Phân tích thực trạng hoạt động kinh doanh bảo hiểm vật chất xe cơ giới tại công ty cổ phần bảo hiểm AAA chi nhánh Hà Nội giai đoạn 2006-2010 - Pdf 25

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: ThS. Tôn Thanh Huyền
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA BẢO HIỂM
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Đề tài:
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO HIỂM
VẬT CHẤT XE CƠ GIỚI TẠI CÔNG TY BẢO HIỂM AAA – CHI
NHANH TẠI HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2006 – 2011
Giáo viên hướng dẫn : TÔN THANH HUYỀN
Họ và tên : PHẠM MINH TÚ
Mã sinh viên : CQ502950
Lớp chuyên ngành : Kinh Tế Bảo Hiểm 50B
Hà Nội - 2012
MỤC LỤC
SV: Phạm Minh Tú Lớp: Kinh tế bảo hiểm 50B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: ThS. Tôn Thanh Huyền
MỤC LỤC 1
CHƯƠNG I: LÝ THUYẾT CƠ BẢN VỀ KINH DOANH BẢO HIỂM 7
VẬT CHẤT XE CƠ GIỚI 7
1. Bảo hiểm vật chất xe cơ giới 7
1.1. Vai trò và ý nghĩa của bảo hiểm vật chất xe cơ giới 7
1.1.1. Vai trò của bảo hiểm vật chất xe cơ giới 7
1.2. Đối tượng bảo hiểm 10
1.3. Phạm vi bảo hiểm 11
1.3.1. Các rủi ro được bảo hiểm 11
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO HIỂM VẬT CHẤT XE CƠ GIỚI TẠI CÔNG
TY BẢO HIỂM AAA, CHI NHÁNH HÀ NỘI, GIAI ĐOẠN 2006-2011 24
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
BẢO HIỂM VẬT CHẤT XE CƠ GIỚI TẠI CÔNG TY BẢO HIỂM AAA CHI NHÁNH HÀ NỘI 64
SV: Phạm Minh Tú Lớp: Kinh tế bảo hiểm 50B
2

vài năm gần đây, song song với sự tăng trưởng của nền kinh tế, tốc độ tăng trưởng
hoạt động kinh doanh của nghiệp vụ này cũng vì đó mà tăng lên, đối với nhiều công
ty đây còn là nghiệp vụ chính để khai thác và tăng trưởng công ty.
Theo sự phát triển của nền kinh tế - xã hội Việt Nam, số xe cơ giới tham gia
vào lưu thông ngày một gia tăng, giá trị của một chiếc xe cơ giới cũng ngày càng lớn
nên chắc chắn nhu cầu tham gia bảo hiểm xe cơ giới sẽ ngày một nhiều, đây được
xem như mở ra một cơ hội lớn cho các công ty bảo hiểm phi nhân thọ tiến hành khai
thác và hoạt động. Tuy nhiên, trên thị trường bảo hiểm xe cơ giới của Việt Nam cũng
sớm hình thành nên những doanh nghiệp chiếm thị phần lớn, trong năm 2011, 3 công
ty dẫn đầu chiếm tới gần 70% thị phần, đó là công ty bảo hiểm Bảo Việt, công ty bảo
hiểm dầu khí PVI, công ty bảo hiểm Bảo Minh. Do đó, việc cạnh tranh, giành lấy thị
phần bảo hiểm xe cơ giới là rất gay gắt và nó càng khó khăn hơn đối với những công
ty mới thành lập, năng lực tài chính và uy tín còn yếu. Tuy nhiên, những công ty nhỏ,
mới thành lập vẫn có thể tham gia vào thị trường béo bở này nếu như có chiến lược
khôn khéo và hướng triển khai đúng đắn.
Nhận thấy tiềm năng phát triển của nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới, em đã
chọn đê tài: “ Phân tích thực trạng hoạt động kinh doanh bảo hiểm vật chất xe cơ
giới tại công ty cổ phần bảo hiểm AAA chi nhánh Hà Nội giai đoạn 2006-2010 ”
làm để tài chuyên đề tốt nghiệp.
