TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HN
KHOA KIỂM TOÁN- KẾ TOÁN
MỤC LỤC
Sinh viên: Nguyễn Thị Vân Anh
Lớp : CĐ-ĐH KT3-K4
Chuyên đề tốt nghiệp
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HN
KHOA KIỂM TOÁN- KẾ TOÁN
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Sinh viên: Nguyễn Thị Vân Anh
Lớp : CĐ-ĐH KT3-K4
Chuyên đề tốt nghiệp
STT Chữ viết tắt Nghĩa viết tắt
1 CNH - HĐH Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
2 XDCB Xây dựng cơ bản
3 TSCĐ Tài sản cố định
4 GTGT Giá trị gia tăng
5 TK Tài khoản
6 Đvt Đơn vị tính
7 CT Công trình
8 ĐTST Đô thị sinh thái
9 VPTH Văn phòng tổng hợp
10 BHXH Bảo hiểm xã hội
11 BHYT Bảo hiểm y tế
12 BHTN Bảo hiểm thất nghiệp
13 KPCĐ Kinh phí công đoàn
14 SP Sản phẩm
15 TG Thời gian
16 CNV Công nhân viên
17 HN Hà Nội
18 CPNVLTT Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
thể thiếu được trong sự phát triển kinh tế và đặc biệt trong nên kinh tế thị
trường hiện nay tầm quan trọng của kế toán càng được nâng cao. Kế toán là
ngôn ngữ kinh doanh và được coi là nghệ thuật ghi chép các nghiệp vụ kinh
tế tài chính đồng thời cung cấp các thông tin cần thiết cho việc ra quyết định
phù hợp với từng yêu cầu sử dụng thông tin.
Muốn tồn tại và đứng vững trên thị trường, các doanh nghiệp không
ngừng phải nâng cao chất lượng sản phẩm, thay đổi mẫu mã, chủng loại, đầu
tư quảng cáo… và đặc biệt không ngừng phấn đấu giảm chi phí, hạ giá thành.
Sản phẩm có chất lượng tốt, giá thành hạ sẽ là yếu tố quan trọng nhất trong
việc cạnh tranh. Việc hạ giá thành sản phẩm là nhân tố quyết định sống còn
đối với mỗi doanh nghiệp. Đặc biệt trong xây dựng cơ bản, hạ giá thành sản
phẩm đã được đặt ra như một yếu tố cấp thiết, khách quan nhằm tạo tiền đề
cho các ngành khác trong nền kinh tế quốc dân cùng hạ giá thành sản phẩm.
Thông tin về chi phí sản xuất và tính giá thành sẽ giúp các nhà quản lý
doanh nghiệp phân tích, phản ánh tình hình sử dụng vật tư, lao động, tiền vốn
Sinh viên: Nguyễn Thị Vân Anh
Lớp: CĐ-ĐH KT3-K4 Chuyên đề tốt nghiệp
4
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HN
KHOA KẾ TOÁN- KIỂM TOÁN
có hiệu quả… từ đó đề ra các biện pháp hữu hiệu nhằm hạ thấp chi phí sản
xuất, giảm giá thành sản phẩm và đề ra các quyết định phù hợp cho sự phát
triển sản xuất kinh doanh và yêu cầu quản trị doanh nghiệp. Chính vì vậy,
việc tổ chức công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành là một yêu
cầu cần thiết và luôn được các doanh nghiệp quan tâm. Cũng vì vậy mà em
đã chọn đề tài: “Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm xây lắp tại Công ty Cổ phần xây dựng Procons” cho chuyên đề tốt
nghiệp của mình với mong muốn góp phần nhỏ bé vào công tác quản lý nói
chung và công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp
nói riêng.
- Không một ngành kinh tế nào có thể phát triển được nếu thiếu cơ sở
hạ tầng. Mặt khác trong sự nghiệp CNH, HĐH xây dựng cơ bản là một trong
các ngành phải đi trước một bước. Có thể nói, ngành xây lắp mở đường cho
các ngành khác tiến vào HĐH.
