giải pháp tài chính phát triển nhà ở cho người thu nhập thấp ở việt nam - Pdf 18

MỤC LỤC
Danh mục các ký hiệu……………………………… ………………………i
Danh mục bảng………………………………… … …………………… ii
MỤC LỤC 1
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài: 1
2. Tình hình nghiên cứu 3
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu: 5
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu: 6
5. Phương pháp nghiên cứu 6
7. Kết cấu luận văn: 7
CHƯƠNG 1 8
1.1.1.3 Khái niệm về nhà ở cho người thu nhập thấp 10
1.1.2. Đặc điểm nhà ở cho người thu nhập thấp 11
1.2 Giải pháp tài chính phát triển nhà ở cho người thu nhập thấp 13
1.2.1 Khái quát về giải pháp tài chính 13
1.2.2 Các giải pháp tài chính phát triển nhà ở cho người thu nhập thấp 14
1.2.2.1 Chính sách tín dụng 15
1.2.2.2 Chính sách thuế 15
1.2.2.3 Chính sách giá 18
1.3.2.2 Kinh nghiệm của Thái Lan 26
1.3.3 Bài học cho Việt Nam 27
CHƯƠNG 2 28
2.1. Quá trình phát triển nhà ở cho người thu nhập thấp tại Việt Nam 28
2.1.1 Khái quát tình hình phát triển nhà ở đô thị và nhà ở cho người thu nhập
thấp ở Việt Nam qua các giai đoạn 28
2.1.1.2 Quá trình hình thành và phát triển nhà ở cho người có thu nhập thấp 31
2.1.2 Hoạt động đầu tư và xây dựng nhà ở cho người có thu nhập thấp của các
doanh nghiệp bất động sản 32
2.1.3 Thực trạng nhà ở cho người TNT ở Việt Nam hiện nay 34
2.1.3.1 Quỹ đất xây dựng 34

1 BĐS Bất động sản
2 CBCNV Cán bộ công nhân viên
3 HDB Ủy ban phát triển nhà ở (Singapore)
4 HOF Quỹ phát triển nhà ở thành phố Hồ Chí Minh
5 HUD Tập đoàn phát triển nhà và đô thị Việt Nam
6 KT-XH Kinh tế- xã hội
7 NHNN Ngân hàng nhà nước
8 NHTM Ngân hàng thương mại
9 NSNN Ngân sách Nhà nước
10 SXKD Sản xuất kinh doanh
11 TCTD Tổ chức tín dụng
12 TNT Thu nhập thấp
13 TP Thành phố
14 UBND Ủy ban nhân dân
15 UCDO Cơ quan Cộng đồng nhà ở (Thái Lan)
16 VDB Ngân hàng phát triển Việt Nam
17 WB Ngân hàng thế giới
DANH MỤC BẢNG
STT Số hiệu Nội dung Trang
1 2.1
Nhà ở chia theo năm xây dựng và khu
vực, 01/042009
31
2 2.2
Tỷ lệ tăng dân số bình quân tại các đô thị
lớn Việt Nam
35
3 2.3
Tổng hợp thông tin một số dự án nhà cho
39

gia tăng. Giai đoạn từ năm 1993 đến 2003, Nhà nước bỏ hẳn việc xây dựng
nhà ở, mà để cho dân tự xây. Việc này có lợi là huy động được nguồn lực
trong nhân dân để phát triển quỹ nhà ở đô thị, tuy nhiên do tự phát nên cũng
làm cho bộ mặt đô thị trở nên thiếu trật tự và quy hoạch. Giai đoạn từ năm
2003 đến nay, nhà ở được phát triển theo dự án. Việc xây dựng nhà ở theo dự
án do có hạ tầng được xây dựng đồng bộ nên đã có trật tự hơn, bộ mặt đô thị
cũng sáng sủa, văn minh và hiện đại hơn. Tuy nhiên, do việc phát triển nhà ở
theo dự án, các chủ đầu tư phải đền bù đất đai theo cơ chế thị trường, phải
thuê đất rồi tính toán lợi nhuận… đã làm cho giá nhà tăng quá cao, rất nhiều
người dân sống ở đô thị trong diện chính sách, người nghèo, người có thu
nhập thấp….không có điều kiện để tiếp cận được loại hình này. Nhà cho
người thu nhập thấp xuất hiện từ tháng 4/2009, sau Quyết định số 67 của Thủ
tướng Chính phủ, đã giúp cho một số người có thu nhập thấp tại đô thị có điều
kiện cải thiện chỗ ở.
Những người thu nhập thấp ở đô thị đang phải đương đầu với vấn đề
thiếu nhà ở hoặc ở trong những khu tồi tàn, chật chội với hệ thống hạ tầng quá
1
tải do không đủ điều kiện kinh tế để tự cải thiện chỗ ở của mình. Nhà ở cho
người thu nhập thấp đã trở thành một trong những vấn đề mang tính thời sự
đang được sự quan tâm rất lớn của Đảng và Nhà nước.
Nhà thu nhập thấp là một chính sách an sinh lớn của Nhà nước dành
cho các đối tượng chính sách, cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ
trang hưởng lương từ ngân sách nhà nước và người có thu nhập thấp tại khu
vực đô thị. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện các dự án nhà ở thu nhập thấp
nảy sinh một số khó khăn, vướng mắc. Trước hết về vốn. Hầu hết các dự án
đều đang “chờ” vốn vay ưu đãi, mặc dù theo quyết định 67/2009/QĐ-TTg
ngày 24/04/2009 của Thủ tướng Chính phủ thì chủ đầu tư được áp thuế giá trị
gia tăng bằng 0%, được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp, hỗ trợ tín dụng đầu
tư từ ngân hàng đầu tư. Nói riêng thành phố Hà Nội thì cho đến nay mới chỉ
có duy nhất dự án nhà thu nhập thấp tại Đặng Xá, Gia Lâm được vay của

