1
LỜI MỞ ĐẦU
An Giang là một tỉnh Tây Nam của Tổ quốc, nằm trong vùng Đồng bằng sông
Cửu Long (ĐBSCL), nằm giữa hai dòng sông Tiền, sông Hậu và dọc theo hữu ngạn
sông Hậu (thuộc hệ thống sông Mêkông) nên có nguồn nước ngọt phong phú và có hệ
thống kênh rạch chằng chịt, với gần sáu tháng của mùa nước nổi hằng năm là điều
kiện thuận lợi cho nghề khai thác và nuôi trồng thủy sản phát triển mạnh.
Vớ
i 73% diện tích là đất phù sa màu mỡ từ hai nhánh sông Tiền và sông Hậu,
diện tích mặt nước ngọt lớn, An Giang có thế mạnh về sản xuất lúa gạo và thủy sản.
Hiện nay sản lượng lúa của An Giang lớn nhất toàn vùng; sản lượng khai thác thủy
sản đứng thứ ba, trong đó sản lượng thủy sản nuôi trồng theo địa phương lớn nhất
toàn quốc (năm 2005 là 232.139 tấn, tăng 9,12% so với năm 2004 - Niên giám Thống
kê 2005).
Thời gian vừa qua, An Giang không chỉ nổi tiếng về xuất khẩu lương thực, mà
còn vươn lên là một trong những tỉnh đứng đầu về xuất khẩu thủy sản của cả nước.
Bằng việc thực hiện tốt mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hai hướng: khai
thác tốt các thế mạnh của địa phương và tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa xuất khẩu,
nếu vào năm 1995 kim ngạch xuất khẩu thủy sản chỉ bằng ¼ giá trị của xuất khẩu
gạo, thì nay đã vượt qua và là ngành đứng đầu thu ngoại tệ về cho tỉnh. Có thể nói An
Giang đã thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế rất đúng hướng và có hiệu quả.
Do biết tận dụng ưu thế về tiềm năng nguồn nước và điều kiệ
n tự nhiên, ngư
dân An Giang đã tích cực đầu tư mọi nguồn lực để nuôi trồng và khai thác thủy sản,
nên thời gian qua phát triển thủy sản đã là một trong nhiều thế mạnh về sản xuất
nông, lâm, ngư nghiệp của tỉnh, trong đó cá tra, cá basa là hai loại thủy sản thích hợp
với môi trường nguồn nước tỉnh An Giang và có giá trị kinh tế cao, nên đã thu hút
ngư dân tập trung đầu tư sản xuấ
t và đã mang lại hiệu quả đáng kể, đã trực tiếp góp
phần rất quan trọng trong việc tạo ra lượng hàng hóa xuất khẩu thu ngoại tệ cao và
ngày càng khẳng định là một trong những ngành hàng phát triển mạnh, có hiệu quả
cám ơn.
3
CHƯƠNG 1
VAI TRÒ CỦA ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN
NGÀNH THỦY SẢN TỈNH AN GIANG
1.1. Tầm quan trọng của ngành thủy sản trong phát triển kinh tế của tỉnh
An Giang:
1.1.1. Trong phát triển kinh tế của tỉnh:
Trước tiên phân tích Vai trò của ngành thủy sản đối với sự phát triển nền
kinh tế Việt Nam:
Việt Nam là một quốc gia thuộc khu vực nhiệt đới gió mùa và là một quốc gia
ven biển có đường bờ biển dài khoảng 3.260 km, với bờ biển và thềm lục địa rộng
lớn hơ
n 1 triệu km
2
, có nhiều cửa sông rạch và hàng ngàn đảo lớn nhỏ ven biển; trong
nội địa có hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt; hệ sinh thái phong phú đa dạng.
Những đặc điểm trên tạo ra cho đất nước ta tiềm năng to lớn về thủy sản và kinh tế
thủy sản có vị trí quan trọng trong việc phát triển nền kinh tế góp phần thắng lợi trong
việc thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hi
ện đại hóa đất nước.
Đối với Việt Nam ngành thủy sản đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển
chung của nền kinh tế và là một trong những ngành mũi nhọn đối với sự phát triển
chung của nền kinh tế quốc dân. Trong những năm qua ngành thủy sản nước ta luôn
giữ tốc độ tăng trưởng cao cả về năng lực sản xuất, sản lượng và giá trị, đã tạo
được
nhiều việc làm góp phần cải thiện, nâng cao đời sống nhân dân và bộ mặt nông thôn,
giải quyết tốt các vấn đề môi trường sinh thái.