- Trên góc độ an ninh quốc gia, xây dựng cơ bản góp phần tạo ra
những công trình phục vụ cho đất nước. Đồng thời với việc xây dựng các
công trình kinh tế phải kết hợp với quốc phòng an ninh bảo vệ tổ quốc.
Ngành xây lắp có những đặc thù riêng về kỹ thuật và được thể hiện rõ
ở sản phẩm và quá trình tạo ra sản phẩm.
Đặc điểm của ngành xây dựng cơ bản có ảnh hưởng đến tổ chức công
tác kế toán trong doanh nghiệp xây dựng.
- Quá trình từ khởi công xây dựng cho đến khi công trình được hoàn
thành bàn giao đưa vào sử dụng thường dài và nó phụ thuộc vào qui mô, tính
chất phức tạp về kỹ thuật của từng công trình. Quá trình này được chia thành
nhiều giai đoạn: Chuẩn bị điều kiện thi công, thi công móng, tường, trần
mỗi giai đoạn thi công gồm nhiều công việc khác nhau.
Sinh viên: Nguyễn Thị Vân Anh
Lớp: CĐ-ĐH KT3-K4 Chuyên đề tốt nghiệp
6
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HN
KHOA KẾ TOÁN- KIỂM TOÁN
- Hoạt động xây lắp tiến hành ngoài trời nên chịu ảnh hưởng của điều
kiện thiên nhiên, ảnh hưởng đến việc quản lý tài sản, vật tư, máy móc từ đó
ảnh hưởng đến tiến độ thi công.
- Sản phẩm xây lắp là các công trình, vật kiến trúc có qui mô lớn, kết
cấu phức tạp, mang tính chất đơn chiếc, thời gian sản xuất sản phẩm xây lắp
kéo dài đặc điểm này đòi hỏi việc tổ chức quản lý và hạch toán sản phẩm
xây lắp nhất thiết phải lập dự toán, quá trình sản xuất xây lắp phải so sánh với
dự toán, lấy dự toán làm thước đo, đồng thời để giảm bớt rủi ro phải mua bảo
hiểm cho công trình xây lắp.
loại chi phí theo yếu tố)
Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung kinh tế là việc sắp xếp các chi
phí có nguồn gốc kinh tế ban đầu đồng nhất, không phân biệt chi phí đó phát
sinh trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh nào, ở đâu, có quan hệ như thế nào
với quá trình sản xuất.
Theo cách phân loại này toàn bộ chi phí sản xuất bao gồm:
- Chi phí về nguyên vật liệu: bao gồm toàn bộ chi phí về nguyên vật
liệu chính (xi măng, sắt thép ), vật liệu phụ, nhiên liệu (xăng, dầu ),phụ
tùng thay thế, vật liệu thiết bị xây dựng cơ bản mà doanh nghiệp đã sử dụng
cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ.
- Chi phí về nhân công: là toàn bộ tiền công, BHXH, BHYT, KPCĐ và
các khoản khác phải trả cho người lao động trong doanh nghiệp như phụ cấp
trách nhiệm, phụ cấp lưu động và các khoản phụ cấp khác.
- Chi phí về khấu hao TSCĐ: là toàn bộ số phải tính khấu hao TSCĐ
đối với tất cả TSCĐ trong doanh nghiệp.
- Chi phí về dịch vụ mua ngoài: là toàn bộ số tiền doanh nghiệp đã chi
trả về các dịch vụ từ bên ngoài như tiền điện, nước, tiền điện thoại, chi phí
Sinh viên: Nguyễn Thị Vân Anh
Lớp: CĐ-ĐH KT3-K4 Chuyên đề tốt nghiệp
8
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HN
KHOA KẾ TOÁN- KIỂM TOÁN
thuê máy phục vụ cho hoạt đông sản xuất của doanh nghiệp.
