192 Một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước tại thành phố Nha Trang. - Pdf 25


36
MỤC LỤC
Trang
Mở đầu .................................................................................................................. 1
Chương 1. Tổng quan về cổ phần hóa ................................................................ 3
1.1. Lý luận về công ty cổ phần. ...................................................................... 3
1.1.1. Công ty cổ phần. ............................................................................. 3
1.1.1.1. Khái niệm ............................................................................. 3
1.1.1.2. Các nguồn tài trợ cho công ty cổ phần trên TTCK............... 3
1.1.2. Cổ phần. ......................................................................................... 7
1.1.3. Cổ đông. ......................................................................................... 7
1.1.4. Cổ phiếu. ......................................................................................... 7
1.1.5. Cổ tức. ............................................................................................. 7
1.2. Lý luận về cổ phần hóa. ............................................................................ 7
1.2.1. Khái niệm cổ phần hóa .................................................................... 7
1.2.2. Phân loại. ......................................................................................... 8
1.2.3. Đặc trưng cổ phần hóa ở Việt Nam. ............................................... 9
1.2.4. Lợi ích của cổ phần hóa đối với sự phát triển của các doanh nghiệp
Việt Nam. ........................................................................................... 10
1.2.4.1. Lợi ích của cổ phần hóa đem lại cho xã hội. ....................... 10
1.2.4.2. Lợi ích của cổ phần hóa đem lại cho doanh nghiệp. ............ 12
1.2.4.3. Lợi ích của cổ phần hóa đối với người lao động. ................ 13
1.3. Kinh nghiệm cổ phần hóa ở một số quốc gia trên thế giới. ...................... 14
1.3.1. Hungary ........................................................................................... 16
1.3.2. Nga .................................................................................................. 17
1.3.3. Trung Quốc ...................................................................................... 17
Kết luận chương 1. .................................................................................. 22
Chương 2. Thực trạng tình hình sản xuất kinh doanh và vấn đề cổ phần hóa
các doanh nghiệp nhà nước tại thành phố Nha Trang. ................................... 23
2.1. Tình hình cổ phần hóa ở nước ta trong thời gian qua. ............................. 23

và cá nhân người lao động. .................................................. 57

38
3.3.1.5. Đổi mới công tác quản trị và tổ chức sản xuất. .................... 59
3.3.1.6. Đối mới kỹ thuật- công nghệ. ............................................. 60
3.3.1.7. Tăng cường mở rộng quan hệ cầu nối giữa doanh nghiệp với xã
hội. ....................................................................................... 61
3.3.2. Nhóm giải pháp vĩ mô. ................................................................... 62
3.3.2.1. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức
chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về CPH........ 62
3.3.2.2. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách về CPH DNNN....... 64
3.3.2.3. Cần đơn giản hóa thủ tục, cải cách hành chính trong tiến trình
cổ phần hóa. .......................................................................... 67
3.3.2.4. Nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan chuyên trách về cổ
phần hóa................................................................................ 67
3.3.2.5. Tạo “sân chơi” bình đẳng cho các loại hình doanh nghiệp .. 69
3.3.2.6. Đẩy mạnh việc bán cổ phần, niêm yết và phát triển TTCK . 70
Kết luận chương 3. ................................................................................... 71
Kết luận................................................................................................................. 73
Tài liệu tham khảo ............................................................................................... 75
Phụ lục .................................................................................................................. 77

nghiệp. Không những vậy, cổ phần hóa còn góp phần phát triển TTCK - một yếu tố
không thể thiếu trong nền kinh tế thị trường. Chính vì nhận thức được những lợi ích
của cổ phần hóa, từ năm 1998 Nha Trang cũng đã bắt đầu thực hiện CPH và đạt
được những thành công bước đầu. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đáng khích lệ
thì vẫn còn có quá nhiều rào cản, vướng mắc khiến cho các DNNN lo ngại CPH,