đổi mới cơ chế quản lý
kinh tế thì lĩnh vực quản lý ngành thủy sản phải thật sự được quan tâm, nếu không
nói đó là một trong những lĩnh vực phải được đổi mới đầu tiên và quá trình chuyển
đổi cơ chế quản lý kinh tế phải được thực hiện một cách đồng bộ trên cơ sở ổn định
và phát triển kinh tế – xã hội. Thực hiện đường l
ối đổi mới ngành thủy sản nước ta
thời gian qua đã có những bước phát triển mới. Kinh tế thủy sản có vị trí quan trọng
trong nền kinh tế công– nông nghiệp. Việc phát triển ngành thủy sản, tiến tới công
nghiệp hóa, hiện đại hóa là một trong những nội dung cơ bản trong chiến lược phát
triển kinh tế – xã hội của đất nước.
5
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã chỉ rõ “Phát triển toàn diện nông,
lâm, ngư nghiệp, gắn với công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản và đổi mới cơ cấu
kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa”.
Quán triệt những quan điểm của Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần VIII
của Đảng, Bộ Chính trị đã ban hành Ch
ỉ thị số 20 CT/TW ngày 22/09/1997 về “Đẩy
mạnh phát triển kinh tế biển theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa” và ngày
10/11/1998 Bộ Chính trị tiếp tục ra Nghị quyết 06 – NQ/TW về “Một số vấn đề phát
triển nông nghiệp và nông thôn”. Nghị quyết đã đánh giá những thành tựu phát triển
nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới trong 10 năm qua đã góp phần quan trọng
vào sự ổn định phát triển kinh tế – xã hội đất nước, ti
ếp tục khẳng định vị trí quan
trọng của nông nghiệp – nông thôn trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước. Đồng thời, Nghị quyết cũng chỉ ra những mặt tồn tại và yếu kém cần giải quyết
khắc phục, xác định quan điểm, mục tiêu, một số chủ trương và chính sách lớn về đất
đai, lao động để tạo ra lực mới duy trì sự t
ăng trưởng cao và chuyển nông nghiệp
sang giai đoạn phát triển toàn diện, nâng cao phát triển ngành thủy sản trong nền
nông nghiệp toàn diện.
Định hướng phát triển các ngành kinh tế và các vùng trong Chiến lược phát
triển kinh tế – xã hội 2001 – 2010 văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X xác
định: “Phát huy lợi thế về thủy sản, tạo thành một ngành kinh tế mũ
i nhọn, vươn lên
hàng đầu trong khu vực. Phát triển mạnh nuôi, trồng thủy sản nước ngọt, nước lợ và
nước mặn, nhất là nuôi tôm, theo phương thức tiến bộ, hiệu quả và bền vững môi
trường. Tăng cường năng lực và nâng cao hiệu quả khai thác khải sản xa bờ; chuyển
đổi cơ cấu nghề nghiệp, ổn định khai thác gần bờ; nâng cao năng lực bảo quản, chế
biến sản phẩm đáp ứng yêu cầu thị trường quốc tế và trong nước. Mở rộng và nâng
cấp các cơ sở hạ tầng, dịch vụ nghề cá. Giữ gìn môi trường biển và sông nước, bảo
đảm cho sự tái tạo và phát triển nguồn lợi thủy sản”.
Ngày 26/11/2003 Quốc Hội khóa XI đã biểu quyết thông qua Luật Thủy sản tạo
cơ sở pháp lý cho hoạt động thủy s
ản của nước ta trong thời gian tới.