- Chi phí bằng tiền khác: là toàn bộ chi phí phát sinh trong quá trình
hoạt động sản xuất kinh doanh ngoài 4 yếu tố chi phí trên.
Thông qua cách phân loại chi phí này cho phép ta biết được trong quá
trình sản xuất doanh nghiệp cần phải chi ra những chi phí gì và cơ cấu, tỷ
trọng của từng yếu tố chi phí trong tổng chi phí như thế nào. Cách phân loại
này là cơ sở cho kế toán tập hợp chi phí sản xuất nói riêng và chi phí sản xuất
kinh doanh nói chung theo từng yếu tố chi phí để phục vụ cho việc lập báo
chung bao gồm: Lương nhân viên quản lý các đội, công trường, các khoản
trích theo lương theo tỷ lệ trên tiền lương của công nhân trực tiếp xây lắp,
công nhân điều khiển máy thi công, nhân viên quản lý đội, khấu hao TSCĐ
và các chi phí khác.
Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích, công dụng của chi phí là
cơ sở để tập hợp chi phí sản xuất theo từng khoản mục chi phí làm căn cứ
để tính giá thành sản phẩm xây lắp theo khoản mục. Đồng thời cũng là cơ
sở để kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch giá thành và kế hoạch hạ giá
thành của doanh nghiệp.
* Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ với khối lượng sản
phẩm sản xuất (Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí)
Đây là cách phân loại chi phí thuận lợi cho kế toán quản trị trong việc
kiểm tra chi phí, xác định điểm hòa vốn, phân tích tình hình tiết kiệm chi phí,
tìm ra phương hướng tối ưu hóa lợi nhuận đồng thời giúp nhà quản trị đưa ra
các quyết định kinh doanh một cách chính xác và nhanh chóng. Theo cách
phân loại này chi phí được chia ra thành: biến phí, định phí và hỗn hợp phí.
Biến phí: là những khoản chi phí có quan hệ tỷ lệ thuận với sự biến
động về mức độ hoạt động, thường bao gồm: chi phí nguyên liệu, nhân công
trực tiếp, hoa hồng bán hàng… Biến phí trên một đơn vị sản phẩm luôn là
một mức ổn định. Biến phí có thể chia thành 2 loại:
Sinh viên: Nguyễn Thị Vân Anh
Lớp: CĐ-ĐH KT3-K4 Chuyên đề tốt nghiệp
10
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HN
KHOA KẾ TOÁN- KIỂM TOÁN
- Biến phí tỷ lệ: là các biến phí mà sự biến động của chúng không thực
sự tỷ lệ thuận với mức độ hoạt động.
- Biến phí cấp bậc: Là các biến phí chỉ thay đổi khi mức độ hoạt động
thay đổi nhiều và rõ ràng. Biến phí loại này không thay đổi khi mức độ hoạt
động chưa đạt đến một giới hạn nhất định. Như vậy, biến phí cấp bậc có quan
huy mọi khả năng tiềm tàng để có thể hạ giá thành sản phẩm.
1.2.2 Giá thành sản phẩm xây lắp
1.2.2.1 Khái niệm giá thành sản phẩm xây lắp
Giá thành sản phẩm xây lắp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các
khoản hao phí về lao động sống và lao động vật hóa bỏ ra như chi phí nguyên
vật liệu, chi phí nhân công, chi phí sử dụng máy thi công… để hoàn thành
một khối lượng sản phẩm xây lắp nhất định, có thể là hạng mục công trình
hay toàn bộ công trình.
Giá thành sản phẩm xây lắp là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh
chất lượng hoạt động sản xuất, phản ánh kết quả sử dụng các loại tài sản, vật
tư, lao động, tiền vốn trong quá trình sản xuất, cũng như các giải pháp kinh tế
kỹ thuật mà doanh nghiệp đã sử dụng nhằm tiết kiệm chi phí sản xuất và hạ
giá thành.