40
thậm chí một số DNNN nhận thức được tầm quan trọng của CPH và mong muốn
được tiến hành CPH doanh nghiệp mình nhưng chính những khó khăn, vướng mắc
này lại khiến họ nản lòng, và bối rối trong cách giải quyết, xử lý. Chính những điều
này là tác nhân làm chậm tốc độ cổ phần hóa của thành phố Nha Trang, từ đó ảnh
hưởng đến tiến trình CPH chung của cả nước. Đặc biệt, trong bối cảnh Việt Nam
đang chuẩn bị gia nhập WTO thì vấn đề cổ phần hóa DNNN càng phải được thực
hiện một cách mạnh mẽ, quyết liệt hơn, càng khó khăn càng phải cần có sự quyết
tâm, đồng thuận cao từ trên xuống dưới.
Để tháo gỡ những khúc mắc này thì việc nghiên cứu thực trạng cổ phần hóa
và đề xuất “MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ
CỔ PHẦN HÓA CÁC DNNN TẠI THÀNH PHỐ NHA TRANG” được quan tâm
tìm hiểu, để từ đó có thể đẩy nhanh “cỗ xe” CPH DNNN tại thành phố này nói riêng
và Việt Nam nói chung. Đó cũng chính là nội dung chính của đề tài này.
Mục tiêu bao quát của luận văn là đánh giá thực trạng hiệu quả CPH các
DNNN ở Việt Nam nói chung và trên địa bàn tp. Nha Trang nói riêng; xác định
những hạn chế, vướng mắc trong quá trình CPH; từ đó đề xuất các giải pháp góp
phần thực hiện thành công và có hiệu quả công cuộc CPH DNNN ở tp. Nha Trang.
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, đề tài đề cập đến cơ sở lý luận và
thực tiễn có liên quan đến tình hình CPH DNNN ở Việt Nam; tập trung phân tích và
đánh giá tác động của CPH đến hiệu quả hoạt động của các DNNN trước và sau khi
tiến hành CPH diễn ra trên địa bàn tp. Nha Trang; trên cơ sở đó tìm ra các giải pháp
để CPH DNNN đạt hiệu quả cao hơn.
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu của đề tài là phương pháp phân tích định

Cổ phiếu:
Cổ phiếu là giấy chứng nhận cổ phần trong một công ty, thể hiện sự sở hữu
một phần công ty đó. Giá trị cổ phần của công ty được phản ánh thông qua giá cổ
phiếu trên TTCK. Thông thường, giá cổ phiếu sẽ đi lên khi công ty làm ăn phát đạt
và ngược lại. Cổ phiếu trên sàn là cổ phiếu đã được niêm yết và giao dịch trên
TTCK. Cổ phiếu ngoài sàn (OTC) là cổ phiếu không đủ điều kiện để niêm yết hoặc

42
đủ điều kiện nhưng chưa niêm yết trên TTCK. Cổ phiếu trên sàn thường đã qua chọn
lọc, các thông tin tương đối minh bạch và đầy đủ hơn so với cổ phiếu ngoài sàn.
Ưu điểm:
- Đối với công ty:
+ Giúp công ty cổ phần có quy mô hoạt động lớn và khả năng mở rộng kinh
doanh dễ dàng từ việc huy động vốn cổ phần.
+ Công ty có thể huy động một lượng vốn lớn hơn rất nhiều vốn điều lệ của
công ty và tài sản hiện có mà không cần phải cầm cố, thế chấp bất kỳ tài sản nào.
+ Giá trị của công ty sẽ tăng lên rất nhiều nếu nhà đầu tư đánh giá cao về
triển vọng phát triển và kỳ vọng về tương lai của công ty nên họ sẵn sàng mua cổ
phiếu dù có thể hiện giờ công ty chưa phát triển.
+ Nguồn vốn huy động bằng hình thức phát hành cổ phiếu không cấu thành
một khoản nợ mà công ty phải có trách nhiệm hoàn trả cũng như áp lực về khả năng
cân đối thanh khoản của công ty sẽ giảm rất nhiều, trong khi sử dụng các phương
thức khác như phát hành trái phiếu công ty, vay nợ từ các tổ chức tín dụng ... thì
hoàn toàn ngược lại.
+ Tùy vào chính sách cổ tức của công ty mà công ty có thể chi trả cổ tức cho
cổ đông hoặc giữ lại cổ tức để tiếp tục đầu tư nhằm gia tăng giá trị của công ty trong
tương lai.
- Đối với nhà đầu tư:
+ Nhà đầu tư có khả năng điều chuyển vốn đầu tư từ nơi này sang nơi khác,
từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác dễ dàng thông qua hình thức chuyển nhượng,

