TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ
BỘ MÔN KINH TẾ QUỐC TẾ
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP
Tên đề tài
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH ĐẦU TƯ RA NƯỚC
NGOÀI CỦA VIỆT NAM SANG CHÂU PHI
Giảng viên hướng dẫn : GS.TS Đỗ Đức Bình
Họ và tên sinh viên : Trần Thị Minh Nguyệt
Mã sinh viên : CQ501922
Chuyên ngành : Kinh Tế Quốc Tế
Lớp : Kinh Tế Quốc Tế 50B
Hà nội, tháng 5/2012
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong chuyên đề thực tập là trung thực
và do chính tôi nghiên cứu, sưu tầm và phân tích đánh giá.
Tác giả chuyên đề
Trần Thị Minh Nguyệt
TRẦN THỊ MINH NGUYỆT - KTQT 50B 2
Lời cảm ơn
Nhân dịp hoàn thành chuyên đề, đầu tiên cho phép tôi gửi lời cảm ơn chân
thành tới GS.TS Đỗ Đức Bình đã tận tình giúp đỡ và chỉ bảo tôi trong quá trình
học tập, nghiên cứu và hoàn thành chuyên đề thực tập.
Nhân dịp này cũng cho phép tôi gửi lời cảm ơn tới Đảng Ủy, Ban Giám
Hiệu, cán bộ các phòng, ban chức năng, các Viện, các Trung tâm của Trường
Đại học Kinh tế quốc dân đã cho phép và giúp đỡ tôi để tôi hoàn thành chuyên
đề thực tập.
Nhân dịp này cũng cho phép tôi gửi lời cảm ơn tới các Ông (Bà) Vụ
trưởng, Phó Vụ trưởng, các Ông (Bà) lãnh đạo các phòng ban chức năng thuộc
Monetary Community of Central
Africa
COMESA Khối thị trường chung Đông Nam
Phi
The Common Market for Eastern
and Southern Africa
ĐTRNN Đầu tư ra nước ngoài
ECOWAS Cộng đồng kinh tế các nước Tây
Phi
Economic Community of West Africa
States
FAO Tổ chức lương thực thế giới Food and Agriculture Organization
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài Foreign Direct Invesment
MIGA Cơ quan bảo lãnh đầu tư đa biên Multilateral Investment Guarantee
Agency
PIDC Công ty đầu tư phát triển dầu khí Petro Investment Development
Company
PTTEP Tập đoàn dầu khí Thái Lan Petrothailand exploration
production coporation
PVEP Tập đoàn dầu khí Việt Nam Petrovietnam exploration
production coporation
PTA Khu thương mại ưu đãi Preferential Trade Agreement
SACU Liên minh thuế quan miền nam
Châu Phi
The Southern African Customs Union
SADC Cộng đồng phát triền miền Nam
Châu Phi
Southern African Development
Community
UDEAC Liên minh kinh tế và thuế quan Chữ viết tắt theo tiếng Pháp
SANG CHÂU PHI 38
2.5. ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CỦA VIỆT NAM TẠI CHÂU PHI
TRONG THỜI GIAN QUA 40
2.5.1. Những thành tựu đạt được 40
2.5.2. Hạn chế và nguyên nhân 42
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP ĐÂY MẠNH ĐẦU TƯ CỦA VIỆT NAM TẠI CHÂU
PHI 46
3.1. TRIỂN VỌNG QUAN HỆ HỮU NGHỊ VIỆT NAM – CHÂU PHI 46
3.2. QUAN ĐIỂM CỦA NHÀ NƯỚC TRONG QUAN HỆ ĐẦU TƯ TẠI CHÂU
PHI 48
3.2.1. Phát triển quan hệ đầu tư Việt Nam – Châu Phi là hoạt động lâu dài và
không thể thiếu trong chiến lược phát triển của Việt Nam 48
3.2.2. Tiếp tục đẩy mạnh các mối quan hệ hợp tác trên mọi lĩnh vực giữa Việt
Nam - Châu Phi góp phần quan trọng vào tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của
cả hai bên 48
3.2.3. Coi mỗi nhà đầu tư là sứ giả đại diện cho hoạt động kinh tế của Việt Nam
tại Châu Phi 49
3.3. GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH ĐẦY MẠNH HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CỦA VIỆT
NAM TẠI CHÂU PHI 49
3.3.1. Đối với chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước 49
TRẦN THỊ MINH NGUYỆT - KTQT 50B 8
3.3.2. Đối với doanh nghiệp 55
3.4. ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG
ĐẦU TƯ CỦA VIỆT NAM SANG CHÂU PHI 59
3.4.1. Tiếp tục thúc đẩy và phát triển quan hệ đầu tư với Châu Phi 59
3.4.2. Hỗ trợ thích hợp về tài chính và tín dụng cho các doanh nghiệp đầu tư sang
Châu Phi 60
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
TRẦN THỊ MINH NGUYỆT - KTQT 50B 9
nhanh hơn, xích lại ngày càng gần hơn với nền kinh tế thế giới.