1.2.2.2 Phân loại giá thành sản phẩm xây lắp
Tùy theo yêu cầu và mục đích của người sử dụng thông tin kế toán
khác nhau mà giá thành sản phẩm xây lắp hay giá thành nói chung được phân
loại theo nhiều tiêu chí khác nhau.
Căn cứ vào thời điểm lập giá thành và cơ sở số liệu để tính giá thành:
- Giá thành dự toán: Là tổng chi phí dự toán để hoàn thành khối lượng
xây lắp công trình, hạng mục công trình. Giá thành dự toán được xác định
trên cơ sở các định mức kinh tế, kỹ thuật và đơn giá của nhà nước.
Giá thành dự toán xản xuất của công trình, hạng mục công trình được
tính theo công thức sau:
Sinh viên: Nguyễn Thị Vân Anh
Lớp: CĐ-ĐH KT3-K4 Chuyên đề tốt nghiệp
Giá thành dự toán
của công trình,
hạng mục công
trình
Giá trị dự toán của
công trình
=
Giá thành
dự toán của
công trình,
hạng mục
công trình
-
Lãi
định
mức
+
Chi
phí
bán
hàng
Chi phí
quản lý
doanh
nghiệp
+
Giá thành kế
hoạch của công
trình hạng mục
công trình
Giá thành dự
toán của công
trình, hạng mục
công trình
Mức hạ
xuất bán
+
Chi phí
bán hàng
+
Chi phí quản
lý doanh
nghiệp
1.2.2.3 Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
xây lắp
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây dựng cơ bản là hai mặt
thống nhất của cùng một quá trình vì vậy chúng giống nhau về chất. Giá
thành và chi phí sản xuất đều bao gồm các loại chi phí về hao phí về lao động
Sinh viên: Nguyễn Thị Vân Anh
Lớp: CĐ-ĐH KT3-K4 Chuyên đề tốt nghiệp
14
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HN
KHOA KẾ TOÁN- KIỂM TOÁN
sống và lao động vật hoá, các chi phí khác mà doanh nghiệp bỏ ra trong quá
trình xây dựng. Tuy nhiên giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có sự
khác nhau về lượng.
Chi phí sản xuất thể hiện những chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để sản
xuất sản phẩm trong một kỳ (tháng, quí, năm) không tính đến chi phí đó có
liên quan đến sản phẩm đã hoàn thành hay chưa. Giá thành sản phẩm là chi
phí sản xuất tính cho một công trình, hạng mục công trình hay khối lượng
công việc xây lắp hoàn thành theo quy định. Giá thành sản phẩm xây lắp còn
bao gồm cả chi phí sản xuất của khối lượng dở dang đầu kỳ và không bao
gồm chi phí của khối lượng xây lắp dở dang cuối kỳ.
Tuy nhiên giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có quan hệ mật
thiết với nhau thể hiện trên những mặt sau:
phải theo đúng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất đã xác định.
Phương pháp kế toán chi phí sản xuất xây lắp: là phương pháp sử dụng
để tập hợp và phân loại chi phí theo khoản mục chi phí trong giới hạn của
mỗi đối tượng kế toán chi phí.
Vì đối tượng tập hợp chi phí nhiều và khác nhau do đó hình thành các
phương pháp kế toán tập hợp chi phí khác nhau. Với mỗi đối tượng tập hợp
chi phí sản xuất thích ứng với phương pháp kế toán tập hợp chi phí gồm:
- Kế toán tập hợp chi phí sản xuất theo địa điểm phát sinh như từng tổ
đội thi công xây lắp. Phương pháp này thường được áp dụng trong doanh
nghiệp xây lắp thực hiện khoán gọn.