Kết cấu chuyên đề ngoài lời mở đầu, kết luận và mục lục tài liệu tham khảo,
được trình bày trong ba chương.
Chương 1: Lý thuyết cơ bản về kinh doanh bảo hiểm vật chất xe cơ giới
Chương 2: Thực trạng hoạt động kinh doanh bảo hiểm vật chất xe cơ giới
tại công ty bảo hiểm AAA, chi nhánh Hà Nội giai đoạn 2006 - 2011
Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện hoạt động kinh
doanh bảo hiểm vật chất xe cơ giới tại công ty bảo hiểm AAA chi nhánh Hà Nội
Với chuyên đề này , em mong muốn có thể nhận ra những điểm mạnh và yếu
của công ty trong quá trình triển khai nghiệp vụ bảo hiểm bảo hiểm xe cơ giới và từ
SV: Phạm Minh Tú Lớp: Kinh tế bảo hiểm 50B
5

Tăng độ tăng
Số xe
Tốc độ tăng
Tuyệt
đối
Tương đối
(%)
Tuyệt
đối
Tương đối
(%)
2006 1.000.000 - - 18.000.000 - -
2007 1.130.000 130.000 13,00 21.000.000 3.000.000 16,08
2008 1.295.000 160.500 14,20 24.463.000 3.463.000 16,49
2009 1.482.000 192.300 14,90 27.500.000 3.037.000 12,41
2010 1.648.000 165.300 11,15 30.450.000 2.950.000 10,72
2011 1.832.000 184.000 11,17 34.260.000 3.810.000 12,51
( Nguồn: Ủy ban an toàn giao thông quốc gia )
Sự phát triển nhanh chóng này của lượng xe tham gia giao thông nói riêng và
toàn ngành giao thông vận tải nói chung đóng góp một phần quan trọng sự phát
triển của nền kinh tế và xã hội, đặc biệt trong giai đoạn Việt Nam đang đẩy mạnh
sản xuất cũng như thúc đẩy xu hướng toàn cầu hóa. Chúng ta có thể thấy lượng xe
được được đưa vào sử dụng không ngừng tăng nhanh, thể hiện đời sống nhân dân
được cải thiện, xe máy hay ô tô đã trở nên quen thuộc và cần thiết trong cuộc sống
hằng ngày. Tuy nhiên, cùng với việc gia tăng nhanh chóng lượng phương tiện giao
thông đó là những con số thực tế về xảy ra va chạm và tai nạn giao thông đường bộ,
dù đã có rất nhiều biện pháp cứng rắn của các cơ quan chịu trách nhiệm. Có nhiều
nguyên nhân còn tồn tại của thực trạng phức tạp này, mà chủ yếu là:
- Do hệ thống kết cấu giao thông đường bộ chưa phát triển kịp thời để đáp ứng
SV: Phạm Minh Tú Lớp: Kinh tế bảo hiểm 50B

Xe cơ giới là loại tài sản cơ động, được sử dụng với tần suất cao phục vụ
cho cuộc sống cũng như kinh doanh vận tải, và vì vậy rủi ro phải đối mặt là
không hề nhỏ, với những va chạm, hay cháy nổ…Giá trị của phương tiện, đặc
biệt là ô tô còn ở mức cao hơn rất nhiều so với mặt bằng chung của thu nhập
người dân, vậy nên khi có rủi ro xảy ra, thiệt hại mà nó gây nên dù ít hay nhiều
thì cũng sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến chủ phương tiện xét cả về phương diện tài
SV: Phạm Minh Tú Lớp: Kinh tế bảo hiểm 50B
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: ThS. Tôn Thanh Huyền
chính cũng như cản trở trong cuộc sống, đặc biệt là với những chủ phương tiện
có tham gia kinh doanh. Do đó, bảo hiểm vật chất xe cơ giới ra đời nhằm mục
đích chi trả, khắc phục những hậu quả khó khăn về vật chất đó, giúp họ không bị
đối mặt với những khoản chi tiêu bất thường, nhờ vậy sẽ ổn định được tài chính
cho chủ xe, không ảnh hưởng đến cuộc sống.