Xuất phát từ những yêu cầu thực tiễn cấp bách, nhằm thúc đẩy mối quan
hệ hợp tác Việt Nam – Châu Phi, việc nghiên cứu và đánh giá đúng thực trạng
quan hệ đầu tư quốc tế giữa Việt Nam sang Châu Phi là một trong những việc
làm cần thiết. Xuất phát từ nhu cầu đó, tôi đã chọn đề tài “Thực trạng và giải
pháp đẩy mạnh đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam sang Châu Phi”. Thông qua
đây, dựa trên những điều tra và nghiên cứu thực trạng, chuyên đề đã đánh giá và
TRẦN THỊ MINH NGUYỆT - KTQT 50B 10
đưa ra một số giải pháp nhằm góp phần đem lại phương hướng thực hiện mục
tiêu phát triển mối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam – Châu Phi.
1. MỤC TIÊU CỦA CHUYÊN ĐỀ
Phân tích đánh giá thực trạng đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam sang
Châu Phi; Qua đó đề xuất một số giải pháp đẩy mạnh đầu tư ra nước ngoài của
Việt Nam sang Châu Phi trong thời gian tới.
2. ĐỐI TƯỢNG PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA CHUYÊN ĐỀ
Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu:
- Hoạt động đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam sang Châu Phi
- Đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam sang Châu Phi giai đoạn 1989 - 2012
Kết cấu chuyên đề bao gồm 3 phần:
Chương 1: Khái quát hoạt động ĐTRNN của Việt Nam giai đoạn 1989-2012
Chương 2: Thực trạng ĐTRNN của Việt Nam sang Châu Phi
Chương 3: Giải pháp đẩy mạnh ĐTRNN của Việt Nam sang Châu Phi
TRẦN THỊ MINH NGUYỆT - KTQT 50B 11
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ RA NƯỚC
NGOÀI CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1989 – 2012
1.1. TÌNH HÌNH THỰC HIỆN
Đầu tư ra nước ngoài - đây dường như không phải là một khái niệm xa lạ,
tuy nhiên, đối với Việt Nam, chúng ta biết đến nhiều lĩnh vực hơn trên cương vị
là nước tiếp nhận vốn đầu tư của nước khác. Nhưng thực tế Việt Nam đã thực
TRẦN THỊ MINH NGUYỆT - KTQT 50B 12
rất thấp, chỉ có 17 dự án với tổng số vốn 12.07 triệu USD. Mỗi năm chỉ có một
vài dự án được cấp phép, thậm chí trong các năm từ 1995 – 1997 không có dự
án nào được cấp phép đầu tư ra nước ngoài.
2. Giai đoạn thứ hai từ năm 1999 - 2005: Giai đoạn này được đánh dấu bằng sự
ra đời của Nghị định 22/1999/NĐ-CP ngày 14/4/1999 của Chính phủ quy định
về ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam. Sự thống nhất của hành lang pháp lý
tạo điều kiện cho các nhà đầu tư hơn. Tổng số dự án trong giai đoạn này đã lên
tới 131 dự án với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 1.329,06 triệu USD, gấp 7,7 lần
về số dự án và 110 lần về tổng số vốn đăng ký so với giai đoạn 1989 – 1998,
quy mô vốn bình quân là 10,14 triệu USD/dự án.