Vai trò của ngành thủy sản đối với kinh tế tỉnh An Giang:
An Giang có hệ thống sông ngòi kênh rạch chằng chịt với nguồn lợi thủy sản
phong phú và đa dạng đã tạo ra điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế thủy
sản. Trong thời gian qua ngành thủy sản An Giang luôn được củng cố và không
7
ngừng phát triển góp phần quan trọng vào việc ổn định và tăng tích lũy cho nền kinh
tế, tạo nguồn nguyên liệu quan trọng cho ngành công nghiệp chế biến, tăng kim
ngạch xuất khẩu, tạo công ăn việc làm cho người lao động, từng bước hình thành
những cụm kinh tế chuyên ngành tạo điều kiện cho sản xuất kinh doanh có hiệu quả,
là động lực để thúc đẩy ngành công – nông – thương nghiệp và dịch vụ phát tri
ển,
góp phần không nhỏ cho việc xây dựng kết cấu hạ tầng, đầu tư đưa công nghệ hiện
đại phục vụ sản xuất. Tạo tiền đề để thúc đẩy quá trình xã hội hóa sản xuất, mở rộng
phân công lao động về ngành nghề để sản xuất hàng hóa phát triển, làm nhân tố kích
thích phát triển giữa các ngành các vùng nhất là gắn công nghiệp với nông - lâm -
kinh tế thủy sả
n đã góp phần vào sự phát triển chung của nền kinh tế nước ta, giữ
vững được định hướng xã hội chủ nghĩa trong việc vận dụng cơ chế thị trường, thúc
đẩy nhanh quá trình xã hội hóa sản xuất và phân công lao động xã hội, tạo ra nguồn
lực vật chất lớn để phát triển kết cấu hạ tầng, đầu tư hiện đại hóa sản xuất, sự phát
triể
n đồng bộ giữa các ngành – vùng nhất là nông thôn và thành thị, gắn sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa với quá trình phát triển lâm – ngư – thương nghiệp và
dịch vụ.
1.1.2. Trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp:
Phát triển kinh tế với tốc độ nhanh, bền vững có cơ cấu hợp lý, trên cơ sở phát
huy nội lực và khai thác chiều sâu các tiềm năng lợi thế về sản xuất lương th
ực và
thủy sản.
Đến năm 2010, ngành nông, lâm, thủy sản của An Giang vẫn là nền tảng, là cơ
sở để phát triển công nghiệp và dịch vụ, tạo ra nhiều việc làm cho người lao động. Cụ
thể hơn là ngành nông, lâm, thủy sản được phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa
gắn chặt với ngành công nghiệp chế biến và các hoạt động thương mại, đặc biệt là
xuất khẩu, nhằ
m tạo đà phát triển mạnh mẽ cho kinh tế nông thôn nói riêng và cả tỉnh
An Giang nói chung.
Quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn phải phát huy
cao lợi thế của từng vùng và từng khu vực nhưng phải phù hợp với điều kiện thị
trường, tập trung vào các loại cây trồng vật nuôi, hàng hóa có thị trường tiêu thụ, có
khả năng cạnh tranh, tạo điều kiện làm ra sản phẩm có chất lượ
ng cao phù hợp với
yêu cầu thị trường, tiêu thụ đạt giá trị cao.
Quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn do nông dân và
các thành phần kinh tế thực hiện. Nhà nước hướng dẫn và tạo điều kiện hỗ trợ thông
9
hàng năm trong thời kỳ 2004-2010: 5,4%, trong đó: nông nghiệp 4,31%, lâm nghiệp
3,96% và thủy sản 9,9%. Trong đó, phát triển thủy sản trên quan điểm kết hợp hợp lý
giữa khai thác, nuôi trồng, chế biến và tiêu thụ tạo ra khối lượng hàng hóa lớn, đưa
ngành thủy sản thành ngành mũi nhọn của tỉnh; đặc biệt quan tâm
đến chất lượng cá
10
nuôi. Quy hoạch vùng nuôi cá hợp lý trên cơ sở bảo vệ môi trường nguồn nước; phát
triển nhanh, vững chắc việc nuôi tôm càng xanh ở chân ruộng, bãi bồi ven sông và
kênh rạch. Gia tăng mức đóng góp giá trị GDP của ngành thủy sản năm 2010 vào
GDP của ngành nông nghiệp là 20,4% và của toàn tỉnh là 4,7%, kim ngạch xuất khẩu
là 350 triệu USD.
Quá trình đổi mới của đất nước, sự phát triển kinh tế của An Giang, trong đó có
kinh tế thủy sản đã góp ph
ần vào sự phát triển chung của nền kinh tế nước ta, giữ
vững được định hướng xã hội chủ nghĩa trong việc vận dụng cơ chế thị trường, thúc
đẩy nhanh quá trình xã hội hóa sản xuất và phân công lao động xã hội, tạo ra nguồn
lực vật chất lớn để phát triển kết cấu hạ tầng, đầu tư hiện đại hóa sản xuất, sự phát
triển đồng b
ộ giữa các ngành - vùng nhất là nông thôn và thành thị, gắn sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa với quá trình phát triển lâm - ngư - thương nghiệp và
dịch vụ.