hơn lãi suất từ ngân hàng hiện nay (khoảng 10,8%/năm) nên huy động vốn trên
TTCK là "khá đắt" và khó thực hiện.
- Để huy động vốn trên TTCK các doanh nghiệp phải thực hiện những thủ
tục phức tạp hơn nhiều so với thủ tục xin vay tại các tổ chức tín dụng.
Trái phiếu:
Trái phiếu là một khoản vay giữa nhà đầu tư (người cho vay) với nhà phát
hành (người đi vay). Nhà phát hành là các công ty cần huy động vốn để đầu tư phát

44
triển kinh doanh. Trái phiếu thường có kỳ hạn cố định. Khi đến hạn, nhà phát hành
sẽ hoàn trả tiền gốc. Tiền lãi sẽ được trả định kỳ 6 tháng hoặc 1 năm trong suốt kỳ
hạn của trái phiếu. Trái phiếu niêm yết có thể được tự do mua bán trên TTCK.
Ưu điểm:
- Đối với công ty:
+ Công ty có thể huy động vốn thông qua việc phát hành trái phiếu để hoạt
động kinh doanh.
+ So với vay ngân hàng, vay thông qua phát hành trái phiếu là cách thức vay
trực tiếp, do đó chi phí sử dụng vốn rẻ hơn.
+ Đồng thời hình thức vay này giúp doanh nghiệp chủ động hơn và có thể
vay với khối lượng lớn hơn vay ngân hàng.
+ Công ty phát hành xác định được số tiền phải trả cho trái chủ đến ngày đáo
hạn để đầu tư vào những dự án có tỷ suất lợi nhuận cao hơn.
+ Không phải chia sẻ quyền quản lý cho các trái chủ.
- Đối với nhà đầu tư:
+ Phù hợp với nhà đầu tư không thích rủi ro. Họ nhận được thu nhập định kỳ
với mức lãi suất được ấn định ngay từ khi phát hành mà không phụ thuộc kết quả
hoạt động kinh doanh của công ty phát hành.
+ Trái phiếu thường có mức độ rủi ro thấp hơn nên giá cũng ít biến động
hơn. Trong môi trường lạm phát thấp và trong trường hợp thị trường chứng khoán
biến động, đầu tư vào trái phiếu để có thể duy trì nguồn thu nhập ổn định mà vẫn

định quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó. Cổ phiếu có thể ghi tên
hoặc không ghi tên.
1.1.5. Cổ tức:
Là số tiền hàng năm được trích từ lợi nhuận của công ty để trả cho mỗi cổ
phần.
1.2. Lý luận về cổ phần hóa:
1.2.1. Khái niệm cổ phần hóa:
Hiện nay khi đề cập đến vấn đề cổ phần hóa, nhiều người nhầm tưởng rằng
CPH chỉ là cổ phần hóa DNNN. Đó là một thiếu sót, vì thật ra CPH là một thuật