3. Giai đoạn thứ ba năm 2006 - 2011: Trong giai đoạn này, Việt Nam có 627
dự án ĐTRNN với tổng số vốn đăng ký đạt 10.800 triệu USD, tăng 4,8 lần về
số dự án và gấp 6,5 lần về vốn đầu tư đăng ký so với giai đoạn 1999 – 2005.
Quy mô vốn đầu tư bình quân đạt 17,23 triệu USD/dự án cao hơn nhiều so
với các thời kỳ trước.
Tính đến 31/1/2012, cả nước có 642 dự án đầu tư với số vốn đăng ký la
11.118 triệu USD. Chỉ trong vòng 1 tháng đầu năm 2012, tính đến thời điểm
31/12/2011, có 15 dự án mới được ký kết. Điều này cho thấy hoạt động
ĐTRNN đang ngày càng tăng lên nhanh chóng, thể hiện nhu cầu đưa dòng
vốn ra nước ngoài sinh lời ngày càng lớn của những nhà đầu tư trong nước.
Các dự án ĐTRNN của các doanh nghiệp Việt Nam trong giai đoạn này
cũng có những thay đổi theo hướng thuận lợi hơn. Điểm đến cho ĐTRNN của
Việt Nam không chỉ là các thị trường quen thuộc mà còn mở sang cả những quốc
gia vốn là các nhà đầu tư lớn tại Việt Nam như Nhật Bản, Hoa Kỳ, Hàn Quốc,
Singapore, Australia, Châu Âu, Châu Mỹ Latinh và chắc chắn không thể bỏ qua
những thị trường mới nổi như Châu Phi, Trung Đông.
Bảng 01: Vốn ĐTRNN của Việt Nam trong giai đoạn từ 1989 - 2012
Giai đoạn Số DA Tổng số vốn đăng ký
(Triệu USD)
1 Khai khoáng 91 4.334.803,8 3.731.405,709
2 Sản xuất, phân phối điện,
khí, nước, điều hòa
8 1.872.369.2 1.679.722,938
3 Nông lâm nghiệp, thủy sản 69 1.572.121,300 1.572,121,300
4 Nghệ thuật và giải trí 4 1.035.265,000 1.034.550,000
5 Thông tin, truyền thông 31 915.212,944 915.212,944
6 Công nghiệp chế biến, chế
tạo
113 426.712,800 425.255,000
7 Tài chính, ngân hàng, bảo
hiểm
24 372.521,000 360.021,000
8 Bán buôn bán lẻ, sửa chữa 123 175.236,201 172.755.201
9 Kinh doanh bất động sản 28 163.427,799 163.327,799
10 Vận tải kho bãi 17 67.148,221 67.148,221
Nguồn: Cục đầu tư nước ngoài – Bộ Kế Hoạch Đầu Tư
1.1.3. Cơ cấu ĐTRNN của Việt Nam phân theo đối tác đầu tư
Hiện nay các doanh nghiệp Việt Nam có vốn đầu tư nước ngoài tại 58 quốc
gia, vùng lãnh thổ. Kết quả này đã thể hiện rõ nỗ lực không ngừng của Việt Nam
trong quá trình đa phương hóa các quan hệ kinh tế quốc tế và hội nhập nền kinh
tế thế giới, đồng thời cũng thể hiện doanh nghiệp Việt Nam ngày một lớn mạnh
để có thể vươn rộng ra thị trường thế giới. Các doanh nghiệp của chúng ta đã
xây dựng các nhà máy sản xuất trực tiếp tại các nước nhận đầu tư. Hầu hết vốn
tập trung vào những đối tác thân quen của Việt Nam như Lào, Campuchia,
Nga… là những bạn hàng lâu năm của Việt Nam. Tuy nhiên, hiện tại, chúng ta
cũng đang từng bước hướng ra những thị trường mới hơn, khó tính hơn nhưng
lại nhiều tiềm năng hơn rất nhiều.
Biểu 03: 10 quốc gia có vốn đầu tư nhiều nhất của các doanh nghiệp Việt
Nam tính đến ngày 31/1/2012
hành Thông tư số 01/2001/TT-NHNN ngày 19/01/2001 hướng dẫn về quản lý
ngoại hối đối với ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam). Những văn bản nêu trên
cùng với các văn bản pháp luật khác đã tạo nên một khung pháp lý cần thiết cho hoạt
động ĐTRNN.