1.1.3. Trong tích lũy và đóng góp vào nguồn thu ngân sách Nhà nước:
Tỷ trọng chi phí sản xuất xuất thủy sản từ năm 1995 – 2004 ngày càng tăng
mạnh, tăng chủ yếu là ngành nuôi thủy sản (chủ yếu cá xuất khẩu), ngành chế biến,
bên cạnh đó còn phát triển dịch v
ụ phục vụ cho nuôi thủy sản (dịch vụ thức ăn thủy
sản, thuốc thú y thủy sản), chế biến (dịch vụ vận chuyển cá thương phẩm, phụ phẩm).
Sự phát triển của ngành thủy sản đã thu hút số lượng lớn lực lượng lao động của
tỉnh, trong tương lai có thể ngành thủy sản sẽ phát triển thành quy mô công nghiệp.
”Sản lượng cá ngày càng tăng, nă
các cơ sở sản xuất giống phải đầu tư mua cá thể bố mẹ dùng để nuôi thuộc trại gốc,
tốt, chất lượng phù hợp tiêu chuẩn chất lượng giống. Có đội ngũ nhân viên có trình
độ từ trung cấp nuôi thủy sản trở
lên. Phải sản xuất đúng phạm vi, chuẩn loại sản xuất
phải làm thủ tục lên cơ quan quản lý xem xét, phê duyệt. Việc sản xuất giống thủy
sản phải tuân thủ quy trình thao tác kỹ thuật sản xuất do Bộ thủy sản quy định, bảo
đảm chất lượng giống.
Về đầu tư cho công nghệ nuôi trồng, phải lập các thiết kế mẫu, hướng dẩn ngư
dân kỹ thuật, xây dựng vùng nuôi đúng tiêu chuẩn, phù hợp với điều kiện tự nhiên
của từng khu vực, tránh gây ô nhiểm nguồn nước, vì vậy cần đầu tư để nuôi cá sạch,
đảm bảo nguồn nước sinh hoạt cho người dân sống trong vùng lân cận. Hiện nay ở
An Giang đang phát triển mô hình trang trại nuôi cá, vì thế cần đầu vốn cho việc nuôi
cá đảm bảo chất lượng, không chứa chất kháng sinh.
12
Vốn cho phát triển thủy sản là rất lớn (nuôi thủy sản, chế biến thủy sản, dịch
vụ…), hiện nguồn vốn cho nhu cầu phát triển thủy sản là nguồn vốn tín dụng (thế
chấp, bè, đất, nhà …), cần khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát
triển thủy sản (nuôi, chế biến thủy sản) nhằm thu hút nguồn vốn cho ngành.
Vấn đề quan trọng hiện nay là chiến l
ược đào tạo con người để phục vụ cho quá
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Vốn cho đào tạo công nhân cũng là một
vấn đề nan giải. Vì hầu hết lao động việt Nam còn mang tính lao động giản đơn, chưa
được đào tạo nhất là trong lĩnh vực chăn nuôi cá sạch và chế biến sản phẩm từ cá cho
đa dạng và phong phú hơn. Do vậy, cần thiết phải đầu tư
chi phí cho đào tạo để đáp
ứng chất lượng sản phẩm có khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới. Việc đào
tạo con người để có một nghề nghiệp vững chắc là một chiến lược chung của cả
nước, cũng như của một ngành sản xuất. Nếu công việc đào tạo không được quan tâm
đầu tư đúng mức sẽ làm cho hiệu qu
- Nguồn tài chính từ các quỹ tín dụng, các ngân hàng thương mại của Việt Nam,
các ngân hàng liên doanh, các ngân hàng vốn 100% của nước ngoài ở Việt Nam tạo
ra các nguồn vốn vay tín dụng trong và ngoài nước.
- Nguồn tài chính từ các liên doanh, liên kết trong sản xuất kinh doanh.
- Nguồn tài chính từ đầu tư trực tiếp của mọi thành phần kinh tế trong nước
tham gia vào việc phát triển ngành Thủy s
ản tỉnh An giang. Nhà nước khuyến khích
mọi người dân đầu tư trực tiếp vào sản xuất kinh doanh mặt hàng thủy sản. Thành lập
các công ty cổ phần, phát hành cổ phiếu (Công ty Xuất nhập khẩu thủy sản An Giang
là ví dụ điển hình). Khi thành lập, mời gọi thêm vốn đầu tư, đa dạng hoá các hình
thức góp vốn trên thị trường. Đây nguồn vốn quan trọng nhất để phát triển.