46
ngữ chung để nói về việc cổ phần hóa các DNNN và các loại doanh nghiệp khác
như: công ty liên doanh, công ty 100% vốn nước ngoài, công ty trách nhiệm hữu
hạn và các doanh nghiệp tư nhân.
Từ nhận thức trên, chúng ta có khái niệm về cổ phần hóa như sau:
¾ Cổ phần hóa là quá trình chuyển một doanh nghiệp từ dạng chưa là
công ty cổ phần thành công ty cổ phần.
¾ Cổ phần hóa còn là một thuật ngữ để biểu đạt quá trình chuyển DNNN
thành công ty cổ phần thuộc sở hữu của các pháp nhân và thể nhân (gọi tắt là cổ
đông) đã bỏ tiền ra mua cổ phiếu của DNNN đó.
1.2.2. Phân loại:
Trên thế giới hiện nay có 2 loại hình cổ phần hóa:
Một là, cổ phần hóa DNNN :
Ban đầu, theo QĐ 143/HĐBT (l0-5-1990) và QĐ 202/CT (4-3-1993) thì cổ
phần hoá DNNN được hiểu là quá trình chuyển một số DNNN đáp ứng các điều
kiện như: có quy mô vừa và nhỏ; kinh doanh có lãi hoặc triển vọng có lãi; Nhà nước
không cần giữ 100% vốn sang hoạt động dưới hình thức công ty cổ phần bằng cách
giữ nguyên giá trị sở hữu của Nhà nước, phát hành cổ phiếu mới thu hút vốn hoặc
bán một phần tài sản thuộc sở hữu Nhà nước cho cá nhân và pháp nhân trong và
ngoài doanh nghiệp. Đối tượng được ưu tiên mua cổ phiếu là người lao động trong

quản lý và lao động tích cực của cá nhân tốt hơn hình thức doanh nghiệp 100% sở
hữu nhà nước, mặt khác thành phần kinh tế nhà nước có thể mạnh hơn, kiểm soát
được phạm vi rộng hơn mà không cần tăng vốn đầu tư của nhà nước. Với mục đích
này, mặc dù có một phần tài sản chuyển từ sở hữu nhà nước sang sở hữu tư nhân,
song mục đích lại không hoàn toàn giống tư nhân hóa ở các nước TBCN.
Thứ ba, ngoài ra mục đích của cổ phần hóa còn nhằm tạo điều kiện cho
người lao động làm chủ và giúp doanh nghiệp sau cổ phần hóa hoạt động hiệu quả
bằng những phương châm, hình thức cổ phần hóa cũng như chính sách ưu đãi đối
với nguời lao động trong các doanh nghiệp cổ phần hóa hơn là mục đích chuyển

48
giao DNNN cho tư nhân. Chính vì vậy, Việt Nam không chủ trương giao bán
DNNN càng nhanh càng tốt mà kiên trì con đường cổ phần hóa DNNN.
Tính đặc thù của cổ phần hóa DNNN ở Việt Nam một mặt cho thấy xu
hướng giữ vững bản chất XHCN trong các cải cách kinh tế của nhà nước, nhưng
mặt khác lại khó khăn trong việc học hỏi kinh nghiệm từ các nước đi trước cũng
như không tự vạch ra được một chương trình hoàn thiện ngay từ đầu nhằm đạt tới
sự thống nhất trong cả quá trình cổ phần hóa.
1.2.4. Lợi ích của cổ phần hóa đối với sự phát triển của doanh nghiệp Việt
Nam:
1.2.4.1. Lợi ích của cổ phần hóa đem lại cho xã hội:
- Thúc đẩy TTCK phát triển:
Tăng cung cho TTCK: Thông qua CPH, một lượng chứng khoán lớn sẽ được
cung cấp làm tăng lượng và đa dạng hàng hoá cho TTCK, đáp ứng nhu cầu của các
nhà đầu tư.
Kích cầu cho TTCK: Bên cạnh việc cổ phần hoá DNNN, việc cổ phần hoá
các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, một số NHTM quốc doanh và doanh
nghiệp tư nhân ... sẽ cung cấp cho TTCK rất nhiều loại chứng khoán với mức độ rủi
ro và lợi nhuận khác nhau, đáp ứng mọi sở thích của nhà đầu tư. Từ đó kích thích
các nhà đầu tư quan tâm hơn đến chứng khoán, cả nhà đầu tư trong nước và ngoài