Việc ban hành Nghị định số 22/1999/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn
đã đánh dấu mốc quan trọng trong việc hình thành cơ sở pháp lý cho hoạt động
ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam, tạo điều kiện cho việc ra đời nhiều dự án
ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam hoạt động đạt hiệu quả nhất định. Đồng
thời là minh chứng cho sự trưởng thành về nhiều mặt của các doanh nghiệp Việt
Nam từng bước hội nhập đời sống kinh tế khu vực và thế giới. Nghị định 22 đã
chỉ rõ: “ Dự án đầu tư ra nước ngoài có tính khả thi, có năng lực tài chính đáp
ứng yêu cầu đầu tư ra nước ngoài”, Với qui định như trên, sẽ khó có thể xác
định như thế nào là “ tính khả thi” , cũng như “năng lực tài chính”. Tuy nhiên,
qua thực tế cho thấy hoạt động ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam còn lúng
túng, gặp nhiều khó khăn khi triển khai thực hiện, bộc lộ một số hạn chế đòi hởi
cần được hoàn thiện. Chẳng hạn, các quy định còn thiếu cụ thể, đồng bộ, nhất
quán, có một số điều khoản đến nay không còn phù hợp, không bao quát được
sự đa dạng của các hình thức ĐTRNN. Thủ tục hành chính nhìn chung vẫn còn
phức tạp, rườm rà, không ít quy định của cơ quan quản lý can thiệp quá sâu vào
quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Quy trình đăng ký
và thẩm định cấp Giấy chứng nhận đầu tư ra nước ngoài còn phức tạp, thủ tục
điều chỉnh Giấy chứng nhận đầu tư chưa được rõ ràng. Thiếu các qui định cụ thể
về cơ chế báo cáo, cung cấp thông tin về triển khai dự án đầu tư ở nước ngoài và
chưa có cơ chế kiểm soát hoạt động đầu tư tại nước nhận vốn. Cơ chế phối hợp
quản lý đối với ĐTRNN chưa được quy định cụ thể, rõ ràng. Ngoài ra, văn bản
pháp lý về ĐTRNN mới dừng lại ở cấp Nghị định của Chính phủ nên hiệu lực
pháp lý chưa cao.
Từ thực tế nêu trên, năm 2005 Chính phủ đã trình Quốc hội luật hóa hoạt
động ĐTRNN và được Quốc hội đã thông qua Luật Đầu tư năm 2005 (có hiệu
lực vào tháng 7/2006), trong đó có các quy định về ĐTRNN của doanh nghiệp
nhà nước ngày càng hoàn thiện, biểu hiện số lượng và chất lượng của luật ngày
càng đầy đủ và cập nhật. Ngoài những văn bản điển hình trên, còn có thể kể đến
một số văn bản pháp luật hỗ trợ cho hoạt động đầu tư ra nước ngoài:
- Thông tư số 01/2001/TT-NHNN ngày 19/01/2001 của Ngân hàng nhà nước về
hướng dẫn quản lý ngoại hối đối với đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của doanh
nghiệp Viêt Nam.
- Quyết định số 116/2001/QĐ-TTg Ngày 02/08/2001 về một số ưu đãi khuyến
khích đầu tư ra nước ngoài trong lĩnh vực hoạt động dầu khí.
- Thông tư số 05/2001/TT-BKH Ngày 30/8/2001 về hướng dẫn hoạt động đầu tư
ra nước ngoài. Bao gồm hướng dẫn trình tự các thủ tục xin, cấp giấy phép đầu
tư, hiệu lực thi hành và cơ chế giải quyết khi có tranh chấp xảy ra.
TRẦN THỊ MINH NGUYỆT - KTQT 50B 18
- Thông tư số 97/2002/TT-BTC ngày 24 tháng 10 năm 2002 của Bộ Tài chính
về hướng dẫn thực hiện nghĩa vụ thuế đối với doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra
nước ngoài. Bao gồm các loại thuế liên quan như thuế xuất nhập khẩu, thuế thu
nhập doanh nghiệp…cách tính thuế suất và các mức ưu đãi.