Nguồn tài chính t
ừ vốn nước ngoài bao gồm đầu tư trực tiếp (FDI), đầu tư gián
tiếp, vay nợ (ODA), nhận viện trợ (NGO) cho việc tổ chức sản xuất kinh doanh
ngành thủy sản, đặc biệt sự giúp đỡ của nước ngoài trong việc nâng cao chất lượng
quản lý, sản xuất, xúc tiến thương mại… khuyến khích các doanh nghiệp tự sử dụng
một phần lợi nhuận của mình nhằm gia tă
ng vốn sở hữu của doanh nghiệp. Điều đó
cho phép doanh nghiệp hoặc có thể mua sắm thêm máy móc thiết bị, hoặc cải tiến
công nghệ sản xuất, hoặc tự đảm bảo một phần vốn lưu động,hạ thấp tỷ lệ vốn lưu
động đi vay để chủ động trong sản xuất kinh doanh.
Trong thời gian vừa qua, việc phát triển ngành thủy s
ản An giang là một nổ
lực đáng kể của Đảng, Nhà nước và nhân dân tỉnh An giang.
14
Tổng số hộ nuôi thủy sản trong toàn tỉnh là 13.464 hộ; trong đó nhiều nhất là
nuôi ao, hầm 9.351 hộ chiếm 69,5%, nuôi bè 1.897 hộ chiếm 14,1% và 2216 hộ nuôi
đăng quầng chiếm 16,4%.
1.3. Các nguồn vốn huy động cho đầu tư phát triển ngành thủy sản An
Giang:
2005
4632098 782161 93350 3756587
TĐPTBQ 131.01 127.89 188.89 131.24
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh An Giang từ 2000 đến 2005.
15
Nếu như tốc độ phát triển bình quân vốn đầu tư của toàn tỉnh 31% và các ngành
khác là 31,24% thì ngành thủy sản là 89%. Chứng tỏ sự quan tâm hàng đầu của lãnh
đạo tỉnh An Giang về việc phát triển ngành thủy sản. Vì thực tế đã chứng minh tốc độ
phát triển GDP bình quân ngành thủy sản tỉnh An Giang là 9,2% (gần bằng 10%)
trong thời kỳ từ 1999 đến năm 2005.
Bên cạnh đó, trong giai đoạn từ năm 2000 đến n
ăm 2005 tỉnh cũng đã đầu tư
cho chương trình phát triển thủy sản là 17,236 tỷ đồng được thể ở bảng sau:
Bảng 1.2: Vốn đầu tư chương trình thủy sản từ ngân sách địa phương từ
2000 – 2005
ĐVT:Triệu đồng
Vốn đầu tư
Danh mục công trình
2000 2001 2002 2003 2004 2005
Tổng
cộng
STT
Tổng số 500 3317 3117 1314 2350 6638 17236
1 Trại tôm Bình Thạnh 1814 1717 70 600
4201
2 Trại SX cá giống MHH 88
88
3 Vùng thủy sản Tân Hòa 500 61
Nguồn: Niên giám thống kê An Giang năm 2005
16
1.3.1.2. Nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp.
Kể từ khi mặt hàng cá Basa, cá Tra đông lạnh được thị trường nước ngoài ưa
chuộng vào năm 1998 và các cơ sở ương giống thành công trong việc nhân giống
nhân tạo cá Tra và cá Basa kích thích việc nuôi trồng thủy sản phát triển, từ đó các
doanh nghiệp chế biến thủy sản lần lượt ra đời. Nếu 1997 chỉ mới có 01 doanh nghiệp
thì đến 2006 toàn tỉnh đã có 11 doanh nghiệ
p chế biến thủy sản lạnh với tổng vốn đầu
tư: 592,17 tỷ đồng, công suất 89.800 tấn/năm.
Thực hiện Đề án phát triển cá tra, basa giai đoạn 2000 – 2005, 2010, UBND
tỉnh khuyến khích các thành phần kinh tế trong vùng, trong nước và nước ngoài đầu
tư tham gia chế biến hàng thủy sản xuất khẩu , chuyển giao công nghệ, tạo việc làm
cho hàng ngàn lao động mà chủ yếu là lao động nữ của tỉnh và các vùng lân cận.
Ngu
ồn vốn này được đầu tư từ vốn tự có và vốn vay các ngân hàng thương mại
của các nhà đầu tư trong và ngoài tỉnh.