làm cho doanh thu và lợi nhuận tăng lên, vì vậy mức đóng góp cho ngân sách Nhà
nước cũng tăng lên, cụ thể là các doanh nghiệp phải nộp thuế theo quy định, còn các
cổ đông cũng phải nộp thuế thu nhập bổ sung từ nguồn cổ tức và lãi cổ phần theo
qui định của Nhà nước.
- Cơ cấu lại hệ thống DNNN:
Bằng cách du nhập hình thức công ty cổ phần hoá hỗn hợp sở hữu nhà nước
và tư nhân nhằm cơ cấu lại hệ thống DNNN, một mặt sẽ giảm bớt vốn của Nhà
nước ở các lĩnh vực mà hình thức kinh tế tư bản Nhà nước với vai trò kiểm soát của
Nhà nước kết hợp yếu tố quản lý, mặt khác lao động tích cực của cá nhân tốt hơn
hình thức doanh nghiệp 100% sở hữu Nhà nước. Chính vì vậy, thành phần kinh tế
Nhà nước có thể mạnh hơn, kiểm soát được phạm vi rộng hơn mà không cần tăng
vốn đầu tư của Nhà nước.
- Tạo nhiều công ăn việc làm cho người lao động, giải quyết thất nghiệp:
Doanh nghiệp sau cổ phần hoá hoạt động có hiệu quả sẽ mở rộng phạm vi
hoạt động, đầu tư thêm nhiều dự án mới. Do đó nhu cầu lao động sẽ tăng lên, cần
thu hút thêm lao động. Từ đó, nhiều người sẽ có việc làm, giảm được những tệ nạn

50
xã hội, giúp Nhà nước tiết kiệm chi phí để giải quyết và xoá bỏ các tệ nạn đó, đồng
thời đóng góp cho xã hội nhiều của cải hơn.
1.2.4.2. Lợi ích của cổ phần hoá đem lại cho doanh nghiệp:
Cổ phần hóa là giải pháp cơ bản sắp xếp lại DNNN được thể hiện như:
- Doanh nghiệp hoạt động hoàn toàn theo cơ chế thị trường, tự chủ tự chịu
trách nhiệm toàn diện về hoạt động sản xuất kinh doanh theo pháp luật, hạch toán
kinh doanh thực sự.
- Giúp doanh nghiệp xây dựng một cơ chế quản lý năng động, hiệu quả, thích
nghi với nền kinh tế thị trường. Cơ chế quản lý ở công ty cổ phần về cơ bản được
đổi mới; đặc biệt, ban kiểm soát do đại hội cổ đông bầu có vai trò quan trọng trong
việc kiểm tra, giám sát các hoạt động sản xuất, kinh doanh của công ty cổ phần. Tổ
chức bộ máy của công ty cổ phần được sắp xếp lại gọn nhẹ, năng động, khu vực

sở hữu chứng khoán của công ty):
- Tạo điều kiện cho người lao động làm chủ và thấy được vai trò làm chủ của
mình. Trên cơ sở đó, người lao động làm việc tích cực hơn và có hiệu quả hơn. Nhờ
vậy, năng suất lao động sẽ được tăng lên, tiết kiệm chi phí góp phần nâng cao hiệu
quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho người lao động:
Sau khi chuyển thành công ty cổ phần, nhờ phát hành thêm cổ phiếu, huy
động được vốn đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, nên công ty tạo ra nhiều việc
làm mới, thu hút thêm nhiều lao động hơn cả số lao động đã nghỉ trước đó.
- Tiền lương và thu nhập của người lao động được bảo đảm:
Thu nhập của người lao động tại doanh nghiệp sau cổ phần hóa tăng đáng kể
so với trước, bình quân 12%, chưa kể thu nhập có được từ cổ tức. Ngoài ra, người
lao động là cổ đông trong các công ty cổ phần, hằng năm còn được nhận cổ tức từ
phần vốn cổ phần mà họ có trong công ty. Mức cổ tức bình quân của các công ty cổ
phần cao gấp 2 - 3 lần lãi suất ngân hàng.