- Thông tư sửa đổi bổ sung khoản 6, mục III thông tư số 01/2001/TT- NHNN
ngày 19/1/2001.
- QĐ số 158 /QĐ-CTN ngày 16/01/1994 phê chuẩn công ước thành lập tổ chức
đảm bảo đầu tư đa biên.
- Công ước thành lập tổ chức đảm bảo đầu tư đa biên (MIGA).
- NĐ số 63/1998/NĐ-CP ngày 17/8/1998 của chính phủ về quản lý ngoại hối.
- Thông tư số 01/1999 TT- NHNN ngày 16/4/1999 hướng dẫn thi hành NĐ số
63/1998 NĐ-CP ngày 17/8/1998.
- NĐ số 05/2001/NĐ-CP ngày 17/01/2001 sửa đổi bổ sung NĐ số 63/1998/NĐ-
CP.
- QĐ số 61/2001/QĐ-TTg ngày 25/4/2001 về nghĩa vụ bán và quyền mua ngoại
tệ của người cư trú là tổ chức.
Luật và chính sách ngày càng hoàn thiện nó tạo ra cơ sở pháp lý cho hoạt động
đầu tư ra nước ngoài. Tính hoàn thiện của luật thì đi liền với nó là đầu tư trực
phố và Ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao) thì hoạt
động ĐTRNN dù dự án có quy mô nhỏ hay lớn thì Bộ Kế hoạch và Đầu tư là nơi
duy nhất cấp giấy chứng nhận đầu tư ra nước ngoài. Việc này khiến các doanh
nghiệp miền Trung và phía Nam tốn kém thời gian và chi phí để có được giấy
phép đầu tư. Ngoài ra, nhiều thủ tục không hợp lý liên quan đến cấp giấy chứng
nhận đầu tư ra nước ngoài, mở tài khoản, chuyển tiền ra nước ngoài để đầu tư
Chẳng hạn muốn được cấp giấy chứng nhận đầu tư ra nước ngoài ở Việt Nam,
chủ đầu tư phải nộp giấy chấp thuận đầu tư của cơ quan có thẩm quyền ở nước
tiếp nhận vốn đầu tư. Trong khi đó có những nước như Lào, Campuchia, Trung
Quốc…đòi hỏi phải có giấy chứng nhận đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam thì
mới cấp giấy phép đầu tư (Lưu ý: Khi cấp giấy chứng nhận đầu tư FDI vào Việt
Nam, cơ quan có thẩm quyền không đòi hỏi chủ đầu tư nước ngoài phải xuất
trình giấy chấp thuận hoặc giấy phép đầu tư ra nước ngoài của nước xuất khẩu
vốn và nhiều nước cùng làm như vậy). Và thủ tục chuyển tiền ra nước ngoài
phức tạp, thời gian kéo dài gây khó khăn hoặc làm mất cơ hội của nhà đầu tư ra
nước ngoài.
Thực tế cho thấy những năm qua, ĐTRNN của Việt Nam đã thực hiện
những dự án tại nhiều quốc gia khác nhau. Các lĩnh vực đầu tư đều là những lĩnh
vực thế mạnh của Việt Nam. Tuy nhiên, số lượng và qui mô vốn đầu tư các dự
án chưa nhiều. Năm 2007 có 249 dự án đầu tư ra nước ngoài,với số vốn đăng ký
là 1,39 tỷ đồng, tính trung bình mỗi dự án 5,582 triệu USD/dự án. Trong khi đó
chỉ tính đến cuối năm 2007 đầu tư trực tiếp nước ngoài vào việt nam đã có
khoảng 9500 dự án với số vốn đầu tư 98.248 tỷ USD, qui mô vốn đầu tư đạt 11
đến 12 triệu USD /dự án. Qua so sánh cho thấy qui mô dự án đầu tư trực tiếp ra
nước ngoài của Việt Nam chỉ bằng 1/2 qui mô của dự án đầu tư trực tiếp nước
ngoài vào việt nam. Còn trên thế giới, ngưỡng 11-12 triệu USD là mức trung
TRẦN THỊ MINH NGUYỆT - KTQT 50B 20
bình thì ở Việt Nam, 5,582 triệu USD có thể coi là mức nhỏ. Điều này cho thấy
năng lực tài chính của và kinh nghiệm đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam
còn bị hạn chế, dẫn đến sức cạnh tranh trong đầu tư của doanh nghiệp thấp, qui
vậy, với kinh nghiệm hơn 20 năm trong hoạt động ĐTRNN và với một thị
trường không quá khắt khe như Châu Phi thì liệu rằng, tìm kiếm môi trường đầu
tư tại Châu Phi có phải là một chiến lược đem lại hiệu quả lâu dài? Điều này sẽ
được phân tích kỹ hơn trong chương sau.