1.3.1.3. Nguồn vốn đầu tư từ kinh tế tư nhân và dân cư.
Cách đây gần 100 năm, người dân An Giang đã biết nghề nuôi cá hầm, bè, tuy
nhiên chủ yếu nuôi cá tra với diện tích ao nhỏ, qui mô gia đình và để bán chợ. Qui
mô nhỏ mang tính thủ công và nhỏ lẻ. Điều kiện nuôi kém vệ sinh về ngu
ồn thức ăn
cho cá và cả nguồn nước bị ao tù, không tháo nước ra vào hầm, đưa đến chất lượng
thịt không ngon, có màu vàng, và vị bị hôi mùi cỏ và thường tiêu thụ cho dân có thu
nhập thấp (mà người dân hay gọi là cá vồ). Trong thời gian này, nguồn cá sông tự
nhiên rất dồi dào phong phú, có rất nhiều loại cá ngon dễ đánh bắt nên nghề nuôi cá
hầm, bè hầu như không phát triển được.
Mãi cho đến những năm của thập niên 70, tình hình chính trị c
ủa Campuchia
biến động, một số kiều bào đã về nước định cư tại Châu Đốc, Tân Châu, An Phú.
Bả
ng 1.5: Ngân hàng cho vay nuôi trồng thủy sản thời kỳ 2001 – 2005
ĐVT: Triệu đồng
2001 2002 2003 2004 2005
Cho vay 112 204 273 482 835
Thu nợ 102 127 208 391 703
Dư nợ 114 191 256 347 478
Nguồn: Các ngân hàng Thương mại tỉnh An Giang.
18
Song song với việc cho vay chế biến thủy sản thì các ngân hàng cũng hỗ trợ cho
các hộ nuôi thủy sản vay tổng cộng 1.906 tỷ đồng để các hộ này làm vốn lưu động
nuôi cá, qua bảng trên ta nhận thấy kể từ năm 2003 đến 2005 các hộ nuôi cá đã từ
273 tỷ đồng năm 2003 lên 482 tỷ đồng năm 2004 và năm 2005 là 835 tỷ đồng. Tốc
độ phát triển cho vay các hộ nuôi cá của các ngân hàng thương mại là 65,2%.
1.3.1.5. Nguồn v
ốn cổ phần của các công ty cổ phần.
Toàn tỉnh, chỉ mới có 01 công ty hoạt động lãnh vực thủy sản được cổ phần hoá.
Đó là công Cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản An Giang (AGIFISH Co)
Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản An Giang được thành lập từ việc cổ
phần hoá doanh nghiệp Nhà nước là công ty xuất nhập khẩu thủy sản An Giang theo
quyết định số 792/QĐ
-TTg của thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 28/6/2001, được
tổ chức và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp do quốc hội Nước Cộng Hòa Xã hội
Chủ Nghĩa Việt Nam thông qua ngày 12/6/1999.
Ngày 01/9/2001, Công ty chính thức hoạt động theo hình thức công ty cổ phần
và công ty được cấp phép niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam
ngày 8/3/2002. Ngày 2/5/2002 cổ phiếu của công ty được chính thức niêm yết trên thị
trường Chứng khoán Việt Nam.
Từ ngày 01/9/2002 công ty đã
đưa 38 mặt hàng giá trị gia tăng được chế biến từ
phát triển. Song, điều quan trọng đặt ra cho các nước tiếp nhận là phải khai thác triệt
để các lợi thế
có được của nguồn vốn này nhằm đạt được tổng thể cao về kinh tế. Vì
FDI cũng có những mặt trái của nó. Vốn FDI về thực chất cũng là một khoản nợ;
trước sau nó vẫn không phải là nguồn chi phối của nước sở tại. Ngày hôm nay, nhà
đầu tư nước ngoài đưa vốn vào và hết hạn họ lại rút ra, giống như các khoản nợ, có
vay có trả. Vả lại, trong các khoả
n vay nợ, thông thường mức lãi suất do hai bên thoả
thuận trước, còn trong đầu tư trực tiếp, chủ đầu tư bao giờ cũng mưu cầu lợi nhuận
tối đa. Hơn nữa, đối với các khoản nợ, người đi vay có toàn quyền sử dụng vốn vay,
người cho vay không có quyền can thiệp, miễn là người đi vay thực hiện đúng nghĩa
vụ trả tiền vay và lãi; còn trong FDI, chủ
đầu tư vẫn toàn quyền sử dụng vốn, nếu là
hình thức 100% vốn nước ngoài, còn nếu là hình thức liên doanh thì quyền đó cũng bị
chia sẽ dựa theo tỷ lệ góp vốn. đó là chưa kể đến việc các nước nhận đầu tư còn phải
gánh chịu nhiều thiệt thòi do phải áp dụng một số ưu đãi cho các nhà đầu tư hay bị
các nhà đầu tư nước ngoài tính giá cao hơn mặ
t bằng quốc tế cho các nhân tố đầu
vào, cũng như bị chuyển giao những công nghệ và kỹ thuật lạc hậu.