52
- Quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ của người lao động là cổ đông được bảo
đảm. Trong công ty cổ phần, người lao động là cổ đông không những có quyền lợi,
nghĩa vụ của người lao động mà còn có quyền và nghĩa vụ của cổ đông, đó là quyền
được bầu cử, ứng cử tại đại hội cổ đông, quyền biểu quyết, quyền được hưởng cổ
tức khi công ty kinh doanh có lãi, quyền chất vấn, phê bình, kiến nghị về công việc
của hội đồng quản trị, giám đốc và kiểm soát viên về hoạt động của công ty. Nhóm
cổ đông đại diện cho 25% vốn điều lệ được yêu cầu triệu tập đại hội cổ đông bất
thường khi có dấu hiệu không lành mạnh về hoạt động tài chính của giám đốc,
thành viên hội đồng quản trị và ban kiểm soát. Đây chính là những yếu tố quan
trọng làm tăng tiền lương và thu nhập của người lao động.
- Chính sách đối với lao động dôi dư do sắp xếp và cổ phần hóa DNNN được
người lao động hoan nghênh, đón nhận tích cực vì:
Đối với những người lao động với nhiều lý do khác nhau không đáp ứng

Về quy mô: phải nói đến Mêxico vì họ đã thành công trong việc tiến hành
chuyển đổi sở hữu các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động và cạnh tranh hiệu quả.
Một trong những lý do thành công là họ đã học tập được những kinh nghiệm quý
báu từ việc bán các doanh nghiệp nhỏ, từ đó giảm thiểu được rủi ro.
Về lĩnh vực thị trường: các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực có thị
trường đang và sẽ hoạt động tốt thường được ưu tiên cải cách trước, sau đó là đến
những doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực có khó khăn hơn về thị trường,
cuối cùng mới đến những lĩnh vực mà trước đây Nhà nước cần độc quyền hoặc tư
nhân chưa có đủ điều kiện để tham gia.
Thực tế có rất nhiều phương pháp đánh giá và định giá doanh nghiệp nhưng
phương pháp tốt nhất là để thị trường quyết định giá bán thông qua đấu thầu, nhất là
các doanh nghiệp nhỏ. Đối với những doanh nghiệp lớn, việc xác định giá bán
doanh nghiệp thường được thực hiện bằng nhiều phương pháp như: phương pháp
xác định theo giá thành tài sản, phương pháp giá trị tài sản thuần, phương pháp thu
nhập, phương pháp so sánh trực tiếp, phương pháp thặng dư, phương pháp đấu giá,
phương pháp dòng tiền chiết khấu. Theo đó sẽ tổ chức đấu thầu và đấu giá trên thị
trường.

54
Về cơ bản, có 3 hình thức phát hành cổ phiếu tại các doanh nghiệp thực hiện
chuyển đổi sở hữu:
a. Nhà nước giữ lại một phần để giữ vai trò chi phối hoặc tạo điều kiện thực hiện
các mục tiêu chính đặt ra khi chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp.
b. Bán một phần giá trị doanh nghiệp để thực hiện chính sách ưu đãi của Nhà
nước cho người lao động trong doanh nghiệp. Đây là hướng ưu tiên giải quyết của
các nước như: Ba lan. Croatia, Ucraina. Nhiều nước như Achentina, Chilê, Ba lan,
Pakistan và Sri Lanka đã dành 5-20% cổ phần cho công nhân viên doanh nghiệp với
giá giảm và được cấp tín dụng với điều kiện thuận lợi.
c. Một phần được bán cho các đối tượng bên ngoài (gồm các nhà đầu tư nước
ngoài) thông qua các công ty quản lý tài chính, quỹ tài sản nhà nước hay các công