TRẦN THỊ MINH NGUYỆT - KTQT 50B 21
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐTRNN CỦA VIỆT NAM SANG
CHÂU PHI
2.1. VÀI NÉT VỀ NỀN KINH TẾ CHÂU PHI
Châu Phi được biết đến là một lục địa rộng lớn, đông dân, đa sắc tộc và
phong phú về nguồn tài nguyên thiên nhiên. Đặc biệt, nơi đây có rất nhiều tài
nguyên thiên nhiên quí, trữ lượng đứng đầu thế giới, chẳng hạn như dầu mỏ, kim
cương, khí đốt… Với những tiềm năng như vậy, thì Châu Phi có khả năng để trở
thành khu vực cường thịnh. Tuy nhiên, Châu Phi chỉ mới dành độc lập từ sau
chiến tranh thế giới thứ hai, cùng với những mâu thuẫn nội bộ do lịch sử để lại,
các cuộc xung đột khu vực, nội chiến, tranh chấp lãnh thổ, bạo lực vũ trang…
đến nay, mặc dù đã đi vào khôi phục và cải cách nền kinh tế nhưng do vấp phải
nhiều khó khăn Châu Phi vẫn là một châu lục nghèo nhất thế giới.
Một số nước như Công-Gô, Angola sau khi giành độc lập, có xu hướng ủng hộ
con đường phát triển CNXH nhưng so xuất phát điểm thấp, trình độ khoa học
yếu kém, cơ sở vật chất hạ tầng chưa phát triển, công tác quản lý, điều hành
thiếu kinh nghiệm dẫn đến hoạt động kinh tế ngày càng trở nên trì trệ, kém phát
TRẦN THỊ MINH NGUYỆT - KTQT 50B 22
triển, đời sống người dân ngày càng sa sút, đem lại nhiều hệ lụy nghiêm trọng
trong xã hội nơi đây. Tuy vậy, sau hơn hai thập kỷ suy thoái, từ giữa những năm
1990, nền kinh tế Châu Phi có những dấu hiệu phục hồi và từng bước tăng
trưởng. Thông qua sự trợ giúp của các tổ chức kinh tế quốc tế, Châu Phi đã từng
bước cải biến nền kinh tế. Trong giai đoạn 1996-2005, kinh tế Châu Phi có tốc
độ tăng trưởng bình quân 4-5%, năm 2006 tăng lên đến 5.7% và bất chấp khủng
hoảng kinh tế toàn cầu năm 2007, mức tăng trưởng bình quân vẫn đạt mức 7%.
Năm 1991, dựa trên mô hình của cộng đồng kinh tế Châu Âu, cộng đồng
TRẦN THỊ MINH NGUYỆT - KTQT 50B 23
Trung Phi (CEMAC). Ở Đông Nam Phi có Cộng đồng Đông Phi (1967-1977),
Liên minh quan thuế miền Nam châu Phi (SACU-1969), Cộng đồng phát triển
miền Nam châu Phi (SADC-1992), Khu thương mại ưu đãi (PTA), được kế thừa
bằng Khối thị trường chung Đông Nam Phi (COMESA-1995). Ở Tây Phi có
Cộng đồng kinh tế các nước Tây Phi (ECOWAS-1975), Liên minh kinh tế và
tiền tệ Tây Phi (UEMOA-1994). Ở Bắc Phi có Liên minh Arập Maghreb (UMA-
1989). 47/54 quốc gia Châu Phi hiện nay là thành viên của WTO. Với nhiều kết
quả đã đạt được của nền kinh tế, nhìn chung, các quốc gia Châu Phi đã và đang
tích cực mở rộng quan hệ kinh tế thương mại với mọi khu vực, quốc gia trên thế
giới.