- Kế toán tập hợp chi phí sản xuất theo từng công trình, hạng mục công
trình hoặc khối lượng công việc xây lắp có thiết kế riêng…
Thông thường kế toán tập hợp chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây
dựng thực hiện theo hai phương pháp chủ yếu sau:
- Phương pháp tập hợp chi phí trực tiếp:
Sinh viên: Nguyễn Thị Vân Anh
Lớp: CĐ-ĐH KT3-K4 Chuyên đề tốt nghiệp
16
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HN
KHOA KẾ TOÁN- KIỂM TOÁN
Theo phương pháp này đối với các chi phí phát sinh liên quan đến đối
tượng tập hợp chi phí nào thì tập hợp trực tiếp cho đối tượng đó. Phương
pháp này đảm bảo tập hợp chi phí sản xuất cho từng đối tượng một cách
chính xác, cung cấp số liệu chính xác cho việc tính giá thành của từng công
trình, hạng mục công trình và có tác dụng tăng cường kiểm tra giám sát chi
phí sản xuất theo các đối tượng. Áp dụng phương pháp này đối với công tác
hạch toán ban đầu phải thực hiện chặt chẽ, phản ánh ghi chép cụ thể rõ ràng
chi phí sản xuất theo từng đối tượng chịu chi phí.
- Phương pháp tập hợp chi phí gián tiếp:
Theo phương pháp này chi phí phát sinh liên quan đến nhiều đối tượng
Sơ đồ 1.1 Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
1.3.3 Kế toán chi phí nhân công trực tiếp
Chi phí nhân công trực tiếp là khoản chi phí phải trả, phải thanh toán
cho công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm, trực tiếp thực hiện các lao vụ,
Sinh viên: Nguyễn Thị Vân Anh
Lớp: CĐ-ĐH KT3-K4 Chuyên đề tốt nghiệp
TK 621
TK111,113,331,141
TK 152
TK 133
TK 154
TK 152
Vật liệu mua sử dụng ngay
không qua kho
VL xuất dùng
NVL thực tế
Xuất dùng
Sử dụng không hết
nhập lại kho
Cuối kỳ kết chuyển
CF NVL trực tiếp
18
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HN
KHOA KẾ TOÁN- KIỂM TOÁN
dịch vụ bao gồm: lương chính, lương phụ, các khoản phụ cấp (bao gồm tiền
lương của công nhân trong danh sách và cả lao động thuê bên ngoài).
Trong chi phí nhân công trực tiếp không bao gồm:
- Tiền lương và các khoản phụ cấp của nhân viên quản lý đội, nhân
viên văn phòng ở bộ máy quản lý doanh nghiệp.
- Các khoản trích lập BHXH, BHYT, KPCĐ trên tiền lương của công
20
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HN
KHOA KẾ TOÁN- KIỂM TOÁN
1.3.4 Kế toán chi phí sử dụng máy thi công
Chi phí máy thi công là toàn bộ chi phí vật tư, lao động và chi phí
bằng tiền trực tiếp cho quá trình sử dụng máy thi công của công ty bao gồm:
- Chi phí nguyên vật liệu cho máy thi công.
- Chi phí khấu hao máy thi công.
- Chi phí sửa chữa lớn và sửa chữa thường xuyên máy thi công.
- Chi phí tiền lương của công nhân phục vụ và điều khiển máy.
- Nhiên liệu, động lực dùng cho máy thi công.
- Chi phí bằng tiền khác.
Trong các doanh nghiệp xây lắp việc sản xuất, thi công xây lắp có thể
được tiến hành theo hình thức thi công chuyên bằng máy như các doanh
nghiệp làm nền móng, các doanh nghiệp xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng
công trình ngầm. Hoặc sản xuất thi công hỗn hợp vừa thủ công, vừa bằng
máy. Việc sử dụng máy thi công được tiến hành theo các hình thức khác
nhau:
- Doanh nghiệp có máy thi công và tự tổ chức thi công bằng máy.
- Doanh nghiệp đi thuê máy thi công.