Xét về mặt tinh thần, chủ phương tiện sẽ cảm thấy an tâm hơn khi chiếc xe
của mình đã tham gia bảo hiểm vật chất xe cơ giới, và được nhà bảo hiểm có hướng
dẫn, tư vấn lái xe an toàn, nhằm giảm thiểu rủi ro. Hơn thế nữa, ngay cả khi có va
chạm xảy ra, điều rất dễ dẫn đến đó là những xô xát, tranh chấp căng thẳng về đền
bù theo lỗi của chủ phương tiện, nhưng nếu các xe bị va chạm đã được mua bảo
hiểm vật chất xe cơ giới thì sẽ xoa dịu bớt các bên, tránh dẫn đến những bất ổn định
trật tự không đáng có.
 Đối với công ty bảo hiểm
Với thị trường bảo hiểm Việt Nam hiện nay thì hầu hết các doanh nghiệp bảo
hiểm đều coi mảng bảo hiểm về xe cơ giới là nghiệp vụ quan trọng, thậm chí là
nghiệp vụ chiếm tỷ trọng lớn đối với nhiều nhà bảo hiểm, đơn giản là vì số lượng
phương tiện không ngừng tăng mạnh, và người dân cũng đã được tiếp cận nhiều
hơn với bảo hiểm, qua đó tự nhận thấy được lợi ích thiết thực mà các gói bảo hiểm
vật chất xe cơ giới mang lại cho mình. Bảo hiểm vật chất xe cơ giới cũng hoạt động
trên nguyên tắc số đông, qua việc thu phí bảo hiểm sẽ làm tăng doanh thu cho công
ty, tạo thành quỹ số tiền đảm bảo chi trả cho người mua bảo hiểm khi có va chạm.

vật chất xảy ra đối với phương tiện của mình khi những rủi ro được bảo hiểm xảy
ra. Do đó, đối tượng bảo hiểm của bảo hiểm vật chất xe cơ giới chính là bản thân
những chiếc xe đã được xác định là còn giá trị và đủ tiêu chuẩn lưu hành.
Đối với phương tiện là xe ô tô, chủ phương tiện có thể quyết định sẽ tham
gia bảo hiểm toàn bộ xe hoặc tham gia bảo hiểm bộ phận thân xe mà chủ yếu là
theo từng tổng thành xe. Một đối tượng xe ô tô thường được kết cấu thành 7 tổng
thành sau:
• Tổng thành thân vỏ
• Tổng thành động cơ
• Tổng thành hộp số (chính và phụ đối với các xe có kết cấu kĩ thuật phức tạp
hơn)
• Tổng thành cầu trước
• Tổng thành trục sau (cầu sau)
• Tổng thành hệ thống lái
• Tổng thành lốp
Ngoài ra đối với một số trường hợp các phương tiện chuyên dụng sẽ có tổng
thành thứ 8 tùy vào mục đích đặc biệt mà phương tiện ấy phục vụ, như cầu, kéo,
tời…hoặc các xe như cứu thương, cứu hỏa…
SV: Phạm Minh Tú Lớp: Kinh tế bảo hiểm 50B
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: ThS. Tôn Thanh Huyền
Còn đối với phương tiện là xe mô tô, gắn máy, khi đã tham gia bảo hiểm thì
chủ xe thường mua bảo hiểm vật chất toàn bộ, vì giá trị của xe không phải là quá
lớn, kích thước xe nhỏ nên có va chạm thường ảnh hưởng tổn thất toàn bộ xe.