Tuy nhiên, sang đến giai đoạn 2005-2010, kinh tế Châu Phi lại đối mặt
với nhiều khó khăn, thách thức mới. Sự chênh lệch giàu nghèo giữa các khu vực,
các nước, và giữa các vùng trong một nước vẫn rất lớn. Xung đột nội bộ, xung
đột sắc tộc, tôn giáo ở một số nước như Bờ Biển Ngà, Sudang, Nigrenia lại tái
diễn. Đói nghèo, tệ nạn xã hội và nhiều hệ lụy khác trong xã hội các nước này
vẫn là một dấu chấm đen trong bước phát triển của khu vực này. Trong tương
lai, thu hẹp khoảng cách về cơ sở hạ tầng vẫn là thách thức chủ chốt cần nỗ lực
phối hợp của các đối tác phát triển và các nước châu Phi. Cuộc khủng hoảng
kinh tế toàn cầu cuối năm 2009, với sự thay đổi của hàng loạt các nền kinh tế
trên thế giới, thì Châu Phi cũng không nằm ngoài vòng luẩn quẩn đó. Nhiều
những chiều hướng bất lợi xuất hiện, nhu cầu tiêu dùng sụt giảm, tài chính tiền
tệ bị ảnh hưởng nặng nề. Nền kinh tế Châu Phi đã chững lại do ảnh hưởng của
những vấn đề trên, tăng trưởng kinh tế giảm xuống còn 1.7% năm 2009. Mặc dù
khó khăn trong công cuộc phục hồi nền kinh tế nhưng Châu Phi đã thực hiện
một cách nhanh chóng, 4.3 % năm 2010 và 5.4% trong hai tháng đầu năm 2011,
nguyên nhân chủ yếu dựa vào hoạt động thu hút FDI. Những số liệu mới đây
cho thấy Châu Phi đang có mức tăng trưởng kinh tế nhanh, lượng vốn FDI tăng
cao và tình trạng đói nghèo đang giảm. Nền kinh tế khu vực Châu Phi hạ Sahara
đã có mức tăng trưởng hàng năm trung bình là 5,5% trong khi khu vực đồng
nhau trong việc theo đuổi chế độ chính trị, nhưng mối quan hệ hữu nghị tốt đẹp
giữa Việt Nam và Châu Phi vẫn luôn hiện diện trong linh hồn hai dân tộc.
Những năm qua, quan hệ giữa Việt Nam và các nước Châu Phi đã được thể hiện
rõ nét trên mọi lĩnh vực, kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học - kỹ thuật… Vị thế
của Việt Nam trong lòng nhân dân Châu Phi ngày càng được khẳng định và
được trân trọng gìn giữ trên con đường xây dựng và phát triển đất nước. Do dó,
chính sách đối ngoại của Việt Nam, quan hệ với các nước Châu Phi vượt lên
trên mối quan hệ đơn thuần dựa trên lợi ích. Xây dựng, gìn giữ và phát triển mối
quan hệ hữu nghị này không những là nghĩa vụ tình cảm, là trách nhiệm mà còn
là thể hiện tinh thần bền vững, trước sau như một của dân tộc Việt Nam.
Từ mối quan hệ đồng lòng đấu tranh giải phóng dân tộc, quan hệ Việt Nam và
Châu Phi đã bước sang một trang mới của sự hợp tác. Quan hệ hợp tác kinh tế
cùng phát triển. Đến nay, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 51 trên tổng số
54 quốc gia Châu Phi. Chúng ta cũng đã ký hiệp định khung về hợp tác thương
mại, bảo hộ đầu tư, văn hóa - kinh tế - công nghệ với nhiều nước Châu Phi.
Ngoài ra, Việt Nam cũng đã ký hiệp định thương mại song phương với 15 quốc
gia, trong những hiệp định song phương đều có kèm điều khoản liên quan đến
TRẦN THỊ MINH NGUYỆT - KTQT 50B 25