của hệ thống tài chính nhà ở và chính sách tài chính nhà ở, phân tích thực
trạng và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện các chính sách tạo lập vốn, phân
phối vốn, thế chấp và thu hồi vốn thông qua phát mại tài sản thế chấp nhằm
tạo điều kiện cho các đối tượng có nhu cầu vay vốn để sở hữu và cải tạo nhà
ở, hỗ trợ nguồn vốn để phát triển nhà ở cho dân cư. [18]
Đề tài nghiên cứu khoa học của nhóm tác giả Viện Nghiên cứu Kiến
trúc- Bộ Xây dựng: “Các giải pháp đồng bộ phát triển nhà ở người thu nhập
thấp tại các đô thị Việt Nam”; Ở đề tài này, nhóm tác giả chủ yếu đi sâu vào
khía cạnh kỹ thuật, nghiên cứu thực trạng về kiến trúc và công nghệ xây dựng
từ đó đề xuất các giải pháp thiết kế, kiến trúc, công nghệ xây dựng, vật liệu
3
xây dựng giải quyết vấn đề nhà ở cho người thu nhập thấp phù hợp với điều
kiện kinh tế xã hội hiện tại. [21]
Với mục đích đưa ra một số giải pháp hoàn thiện chính sách thu hút
đầu tư vào thị trường bất động sản, tác giả Lê Xuân Bá (chủ biên) thuộc Viện
nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương với sự tài trợ của Chính phủ Việt
Nam và Chính phủ Australia xuất bản cuốn sách “Chính sách thu hút đầu tư
vào thị trường bất động sản Việt Nam” (2006). Nội dung cuốn sách đề cập
đến một số vấn đề lý luận về thu hút đầu tư vào thị trường bất động sản, kinh
nghiệm của Australia và New Zealand về chính sách đầu tư vào thị trường bất
động sản; hoạt động đầu tư vào bất động sản của một số tỉnh, thành phố Việt
Nam. Đồng thời, cuốn sách cũng nêu lên thực trạng của chính sách đất đai,
xây dựng, tín dụng, Ngân hàng và tài chính, những ưu điểm và tồn tại nhằm
tạo điều kiện thu hút đầu tư vào thị trường bất động sản.[1]
Cuốn sách “Nhà ở cho người có thu nhập thấp ở các đô thị lớn hiện
nay- Kinh nghiệm Hà Nội” do TS Hoàng Xuân Nghĩa và PGS, TS Nguyễn
Khắc Thanh đồng chủ biên xuất bản năm 2009, tác giả đã nêu ra tính cấp thiết
của nhà ở cho người TNT, phân tích thực trạng nhà ở cho người TNT trên địa
bàn thành phố Hà Nội, từ đó đề xuất một số giải pháp giải quyết nhà ở cho
người TNT. Trong phần giải pháp, tác giả tập trung vào các giải pháp quản lý