20
Tại An Giang, từ năm 1988 đến năm 2005 chỉ thu hút được 27,416 triệu USD
tập trung vào ngành công nghiệp, và ngành du lịch, không có đầu tư vào lãnh vực
thủy sản.
1.3.2.2. Nguồn tài trợ phát triển chính thức (ODA).
Đây là nguồn vốn thuộc chương trình hợp tác phát triển do chính phủ các nước
ngoài hỗ trợ trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các tổ chức liên chính phủ và các tổ
chức phi chính phủ cho một nước tiếp nhận. Nguồn vốn ODA bao gồ
m viện trợ
không hoàn lại, các khoản cho vay với những điều kiện ưu đãi về lãi suất, khối lượng
vốn vay và thời hạn thanh toán, nhằm vào hỗ trợ cán cân thanh toán, hỗ trợ các
thủy sản tỉnh An giang:
* Điều kiện tự nhiên:
- Vị trí địa lý, địa hình:
An Giang là một tỉnh Tây Nam của Tổ quốc, nằm trong vùng Đồng bằng sông
Cửu Long (ĐBSCL), nằm giữa hai dòng sông Tiền, sông Hậu và dọc theo hữu ngạn
sông Hậu (thuộc hệ thống sông Mêkông). Phía
Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Tháp, phía
Tây Bắc giáp Campuchia với đường biên giới dài gần 100km, phía Tây Nam giáp
tỉnh Kiên Giang và phía Đông Nam giáp thành phố Cần Thơ. Diện tích toàn tỉnh là
3.406 km
2
bằng 1,05% diện tích toàn quốc và bằng 8,71% diện tích toàn vùng
ĐBSCL (đứng thứ 4 trong vùng). Hiện có 11 đơn vị hành chính trực thuộc với 150
đơn vị xã, phường, thị trấn. Đường giao thông thủy, bộ khá thuận tiện.
Hệ thống sông Cửu Long chảy qua địa phận tỉnh An Giang suốt từ Bắc xuống
Nam có vai trò quyết định đến đặc trưng về địa hình của tỉnh. Sông Cửu Long với
nguồn nước phong phú chả
y vào đồng bằng châu thổ qua hai tuyến: sông Tiền và
sông Hậu. Hai nhánh sông Cửu Long chảy qua địa phận tỉnh cùng với hai nhánh sông
Châu Đốc và Vàm Nao và hệ thống kênh rạch chằng chịt với tổng chiều dài 5.170 km
là điều kiện thuận lợi cho nghề khai thác, nuôi trồng thủy sản phát triển mạnh trên địa
bàn tỉnh An Giang.
Địa phận tỉnh An Giang phân thành ba vùng với những đặc trưng rõ rệt bao
gồm: vùng cù lao, vùng đồng bằng thuộc tứ giác Long Xuyên chủ
yếu do phù sa sông
Tiền và sông Hậu tạo nên, vùng đồi núi thấp.
22
Nhìn chung, địa hình An Giang không phức tạp và khá thuận lợi cho phát triển
nông, lâm, ngư nghiệp cũng như các ngành kinh tế khác. Toàn vùng nhận được nước
ngọt quanh năm từ hệ thống sông Cửu Long chảy vào hệ thống kênh rạch chằng chịt
phong phú chủng loại.
23
Vào thời điểm gió mùa Đông Bắc (từ tháng 12 đến tháng 04 ) thì mưa lũ chấm
dứt, dòng sông chính hạ mực nước, chảy chậm lại, nước trong dần. Cá trắng rời bỏ
đồng lụt tuột xuống dòng chính và di chuyển ngược về biển hồ. Cá đen gom về các
trũng nội địa.
Nắm được qui luật gió mùa và sự di trú của cá, người dân An Giang đã tổ chức
nhiều hình thức đánh b
ắt thủy sản; vì vậy ngành thủy sản trong tỉnh đã phát triển từ
rất sớm và ngày càng có điều kiện thuận lợi để phát triển.