1.3. Phạm vi bảo hiểm
1.3.1. Các rủi ro được bảo hiểm
Thông thường, trong bảo hiểm vật chất xe cơ giới, các rủi ro sau đây khi xảy
ra sẽ được công ty bảo hiểm bồi thường:
- Những tai nạn bất ngờ, bất khả kháng ngoài sự kiểm soát của người được
bảo hiểm, lái xe trong những trường hợp: Đâm va, lật, đổ, rơi; Hỏa hoạn,

cứ biên bản nào của cơ quan công an hoặc bản án, quyết định của tòa án xác
nhận việc vi phạm này theo luật giao thông đường bộ Việt Nam và/hoặc bởi
các quy định về việc cấm sử dụng các chất kích thích sẽ là bằng chứng đầy
đủ về việc vi phạm này
- Thiệt hại trực tiếp do lỗi vi phạm luật giao thông. Các lỗi vi phạm này bao
gồm nhưng không giới hạn ở các vi phạm như: vượt quá tốc độ cho phép,
vượt đèn đỏ, đi ngược chiều đường, xe đi đêm không có đủ đèn chiếu sáng
theo quy định, xe đi vào đường cấm, khu vực cấm, rẽ quẹo tại nơi bị cấm; xe
chở hàng hóa, hành khách vượt quá mức quy định của cơ quan nhà nước có
thẩm quyền.
- Tai nạn xảy ra ngoài lãnh thổ nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
(trừ khi có thỏa thuận khác).
- Hao mòn tự nhiên, mất giá, giảm dần chất lượng, hỏng hóc do khuyết tật
hoặc hư hỏng thêm do sửa chữa. Hao mòn tự nhiên thường được tính dưới
hình thức khấu hao và thường được tính theo tháng.
- Hư hỏng về điện, các bộ phận thiết bị, máy móc, điều hòa nhiệt độ, săm lốp
hư hỏng mà không phải do tai nạn thuộc phạm vi bảo hiểm.
- Tổn thất động cơ xe do đi vào đường ngập nước hay do nước lọt vào động cơ
xe gây hiện tượng thủy kích phá hỏng động cơ xe (trừ trường hợp có điều
khoản bổ sung trong hợp đồng).
- Xe bị mất không xác định được nguyên nhân; xe bị mất do hành vi lừa đảo,
chiếm dụng, tranh chấp dân sự hoặc bị tịch thu.
Trong thời hạn bảo hiểm nếu chủ xe chuyển quyền sở hữu cho chủ xe khác
thì quyền lợi bảo hiểm vẫn có hiệu lực đối với chủ xe mới. Tuy nhiên nếu chủ xe cũ
không chuyển quyền lợi bảo hiểm cho chủ xe mới thì công ty bảo hiểm sẽ hoàn lại
một phần phí cho họ và làm thủ tục bảo hiểm cho chủ xe mới nếu họ có nhu cầu.
1.3.3. Các điều khoản khác
Ngoài các điều khoản chính ở trên thì công ty bảo hiểm thường cung cấp các
điều khoản mở rộng không bắt buộc cho từng trường hợp riêng nếu khách hàng có
nhu cầu:

- Với xe đã qua sử dụng thì phải xem mức độ cũ mới của xe.
- Thể tích làm việc của động cơ…
Thông thường các công ty bảo hiểm sẽ xác định giá trị bảo hiểm căn cứ vào
giá trị ban đầu của xe và mức khấu hao:
Giá trị bảo hiểm = Giá trị ban đầu – khấu hao ( nếu có )
Quy trình cùng đánh giá về giá trị bảo hiểm giữa công ty bảo hiểm và chủ xe
thường theo quy trình chặt chẽ nhưng cũng rất hợp lý nhằm đảm bảo sự thoải mái
cho cả đôi bên. Sẽ có sự khác nhau nhất định giữa xe mới và xe đã qua sử dụng, cụ
SV: Phạm Minh Tú Lớp: Kinh tế bảo hiểm 50B
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: ThS. Tôn Thanh Huyền
thể với xe mới thì quy trình sẽ như sau:
 Doanh nghiệp cùng chủ xe tiến hành kiểm tra và giám định để xác nhận tình
trạng thực tế của xe khi tham gia bảo hiểm.
 Kiểm tra giấy tờ, hóa đơn mua bán giữa nhà máy lắp ráp, đại lý hãng với
người mua, hoặc giữa đại lý nhập khẩu và người mua.
 Hóa đơn thu thuế trước bạ.