hóa ồ ạt trong thời gian ngắn (3 – 4 năm). Chính phủ đã đề ra kế hoạch tư nhân hoá
30% tổng giá trị tài sản của nhà nước vào năm 1993 và 60% vào năm kế tiếp.
Để kích thích thị trường vốn trong nước phát triển, chính phủ còn thực hiện
các chính sách hỗ trợ vốn ban đầu cho người lao động trong doanh nghiệp và các
công dân đã đến tuổi trưởng thành. Cũng như Cộng hoà Séc, Littuania, Nga đã cho
không một phần giá trị doanh nghiệp, cấp sổ ngân phiếu, biên lai chứng chỉ mua cổ
phần... để xác định lại quyền mua cổ phần cho các đối tượng. Hơn nữa, Chính phủ
Nga đã phát không cho mỗi công dân (đủ 18 tuổi) một phiếu voucher với mệnh giá
10.000 Rúp để họ trở thành cổ đông của các xí nghiệp. Người cầm phiếu voucher có
thể sử dụng hoặc trực tiếp mua các cổ phần của các doanh nghiệp thay đổi hình thức
sở hữu; hoặc đổi lấy tín phiếu của các quỹ đầu tư.
Với những cố gắng như vậy, từ năm 1991-1996, CHLB Nga đã chuyển đổi
sở hữu 122.000 DNNN (chiếm 53,3% tổng số doanh nghiệp). Trong đó, DNNN có
quy mô nhỏ chiếm 64,8%, còn lại là các doanh nghiệp có quy mô vừa và lớn.
Nhưng bên cạnh đó, việc áp dụng phiếu voucher đã vô hình tạo ra sự trục lợi của
một số ít quan chức có thế lực và những người có tiền. Cuối cùng dẫn đến sự giảm
sút và thất thoát nghiêm trọng tài sản nhà nước, đẩy nhanh sự phân hoá giàu nghèo
trong xã hội. 56
1.3.3. Trung Quốc:
Ngay từ đầu thập niên 80, Chính phủ Trung Quốc đã đề cập đến giải pháp
CPH. Theo đó, cổ phần hóa DNNN là một bộ phận của chương trình đa dạng hóa sở
hữu và trong thập niên 90, giải pháp này đã được thể chế hóa và được coi là biện
pháp hữu hiệu trong cải cách DNNN.
Trái với quan điểm phải nhanh chóng chuyển đổi hình thức sở hữu DNNN
của các nước Đông Âu như Nga, Hungary, chính phủ Trung Quốc cho rằng phải
tiến hành chuyển đổi sở hữu từ từ, không nhanh, không chậm và luôn tỉnh táo, thận
trọng. Với quan điểm chỉ đạo trên, tiến trình cổ phần hoá của Trung Quốc diễn ra

hóa và bán các DNNN để điều chỉnh chính sách với người lao động và chính sách
giá trong cổ phần hoá và bán DNNN.
Trên thực tế, các DNNN đã tiến hành chuyển đổi sở hữu thành công ty cổ
phần theo 3 cách:
- Bán cổ phiếu cho CNVC trong nội bộ doanh nghiệp
- Phát hành cổ phiếu công khai ra xã hội
- Nắm giữ cổ phiếu giữa các doanh nghiệp
Từ năm 1993 đến nay, Trung Quốc đã thực hiện cổ phần hóa DNNN một
cách sâu rộng bằng cách xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, hệ thống các
văn bản pháp quy liên quan đến sự vận hành của doanh nghiệp như: Luật phá sản
doanh nghiệp, Điều lệ chuyển đổi cơ chế kinh doanh của các doanh nghiệp công
nghiệp thuộc chế độ sở hữu toàn dân, Điều lệ tạm thời về quản lý phát hành và giao
dịch cổ phiếu, Luật Lao động, Điều lệ quản lý đăng ký công ty ... và hai văn bản có
tầm quan trọng đặc biệt là Luật Doanh nghiệp công nghiệp thuộc chế độ sở hữu
toàn dân và Luật Công ty. “Luật Doanh nghiệp công nghiệp thuộc chế độ sở hữu
toàn dân” được thông qua ngày 13/4/1998, đã quy định cụ thể về các quyền lợi của
DNNN như: cho phép DN tự sản xuất một số sản phẩm theo yêu cầu của thị trường;
có quyền điều chỉnh vật tư được cung ứng theo kế hoạch; có quyền từ chối các
nhiệm vụ sản xuất ngoài kế hoạch của các ban, ngành; có quyền tự tiêu thụ sản
phẩm làm ra; có quyền lựa chọn đơn vị mua hàng... Thông qua luật này, các doanh

