. Cây cối, con người cũng thế. Cho nên chúng ta cần tìm ý tả thật cụ
thể để làm toát lên những nét riêng biệt đó".
Khi đã làm hết ý, giáo viên gợi ý tiếp: Còn ý nào nữa không? Để buộc các em
suy nghĩ và liệt kê hết các ý cần tả, cần thuật lên giấy nháp. Sau đó giáo viên hệ
thống lại bằng những câu hỏi: đối với dạng đề miêu tả thì các câu hỏi phải nhằm vào
cảnh gì? Bộ phận, đường nét gì? Màu sắc, hương vị, âm thanh, hoạt động như thế
nào?
Đối với tường thuật: Việc gì? Làm việc gì trước, làm việc gì sau? Làm như thế
nào? Các thao tác ra sao? Âm thanh? Động tác? Suy nghĩ? Tâm trạng? Và cảnh vật
xung quanh như thế nào?
Đối với kể chuyện: Diễn biến câu chuyện ra sao? Cần thể hiện các chi tiết như thế
em lại tả từ phòng học tả ra; có em lại tả cột cờ trước… khi tả người lại tùy theo đối
tượng người đó có thể theo nghề nghiệp, công việc, hoặc tuổi trẻ… để chọn điểm nào
để tả trước. Không nên theo khuôn mẫu, công thức nhất định từ đầu đến chân.
Ví dụ 6: Tả bạn học sinh đang đá bóng thì nên chọn tả hoạt động của đôi chân,
vì lúc này chân nổi bật nhất; hoặc tả ông em đang sửa vườn rau thì tả đôi tay trước.
Có khi tả người già thì có thể tả mái tóc bạc trắng trước cũng có thể da nhăn nheo
hay từ giọng nói phều phào, từ đôi tay run run… tùy theo chủ đích của người tả.
Tất cả: tìm, chọn, sắp xếp ý là quá trình hoạt động của trí óc giúp cho bài làm
trở nên chặt chẽ và nổi bật trọng tâm, đầy đủ và phong phú - bài viết hấp dẫn mang
phong cách riêng chứ không rập khuôn theo một khuôn mẫu.
- 15 -
+ Luyện tập tổng hợp:
Luyện tập tổng hợp là yêu cầu không thể thiếu sau khi hướng dẫn các em theo
những quy trình trên. Ngoài những đề luyện tập minh họa cho mỗi phần, giáo viên ra
1 bài tập tổng hợp, yêu cầu các em thực hiện đầy đủ các bước đã hướng dẫn.
Cần lưu ý các em, quá trình đặt câu hỏi là quá trình diễn ra trong óc, không ghi
vào giấy nháp mà chỉ ghi những câu trả lời vào giấy nháp thôi.
+ Giáo án thực nghiệm: Tập làm văn lớp 5
Bài: LUYỆN TẬP TẢ CẢNH
Tiết 1 Tuần 8
I. Mục tiêu:
1. Kiến thức: Biết lập dàn ý cho bài văn miêu tả một cảnh đẹp ở địa phương
- Một dàn ý với các ý riêng của mỗi học sinh.
2. Kĩ năng: Biết chuyển một phần trong dàn ý đã lập thành đoạn văn hoàn
chỉnh (thể hiện rõ đối tượng miêu tả, trình tự miêu tả, nét đặc
sắc của cảnh; cảm xúc của người tả đối với cảnh).
3. Thái độ: Giáo dục HS ý thức được trong việc miêu tả nét đặc sắc của
cảnh, tả chân thực, không sáo rỗng.
II. Chuẩn bị:
Phương pháp quan sát, thực hành
Giáo viên vừa gợi ý HS vừa đặt câu hỏi
- Đã quan sát tỉ mỉ chưa?
- Đã sắp xếp theo trình tự hợp lý chưa?
- Đã có trọng tâm chưa?
- HĐ nào được tả chính?
- Đã chọn lọc nét tiêu biểu chưa?
- Đã bộc lộ được cảm xúc khi miêu tả chưa?
- Hướng dẫn HS Tìm ý, chọn lọc ý, sắp xếp ý
* Hoạt động 3: Lập dàn ý miêu tả một cảnh
đẹp của địa phương.
Phương pháp bút đàm
- Giáo viên phát bút dạ và phiếu học tập cho
- Hoạt động lớp
- Học sinh theo dõi, trả lời.
- Các bạn nhận xét, bổ sung nếu cần thiết.
- Hoạt động lớp
- Học sinh lần lượt trả lời
- Các bạn nhận xét, bổ sung nếu cần thiết
- Hoạt động nhóm
- 1 học sinh đọc yêu cầu
- Các nhóm làm bài
- 17 -
các nhóm làm bài
- Giáo viên gợi ý
+ Dàn ý gồm mấy phần?
+ Dựa trên những kết quả quan sát, lập dàn
ý cho bài văn với đủ 3 phần.
- Giáo viên có thể yêu cầu học sinh tham
khảo bài.
hoàng hôn.
+ Bầu trời: mây - gió - cây cối - cánh đồng -
trời và đất - hoạt động người.