Tài khoản 623 “Chi phí sử dụng máy thi công” dùng để phản ánh chi phí
sử dụng máy thi công phát sinh trong kỳ. Cuối kỳ kết chuyển sang tài khoản
154.
Kết cấu TK 623:
Bên Nợ: Chi phí sử dụng máy thi công thực tế phát sinh trong kỳ.
Bên Có: Kết chuyển chi phí sử dụng máy thi công sang tài khoản tính
giá thành sản phẩm xây lắp (cuối kỳ).
Tài khoản 623 được chi tiết thành 6 tài khoản cấp 2:
Sinh viên: Nguyễn Thị Vân Anh
Lớp: CĐ-ĐH KT3-K4 Chuyên đề tốt nghiệp
Kết chuyển CF NCTT
cuối kỳ
CF SXC thực thế phát sinh ở đội
máy thi công
Kết chuyển CF SXC cuối
kỳ
VAT
TK133
22
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HN
KHOA KẾ TOÁN- KIỂM TOÁN
- Nếu DN thực hiện theo phương thức cung cấp lao vụ máy lẫn nhau
giữa các bộ phận:
Nợ TK 623 – CPSD máy thi cụng
Có TK 154
- Nếu DN thực hiện theo phương thức bán lao vụ máy lẫn nhau giữa
các bộ phận trong nội bộ, ghi:
(a) Z ca máy chuyển giao cho các bộ phận xây lắp trong nội bộ:
Nợ TK 632
Có TK 154
(b) Trị giá cung cấp lao vụ máy tính theo giá tiêu thụ, kể cả thuế
GTGT:
Nợ TK 623 – Giá chưa có thuế GTGT
Nợ TK 133 – Thuế GTGT đầu vào
Có TK 512 – DT tính theo giá chưa thuế
Có TK 3331 – Thuế GTGT đầu ra
Đối với DN nộp thuế GTGT theo phương thức trực tiếp ghi:
Nợ TK 623
* Trường hợp doanh nghiệp không tổ chức đội máy thi công riêng
mà thực hiện phương thức thi công hỗn hợp vừa thủ công vừa bằng máy
Khấu hao máy thi công
Dịch vụ mua ngoài & các CF bằng tiền khác
dùng cho máy thi công
24
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HN
KHOA KẾ TOÁN- KIỂM TOÁN
* Trường hợp doanh nghiệp thuê ca máy thi công:
Căn cứ vào chứng từ trả tiền thuê xe, máy thi công, kế toán ghi:
Nợ TK 623
Nợ TK 1331
Có TK 111, 112, 331
Cuối kỳ, kết chuyển chi phí sử dụng máy thi công sang tài khoản tính
giá thành, kế toán ghi:
Nợ TK 154
Có TK 623
1.3.5 Kế toán chi phí sản xuất chung
Chi phí sản xuất chung là những chi phí phát sinh trực tiếp trong quá
trình hoạt động sản xuất xây lắp, ngoài chi phí NVL trực tiếp, chi phí nhân
công trực tiếp, chi phí sử dụng máy thi công. Chi phí phục vụ và quản lý sản
xuất phát sinh ở từng tổ đội xây lắp, bao gồm:
- Chi phí tiền lương nhân viên quản lý đội, các khoản tính BHXH,
BHYT, KPCĐ trên tiền lương công nhân trực tiếp xây lắp, công nhân điều
khiển máy, nhân viên quản lý đội.
- Chi phí vật liệu sử dụng ở đội thi công.
- Chi phí công cụ đồ dùng ở tổ đội thi công.
- Chi phí khấu hao TSCĐ dùng ở tổ đội thi công không phải là máy
móc thi công.
- Chi phí dịch vụ mua ngoài và các khoản bằng tiền khác ở tổ đội thi
công.
Để tập hợp chi phí và phân bổ chi phí sản xuất chung, kế toán phải sử