Để thực hiện mục đích trên, đề tài thực hiện một số nhiệm vụ cụ thể
sau:
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về giải pháp tài chính phát triển
nhà ở cho người thu nhập thấp.
5
- Phân tích thực trạng sử dụng giải pháp tài chính phát triển nhà ở cho người
thu nhập thấp ở Việt Nam.
- Đề xuất một số kiến nghị nâng cao hiệu quả sử dụng giải pháp tài chính để
phát triển nhà ở cho người thu nhập thấp ở Việt Nam.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
* Đối tượng:
Các giải pháp tài chính, các chính sách ưu đãi về tài chính của Nhà nước đối
với chủ đầu tư, người thụ hưởng nhà ở cho người thu nhập thấp.
* Phạm vi nghiên cứu:
- Thực trạng và các chính sách tài chính nhà thu nhập thấp của Việt Nam từ
năm 2009 đến nay
- Tham khảo chính sách tài chính đối với nhà ở cho người thu nhập thấp của
một số nước trong khu vực.
Luận văn được thực hiện tại địa bàn thành phố Hà Nội, đối tượng
nghiên cứu là người TNT và các dự án nhà ở cho người TNT trên địa bàn
thành phố. Do những hạn chế về thời gian, không gian… nên nghiên cứu chỉ
được thực hiện tại Hà Nội. Tuy nhiên, Hà Nội là đô thị đông dân cư thứ hai
trong cả nước (chỉ sau thành phố Hồ Chí Minh), nơi có tỉ lệ tăng dân số tự
nhiên, cơ học hàng năm ở mức cao, nhu cầu về nhà ở cho các đối tượng là
người TNT rất lớn, vì vậy có thể coi Hà Nội là thị trường chính chiếm phần
lớn tổng nhu cầu của cả nước về nhà ở cho người TNT, do đó luận văn lấy Hà
Nội làm nghiên cứu điển hình.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để phù hợp với nội dung, yêu cầu và mục đích nghiên cứu, đề tài sử
dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học, bao gồm:

7
Chương 1: Giải pháp tài chính phát triển nhà ở cho người thu nhập thấp- Cơ
sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Thực trạng sử dụng giải pháp tài chính phát triển nhà ở cho người
thu nhập thấp ở Việt Nam thời gian qua
Chương 3: Định hướng và kiến nghị phát huy chính sách tài chính phát triển
nhà ở cho người thu nhập thấp Việt Nam đến năm 2020
CHƯƠNG 1
GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH PHÁT TRIỂN NHÀ Ở CHO NGƯỜI THU
NHẬP THẤP- CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
8
1.1. Tổng quan về nhà ở cho người thu nhập thấp
1.1.1. Các khái niệm liên quan đến nhà ở cho người thu nhập thấp
1.1.1.1 Khái niệm nhà ở
Theo điều 1 luật nhà ở Việt Nam 2005, nhà ở được hiểu là công trình
xây dựng với mục đích để ở và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt của hộ gia đình,
cá nhân. Nhà ở không những là tài sản có tầm quan trọng đối với mỗi cá nhân,
gia đình, mà còn là một trong những tiêu chuẩn làm thước đo phản ánh trình
độ và tiềm năng phát triển kinh tế- xã hội của mỗi nước, mức sống dân cư của
mỗi dân tộc.
Nhu cầu nhà ở là một trong những nhu cầu hàng đầu của con người,
không chỉ là quyền cơ bản của con người mà còn là điều kiện cần thiết để
phát triển kinh tế xã hội. Ngày nay, khi cuộc sống của người dân ngày càng
đầy đủ thì nhu cầu về nhà ở ngày càng được nâng cao. Đặc biệt tại các đô thị
lớn, dân số tăng cao từng năm dẫn đến nhu cầu nhà ở ngày càng trở nên cấp
thiết.
1.1.1.2 Khái niệm người có thu nhập thấp
Việc xác định người có thu nhập thấp ở đô thị sẽ đóng góp quan trọng
cho chiến lược phát triển nhà ở nhằm xóa bỏ bất bình đẳng trong lĩnh vực này
tại các vùng đô thị. Quan niệm về thu nhập thấp được xác định phụ thuộc vào