Đối với các trường hợp phương tiện đã qua sử dụng, quy trình sẽ có chút khác biệt,
cụ thể là:
 Xác định giá mua xe lúc đầu
 Tham khảo giá của những chiếc xe tương đương cùng chủng loại trên thị
trường.
 Giám định tình trạng hao mòn thực tế của xe, căn cứ qua đoạn đường ( số km
) xe đã đi, số năm hoạt động, mục đích sử dụng xe cũng như địa hinh hoạt
động chủ yếu của xe…
Căn cứ vào các quy trình trên, chủ xe cùng công ty bảo hiểm sẽ tiến hành thống
nhất về giá trị bảo hiểm. Và với thị trường mà số đầu xe cũng như hãng xe cỡ vừa
như ở Việt Nam thì các nhân viên bảo hiểm cũng không ngừng tìm hiểu, cập nhật
thông tin cũng như xây dựng bảng giá xe có tính tương đối cho mình.
1.4.3. Số tiền bảo hiểm

sẽ xác định được mức độ rủi ro có thể xảy ra với phương tiện. Xe lưu thông
càng nhiều trên đường, hoặc địa hình cũng như phạm vi thường xuyên hoạt
động cũng sẽ dẫn đến độ rủi ro khác nhau.
 Tuôi tác cũng như kinh nghiệm lái xe của người yêu cầu bảo hiểm và những
người thường xuyên sử dụng chiếc xe tham gia bảo hiểm. Xét trên góc độ
tâm lý cũng như thống kê thực tế thì các lái xe càng lớn tuổi thì càng ít xảy ra
tai nạn hơn là các tài xế trẻ tuổi. Vì thế nên trong nhiều trường hợp các công
ty bảo hiểm thường áp dụng giảm chi phí bảo hiểm cho các lái xe trên 50
tuổi. Nhưng không phải càng cao tuổi thì càng tốt, đối với những chủ phương
tiện từ 60, 65 tuổi trở lên thì lại cần xuất trình giấy chứng nhận đủ sức khỏe
để có thể điều khiển phương tiện thì công ty mới cấp giấy chứng nhận bảo
hiểm
Phí bảo hiểm phải đóng cho mỗi đầu xe đối với mỗi loại xe được tính theo công
thức:
 P = S
b
* ( R
1
+ R
2
)
Trong đó: P : phí bảo hiểm chủ xe phải nộp
Sb : số tiền bảo hiểm
R1 : tỷ lệ phí thuần
R2 : tỷ lệ phụ phí
Nếu xem xét trên cơ sở cơ cấu thì phí bảo hiểm mỗi chủ phương tiện phải nộp
được tính như sau:
 P = f + d
Trong đó: P : phí thu mỗi đầu xe
SV: Phạm Minh Tú Lớp: Kinh tế bảo hiểm 50B

tổn thất, chi quản lý nội bộ…Phần phụ phí này thường được tính bằng một tỷ lệ
phần trăm nhất định so với phí bồi thường).
1.5.3. Trường hợp đặc biệt
Ngoài các trường hợp thông thường ra thì trong một số tình huống cụ thể,
DNBH có thể áp dụng các biện pháp linh hoạt sau đây:
• Giảm phí bảo hiểm
Trong nhiều trường hợp để khuyến khích các chủ xe có số lượng tham gia
nhiều, công ty sẽ có mức giảm phí nhất định. Đặc biệt thì hầu hết các công ty bảo
hiểm đều áp dụng cơ chế giảm giá cho những khách hàng thân thiết đã tin tưởng
tiếp tục sử dụng sản phầm của công ty, hay những khác hàng không có khiếu nại gì
trong thời gian bảo hiểm, đây là biện pháp phổ biến trong các công ty bảo hiểm.