58
nghiệp sẽ có nhiều quyền tự chủ hơn trong sản xuất kinh doanh, từ đó tháo gỡ các
ràng buộc về mặt hành chính, đưa doanh nghiệp về đúng với vòng quay thị trường.
Đối với từng loại doanh nghiệp chính phủ Trung Quốc đã lựa chọn những
biện pháp phù hợp. Ví như các doanh nghiệp bắt đầu tiến hành CPH đã được áp
dụng những biện pháp hữu hiệu như: Khuyến khích sáp nhập tài sản, quy phạm hóa
việc phá sản, thực hiện chuyển nợ thành cổ phần, trợ giúp các DN cải tạo kỹ thuật,
mở rộng quy hoạch vốn, giải quyết vấn đề thất nghiệp cho người lao động. Đối với
các DN đã CPH, Chính phủ đã tạo điều kiện cho hưởng một số ưu đãi như: Thuế

gói thôi việc tương đối cao nên làm cho nhiều lao động tự nguyện ủng hộ việc
chuyển đổi sở hữu DNNN (90% số lao động dôi dư) đến mức chẳng cần phải thải
hồi công khai.
Đồng thời, Nhà nước không nên can thiệp sâu và trực tiếp vào hoạt động của
các doanh nghiệp để không cản trở mục tiêu phân định trách nhiệm giữa Nhà nước
và doanh nghiệp, đồng thời phát huy được tính năng động và tự chủ trong kinh
doanh của doanh nghiệp
Phải xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, hệ thống các văn bản pháp
quy liên quan đến sự vận hành của doanh nghiệp, kịp thời ban hành các quy chế
chính sách, mà đặc biệt là các chính sách đối với người lao động và giá bán doanh
nghiệp cũng như giá bán cổ phần thuộc vốn nhà nước tuân thủ nguyên tắc của cơ
chế thị trường. Đồng thời, cần có cơ chế đồng bộ, quan điểm và cách hiểu nhất quán
từ trung ương đến cơ sở, vừa chỉ đạo thực hiện kiên quyết, vừa theo dõi sát để kịp
thời điều chỉnh, bổ sung những cơ chế mới khi xuất hiện các lực cản làm chậm tiến
trình thực hiện cổ phần hóa.
Chính phủ cần có những chính sách lãi suất, chính sách tài chính đúng, mở
rộng thị trường mua, chuyển nợ thành vốn đầu tư làm tăng thành phần tham gia vào
doanh nghiệp, giải quyết khó khăn về vốn đối với doanh nghiệp để thúc đẩy việc
bán từng phần hoặc toàn bộ DNNN. Đó là những bài học từ Achentina, Chilê,
Philipin, các nước này đã lôi kéo được các nhà đầu tư nước ngoài và các ngân hàng
thương mại tham gia vào doanh nghiệp và bằng cách đó đã giảm được tỷ lệ nợ vốn.

60
Đối với các doanh nghiệp bắt đầu tiến hành CPH, các DN đã CPH, những
doanh nghiệp sau khi CPH hoạt động hiệu quả, chính phủ cần áp dụng những biện
pháp phù hợp cho từng loại doanh nghiệp. Đặc biệt chính phủ và doanh nghiệp cần
quan tâm giải quyết vấn đề thất nghiệp cho người lao động, chính phủ cũng cần tạo
điều kiện cho các DN hưởng một số ưu đãi như: thuế suất, thuế thu nhập doanh
nghiệp, đặc biệt được giảm thuế trong những năm đầu hoạt động. Đồng thời, cần
tạo điều kiện thuận lợi cho các DN tham gia vào thị trường chứng khoán và được


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status