-Thủy văn – nguồn nước:
An Giang là tỉnh đầu tiên sử dụng nguồn nước ngọt của hệ thống sông Cửu
Long từ Campuchia chảy qua theo sông Tiền và sông Hậu.
Chế độ thủy văn An Giang phụ thuộc chặt chẽ vào chế độ n
ước sông Cửu Long
và chịu ảnh hưởng của bốn yếu tố chính là chế độ thủy triều, chế độ dòng chảy sông
Cửu Long, chế độ mưa nội đồng và đặc điểm về địa hình, hình thái sông rạch. An
Giang có chế độ bán nhật triều, với hai lần triều lên và hai lần triều xuống trong ngày.
Hàng năm vào mùa lũ, dòng nước từ thượng nguồn đổ về làm ngập lụt gầ
n 70%
diện tích tự nhiên toàn tỉnh, với độ ngập phổ biến từ 1 – 2,5 m đã gây ảnh hưởng
không nhỏ đến hoạt động kinh tế - xã hội trên địa bàn. Mùa lũ nước từ thượng nguồn
chảy xuống xuôi theo một chiều (bắt đầu từ tháng 06 và kết thúc vào tháng 11). Mùa
kiệt, toàn bộ hệ thống sông ngòi, kênh mương chảy theo hai chiều. Trong đó, mùa lũ
chiếm 70 – 80% tổng lưu lượng dòng chảy trong năm. Dòng chả
y mùa lũ đem nước
từ Biển Hồ tuôn ra dòng Tonlésap, lùa bầy cá non về hạ lưu thuộc lãnh thổ nước ta,
qua hai ngã sông Tiền và sông Hậu. Đây là cơ sở để làng quê An Giang hình thành
nên nghề khai thác và ương nuôi cá từ bao đời nay. Dòng chảy đem nguồn phiêu
sinh, nguồn dưỡng khí dồi dào làm tăng sinh khối thủy vực, đồng thời làm tăng
các huyện nằm trong tứ giác Long Xuyên có mật độ dân số thưa thớt hơn, trong đó
thấp nhất là huyện Tri Tôn. Dân cư trên địa bàn An Giang gồm bốn dân tộc: Kinh,
Hoa, Khơme, Chăm. Trong đó, dân tộc Kinh là đông nhất chiế
m khoảng 91% dân số
toàn tỉnh. Tháng 12/1998 An Giang đã đạt chuẩn quốc gia về xóa mù chữ và phổ cập
tiểu học và đang tiến tới phổ cập trung học cơ sở.
Số người trong độ tuổi lao động ngày càng tăng, nếu như năm 1995 tỷ lệ số
người trong độ tuổi lao động so tổng dân số là 56,0% thì đến năm 2005 con số này là
61,5% (hơn 1.350 ngàn người), đã vượt ngưỡng “dân số
vàng” (50%), đây là tiềm
năng rất lớn để phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh. Tuy nhiên, phần lớn lao động tập
trung ở khu vực nông thôn, trình độ thấp. Lực lượng lao động chủ yếu vẫn tập trung
vào trong ngành nông, lâm, thủy sản với khoảng 73%, còn lại ở ngành công nghiệp -
25
xây dựng (hơn 7,6%) và ngành dịch vụ (khoảng 19,4%). Lao động trong ngành thủy
sản khoảng trên 80 ngàn người bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau như tham gia khai
thác thủy sản trong nội địa, nuôi trồng thủy sản, chế biến thủy sản, lao động làm nước
mắm cho các doanh nghiệp, lao động sản xuất bột cá cho doanh nghiệp, nhân dân
tham gia các hoạt động dịch vụ khác như bán thưốc thú y thủy sản, bán thức ăn, lao
động ở các vựa cá…
An Giang cũng là một trong những tỉnh có hệ thống đường giao thông nông
thôn khá phát triển phục vụ cho hoạt động đi lại. Bên cạnh đó, hệ thống sông rạch
chằng chịt từ bao đời nay được người dân An Giang sử dụng trở thành mạng lưới
giao thông đường thủy rộng khắp có thể đi đến mọi miền quê hẻo lánh trong đó có
những nơi hệ thống giao thông đường bộ không thể
đến được và đi qua các tỉnh khác
và một số nước bạn trong khu vực dễ dàng là điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế
– xã hội của tỉnh trong đó có hoạt động thủy sản.
* Một số đặc điểm xã hội cơ bản trong thời kỳ đầu phát triển ngành thủy sản:
Vào những năm đầu của thập niên 70 của thế kỷ XX, nghề