Đối với những xe mang tính chất mùa vụ, tức là chỉ hoạt động một số tháng
trong năm thì chủ xe có thể thỏa thuận chỉ đóng phí cho số tháng mà xe hoạt động,
cụ thể :
Phí BH =
Mức phí cả
năm
x
Số tháng xe phải hoạt động trong năm
12 tháng
• Biểu phí đặc biệt
Trong những trường hợp cụ thể, công ty bảo hiểm sẽ có tính toán những biểu
phí riêng cho khách hàng như sau:
- Số lượng xe của khách hàng tham gia bảo hiểm
- Tình hình bồi thường cho khách hàng hoặc khách hàng có khiếu nại
gì với công ty trong những năm trước đó hay không
- Tỷ lệ phụ phí theo quy định của công ty
- Mức độ chuyên dụng hay đặc thù sử dụng của phương tiện tham gia
SV: Phạm Minh Tú Lớp: Kinh tế bảo hiểm 50B
16

tiềm ẩn để có thể khai thác tốt nhất.
Ngoài ra, một khâu khai thác tốt không chỉ thể hiện ở việc nó mang lại doanh
thu nhiều cho doanh nghiệp mà còn thể hiện ở việc những hợp đồng bảo hiểm khai
thác được có độ rủi ro tốt, có nghĩa là việc đánh giá, lường trước rủi ro được các
khai thác viên xem xét một cách thận trọng và tương đối chính xác; nếu không làm
được như thế, chỉ coi trọng doanh thu mà bỏ qua việc đánh giá nghiêm túc độ rủi ro
của hợp đồng đó thì xét về lâu về dài sẽ ảnh hưởng xấu đến công ty.
2.1.2. Quy trình khai thác bảo hiểm vật chất xe cơ giới
SV: Phạm Minh Tú Lớp: Kinh tế bảo hiểm 50B
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: ThS. Tôn Thanh Huyền
Dù ở doanh nghiệp bảo hiểm khác nhau sẽ có sự khác nhau nhất định, nhưng
nhìn chung việc khai thác sẽ có quy trình gồm các bước chặt chẽ như sau:
Sơ đồ 1.1: Quy trình khai thác bảo hiểm vật chất xe cơ giới
• Tìm kiếm và xử lý thông tin khách hàng
Với các sản phẩm bảo hiểm của mình thì các công ty bảo hiểm sẽ có các biện
pháp quảng cáo, tiếp thị một cách phù hợp. Để qua đó sản phẩm có thể tiếp cận
được với tối đa lượng khách hàng mà sản phẩm ấy hướng đến. Khi ấy, việc đánh
giá, xử lý thông tin kể cả từ những người quan tâm hoặc chưa quan tâm đến sản
phẩm là một hành động cần thiết, qua đó sẽ biết được nhu cầu của khách hàng, tư
vấn cho khách hàng những điều cần thiết, nhờ vậy để có những điều chỉnh, sửa đổi
từ phía công ty bảo hiểm, hoặc sẽ có những quyết định liệu sản phẩm ấy có phù hợp
hay không, đánh giá tiềm năng của sản phầm để tránh có các rủi ro không đáng có.
• Phân tích, tìm hiểu, đánh giá rủi ro từ thông tin khách hàng
Đây là một bước quan trọng trong khâu khai thác bảo hiểm. Sau khi khách
hàng có nhu cầu và gửi giấy yêu cầu bảo hiểm tới, công ty sẽ tiến hành việc tìm
hiểu và đánh giá rủi ro. Từ thông tin khách hàng cung cấp, việc phân tích, đánh giá
xác suất rủi ro dựa trên cơ sở khách quan và chủ quan. Nhân viên khai thác cần nắm
bắt cụ thể từng chi tiết, sát với thực tế để tiến hành đánh giá một cách chính xác
SV: Phạm Minh Tú Lớp: Kinh tế bảo hiểm 50B

2.2.2. Các biện pháp đề phòng và hạn chế tổn thất
Đối với mỗi loại hình bảo hiểm, mỗi nghiệp vụ bảo hiểm thì khác nhau thì sẽ
có những biện pháp đề phòng và hạn chế tổn thất khác nhau. Với nghiệp vụ bảo
hiểm vật chất xe cơ giới, muốn giảm thiểu tổn thất thiệt hại, có thể áp dụng các biện
SV: Phạm Minh Tú Lớp: Kinh tế bảo hiểm 50B
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: ThS. Tôn Thanh Huyền
pháp sau:
 Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng có liên quan như công
an giao thông, thanh tra giao thông công chính để có những góp ý kịp
thời về những hành động giảm thiểu tai nạn như tăng cương biển báo
chỉ đường, thông báo các đoạn đường hay xảy ra tai nạn để có biện
pháp giám sát theo dõi.