Kết bài:
Cảm xúc của em với cảnh đẹp quê hương
- Học sinh lập dàn ý trên nháp - giấy khổ to.
- Trình bày kết quả
- Hoạt động lớp, cá nhân
- 18 -
Phương pháp bút đàm + Phương pháp phân
tích, tổng hợp
- Giáo viên nhắc:
+ Nên chọn 1 đoạn trong thân bài để
chuyển thành đoạn văn.
+ Phần thân bài có thể gồm nhiều đoạn
hoặc một bộ phận của cảnh.
+ Trong mỗi đoạn thường có 1 câu văn nêu
ý bao trùm toàn đoạn. Các câu trong đoạn
phải cùng làm nổi bật đặc điểm của cảnh
và thể hiện được cảm xúc của người viết.
- Giáo viên nhận xét đánh giá cao những
bài tả chân thực, có ý riêng, không sáo
rỗng.
* Hoạt động 4: Củng cố
Phương pháp: Đàm thoại
Giáo viên đánh giá
c/ Tổng kết - dặn dò:
- Về nhà hoàn chỉnh đoạn văn, viết vào vở
- Chuẩn bị: Luyện tập tả cảnh: Dựng đoạn
mở bài - Kết luận.
nhàng và truyền đạt ngắn gọn để học sinh dễ hiểu, dễ thực hiện.
e/ Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu:
Qua thực hiện đề tài này tôi đã triển khai giảng dạy tại Trường Tiểu học Phú
Lộc. Do chú trọng khâu này nên đã khắc phục được tình trạng lạc đề hoặc làm bài
dàn trãi. Đối với những em yếu, trung bình thì bài làm đã đúng trọng tâm. Đối với
những em khá, giỏi thì rất phong phú về ý, sâu sắc về nội dung, chặt chẽ trong lập
luận. Do vậy, có một phần không nhỏ cho thành công của học sinh trong mùa thi.
II.4. Kết quả:
Qua kiểm tra khảo sát trong hai năm học tôi có kết quả như sau:
Tổng số học sinh : 30 em
- 20 -
Bảng 1.1: Kết quả học tập môn Tập làm văn qua các hai năm của học sinh
lớp 5
Đơn vị: %
Năm học Giỏi Khá Trung bình Yếu
2010-2011 10,0 16,7 53,3 20,0
2011- 2012 27,7 35,6 36,7 0,0
Thực tế qua bảng 1.1 có thể cho chúng ta thấy, thành tích học tập của các học sinh
qua 2 năm, năm 2010-2011 khi chưa áp dụng SKKN và 2011-2012 khi đã áp dụng
SKKN, có sự thay đổi rõ rệt, cụ thể là số học sinh đạt loại giỏi tăng từ 10% lên
27,7%, tăng 17,7%. Học sinh đạt loại khá tăng từ 16,7% lên 35,6%, tăng 18,9%. Học
sinh đạt loại trung bình giảm từ 53,3% xuống 36,7%, giảm 16,6% và học sinh đạt
loại yếu giảm từ 20% xuống còn 0%. Cho thấy SKKN sau khi được áp dụng đạt được
1 số thành quả nhất định.
III. Kết luận- Kiến nghị:
III.1. Kết luận:
Đây là một việc làm rút ra từ thực tế giảng dạy. Không phải không ai làm mà do
không có thói quen cho các giáo viên thực hiện. Vì để hướng dẫn tạo thành thói quen
cho các em, chúng ta không thể nói suông bằng lý thuyết mà đối với học sinh ở bậc
tiểu học thì phải chỉ dẫn từng bước, nhắc từng chữ, đưa ra từng đề cụ thể giải quyết
hiểu đề, tìm ý, chọn lọc, sắp xếp ý khi làm một bài Tập làm văn”. Do không có nhiều
thời gian nghiên cứu và trình độ , kinh nghiệm có hạn nên những vấn đề nêu trên
không khỏi có sai sót. Tôi mong nhận được những góp ý, phê bình của Ban giám
hiệu nhà trường, của các bạn đồng nghiệp để tôi có thể rút kinh nghiệm trong quá
trình dạy học ngày một tốt hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn
Danh mục tài liệu tham khảo:
- 22 -
- Sách Tiếng việt Lớp 4+5 ( Tập 1+ Tập 2)
- Sách Tiếng việt giáo viên Lớp 4+5 ( Tập 1+ Tập 2)
- Sách Thiết kế Bài giảng Tiếng việt Lớp 4+5 ( Tập 1+ Tập 2)
- Một số thông tin khác trên Internet.
- 23 -
MỤC LỤC
Trang
I. Phần mở đầu 1
I.1.Lí do chọn đề tài 1
I.2. Mục đích, nhiệm vụ đề tài 1
I.3. Đối tượng phạm vi nghiên cứu 2
I.4.Giới hạn phạm vi nghiên cứu 2
I.5. Phương pháp nghiên cứu 2
II. Phần nội dung 2
II.1. Cơ sở lí luận 2
II.2. Thực trạng 3
II.3. Giải pháp, biện pháp 6
II.4. Kết quả 12
III. Kết luận, Kiến nghị 12
- 24 -