 Tăng cường tuyên truyền đến khách hàng của mình về việc chấp hành
nghiêm Luật giao thông đường bộ, nâng cao ý thức khi tham gia giao
thông.
 Có thể tổ chức hoặc hỗ trợ kinh phí tổ chức nhiều cuộc thi nâng cao
khả năng lái xe an toàn cho khách hàng của mình.
Dù thực hiện đề phòng và hạn chế tổn thất theo phương thức nào thì hàng
năm các DNBH đều phải chi ra một khoản tiền nhất định trong tổng số phí bảo
hiểm thu được. Để nâng cao hiệu quả của khoản chi này cần phải thống kê chi tiết
số vụ tổn thất xảy ra theo các nguyên nhân khác nhau, sau đó phân tích và đề ra các
biện pháp phù hợp có tính khả thi cao.
2.3. Giám định và bồi thường tổn thất bảo hiểm vật chất xe cơ giới
2.3.1. Vai trò của giám định và bồi thường tổn thất
Giám định và bồi thường tổn thất là khâu quan trọng quyết định tới uy tín
và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm. Vì thế, khâu này cần được
đề ra nhiều tiêu chí như nhanh chóng, kịp thời, chính xác, hợp pháp và đáp ứng
được yêu cầu của khách hàng. Giám định phương tiện cần sự nhanh chóng, kịp
thời, bởi vì khi xảy ra va chạm hay tai nạn việc giữ nguyên hiện trường là không

- Mở hồ sơ khách hàng : khi nhận được biên bản giám định tổn thất và các
giấy tờ có liên quan, bộ phận giải quyết bồi thường phải mở hồ sơ khách hàng và
ghi lại theo thứ tự số hồ sơ (số hợp đồng) và thời gian. Đối chiếu với bản hợp đồng
gốc các thông tin liên quan.
- Xác định số tiền bồi thường: Sau khi hoàn tất hồ sơ bồi thường của khách
hàng, bộ phận giải quyết bồi thường sẽ tính toán số tiền bảo hiểm trên cơ sở: biên
bản giám định tổn thất và bản kê khai tổn thất, điều khoản điều kiện của hợp đồng;
bảng theo dõi số phí bảo hiểm đã nộp.
- Thông báo bồi thường: Sau khi xác định được số tiền bồi thường, công ty sẽ
thông báo chấp nhận bồi thường và đề xuất các hình thức bồi thường cho khách
hàng.
-
2.3.2.3. Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh
Hiệu quả kinh doanh của DNBH là thước đo sự phát triển của bản thân
doanh nghiệp và phản ánh trình độ sử dụng chi phí trong việc tạo ra những kết quả
kinh doanh nhất định, nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra.
SV: Phạm Minh Tú Lớp: Kinh tế bảo hiểm 50B
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: ThS. Tôn Thanh Huyền
Hiệu quả kinh doanh thể hiện ở các chỉ tiêu đặc trưng kinh tế, xã hội khác
nhau. Nhưng đang lưu ý là không phải tất cả các chỉ tiêu kinh tế, xã hội đều là chỉ
tiêu hiệu quả, đối với những chỉ tiêu phản ảnh chi phí, hay cơ cấu kết quả kinh
doanh đều không phải chỉ tiêu hiệu quả, các chỉ tiêu hiệu quả chỉ có thể được xác
định bằng tỷ lệ so sánh giữa kết quả với chi phí. Nếu lấy mỗi chỉ tiêu phản ánh kết
quả kinh doanh so với một chỉ tiêu phản ánh chi phí, ta được một chỉ tiêu hiệu quả
kinh doanh.
Nghiệp vụ bảo hiểm vật chất xe cơ giới nói riêng cũng như các nghiệp vụ
bảo hiểm khác khi triển khai thường phải qua một số khâu công việc cụ thể: như
khâu khai thác, khâu đề phòng và hạn chế tổn thất, khâu giám định bồi thường. Để
nâng cao hiệu quả của nghiệp vụ, đòi hỏi phải nâng cao hiệu quả của từng khâu

thường trong kỳ
Kết quả giám định trong kỳ có thể là số vụ tai nạn rủi ro đã được giám định hoặc số
khách hàng đã được bồi thường trong kì. Ở mẫu số sẽ là tổng chi phí giám định.
Hiệu quả bồi thường =
Số vụ đã giải quyết bồi
thường trong kỳ
Tổng số vụ cần giải quyết
trong kỳ
Với khâu bồi thường thì hiệu quả được xác định bởi tỷ lệ số vụ đã giải quyết
bồi thường trong kì so với tổng số vụ cần giải quyết trong kì. Cần lưu ý số tổng số
vụ cần giải quyết trong kì bằng tổng của số vụ phát sinh trong kì và số vụ còn tồn
đọng từ kì trước được dồn vào kì đang đánh giá hiệu quả.
SV: Phạm Minh Tú Lớp: Kinh tế bảo hiểm 50B
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: ThS. Tôn Thanh Huyền
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO
HIỂM VẬT CHẤT XE CƠ GIỚI TẠI CÔNG TY BẢO HIỂM AAA,
CHI NHÁNH HÀ NỘI, GIAI ĐOẠN 2006-2011
1. Công ty cổ phần bảo hiểm AAA, chi nhánh Hà Nội
1.1. Vài nét về công ty cổ phần bảo hiểm AAA
Công ty bảo hiểm AAA có tên giao dịch chính thức là Công ty cổ phần bảo
hiểm AAA, tên giao dịch tiếng Anh là: AAA ASSURANCE CORPORATION.
Công ty đã được Bộ Tài Chính công nhận và cấp phép thành lập và hoạt
động số 30/GP/KDBH ngày 28 tháng 2 năm 2005. Công ty có trụ sở chính tại số 02
Bis Trần Cao Vân, Quận I, TP.HCM. Hình thức pháp lí: công ty cổ phần bảo hiểm
có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng và mở tài khoản tại ngân hàng theo các quy
định của pháp luật Việt Nam.
Tại thời điểm khởi đầu thành lập, vốn điều lệ của công ty là 80 tỷ đồng.
Trải qua quá trình phát triển và để tăng năng lực cạnh tranh, công ty đã tiến
hành hai lần tăng vốn điều lệ. Cụ thể là lần thứ nhất, tại đại hội cổ đông thường

Tổng công ty Công nghiệp ôtô Việt Nam (Vinamotor)
Tập đoàn địa ốc Chuang Hồng Kông
Công ty đóng tàu và dịch vụ dầu khí Vũng Tàu (Vung Tau Shipyard)
Công ty cổ phần du lịch Đà Lạt (Dalat Toserco)
Công ty Cổ phần địa ốc R.C (Refico)
Công ty Tái bảo hiểm B.E.S.T- Văn phòng tiếp thị Malaysia
Công ty TNHH HAAKON (Asia)- Văn phòng tiếp thị Kuala Lumpur (Malaysia)
Bệnh viện Chợ Rẫy
Công ty Phát chuyển nhanh TTC
Vinashin
Và các tổ chức trong và ngoài xã hội khác.
 Cơ cấu tổ chức
Cũng như các công ty cổ phần hay tập đoàn khác, công ty cổ phần bảo hiểm
AAA cũng có Hội đồng quản trị và ban điều hành, cụ thể như sau:
Cơ cấu Hội đồng quản trị:
Bà Đỗ Thị Kim Liên : Chủ tịch
Ông Phạm Văn Thiệt : Phó chủ tịch
Ông Đinh Nam Thăng : Ủy viên
Ông Lê Toàn : Ủy viên
Ông Đặng Đức Hoàng : Ủy viên
Ông Đặng Quốc Tiến : Ủy viên
Ông Lars Kjear : Ủy viên
SV: Phạm Minh Tú Lớp: Kinh tế bảo hiểm 50B
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status