Theo nghĩa rộng: Nhà ở TNT là nhà ở được xây dựng trên quỹ nhà ở xã
hội của một quốc gia, địa phương dành cho đa số dân cư và người lao động có
mức TNT dưới mức trung bình của xã hội.
Nhà ở cho người TNT gồm 3 loại: nhà để bán, nhà để cho thuê và cho
thuê mua.
- Nhà TNT để bán: Là việc người mua nhà thanh toán một khoản tiền
nhất định theo thỏa thuận trong hợp đồng mua nhà (có thể là thanh toán một
lần hoặc trả góp thành nhiều kỳ)
10
- Nhà TNT cho thuê mua: Là việc người thuê mua nhà ở thanh toán
trước một khoản tiền nhất định theo thỏa thuận trong hợp đồng, số tiền còn lại
người thuê mua phải trả hàng tháng hoặc trả theo định kỳ. Sau khi người thuê
mua đã trả hết tiền theo hợp đồng thì được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu đối với căn hộ đó.
- Nhà TNT cho thuê: Là việc người thuê nhà thanh toán một khoản tiền
nhất định theo thỏa thuận trong hợp đồng thuê nhà.
1.1.2. Đặc điểm nhà ở cho người thu nhập thấp
Nhà ở cho người TNT được xây dựng cho một nhóm đối tượng
riêng trong xã hội, bao gồm: Cán bộ, công chức, viên chức hưởng lương từ
ngân sách Nhà nước thuộc các cơ quan Đảng, Nhà nước, mặt trận Tổ quốc và
các tổ chức chính trị- xã hội, xã hội- nghề nghiệp; viên chức thuộc các đơn vị
sự nghiệp công lập, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp thuộc lực lượng vũ
trang; Người lao động thuộc các đơn vị sự nghiệp ngoài công lập, doanh
nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, hợp tác xã thành lập và hoạt động theo
quy định của pháp luật (kể cả trường hợp đã được nghỉ theo chế độ quy định);
người lao động tự do, kinh doanh cá thể đảm bảo có thu nhập để thanh toán
tiền mua, thuê, thuê mua nhà ở theo quy định. [19]. Đối tượng mua, thuê, thuê
mua nhà TNT phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện:
- Chưa có nhà ở; Là người có nhà ở thuộc sở hữu của mình nhưng diện
tích quá chật chội, đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng

2
; chỉ tiêu xây dựng hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội
theo Quy chuẩn xây dựng hiện hành. Các dự án nhà ở thu nhập thấp được
điều chỉnh tăng mật độ xây dựng và hệ số sử dụng đất lên 1,5 lần so với Quy
chuẩn quy hoạch xây dựng hiện hành, không khống chế số tầng, phù hợp với
quy hoạch xây dựng do cơ quan có thẩm quyền phê duyệt;
12
- Giá bán nhà ở thu nhập thấp do chủ đầu tư dự án xây dựng theo
nguyên tắc tính đủ chi phí để thu hồi vốn đầu tư xây dựng, kể cả lãi vay (nếu
có) và lợi nhuận định mức tối đa là 10% chi phí đầu tư; không tính các khoản
ưu đãi của Nhà nước vào giá bán nhà ở.
- Giá cho thuê, thuê mua nhà ở thu nhập thấp do chủ đầu tư dự án xây
dựng theo nguyên tắc tính đủ chi phí để thu hồi vốn đầu tư xây dựng, kể cả lãi
vay (nếu có), chi phí quản lý, vận hành và lợi nhuận định mức tối đa là 10%
chi phí đầu tư; không tính các khoản ưu đãi của Nhà nước vào giá thuê, thuê
mua nhà ở; thời hạn thu hồi vốn tối thiểu là 20 năm.
- Trường hợp mua trả góp và thuê mua nhà ở thu nhập thấp thì người
mua, thuê mua nhà ở nộp tiền lần đầu không quá 20% giá nhà ở, trừ trường
hợp người mua, thuê mua có thỏa thuận khác với bên bán. Thời hạn trả góp,
thuê mua do bên bán, bên mua, thuê mua tự thỏa thuận, nhưng tối thiểu là 10
năm.[17]
1.2 Giải pháp tài chính phát triển nhà ở cho người thu nhập thấp
1.2.1 Khái quát về giải pháp tài chính
- Giải pháp tài chính được hiểu là tổng thể các cách thức, các công cụ
liên quan đến lĩnh vực tài chính được vận dụng để giải quyết vấn đề đặt ra
trong những điều kiện cụ thể nhằm đạt được mục tiêu nhất định.
- Giải pháp tài chính phát triển nhà ở cho người TNT được hiểu là tổng
thể các cách thức, công cụ liên quan đến lĩnh vực tài chính được vận dụng
nhằm mục đích phát triển nhà ở cho người TNT.
Để quản lý hoạt động của thị trường BĐS nói chung và thị trường nhà ở

chính sách về thuế, chính sách tín dụng, chính sách giá và chính sách hình
thành và phát triển các quỹ phát triển nhà ở cho người TNT.
14
1.2.2.1 Chính sách tín dụng
Tín dụng bất động sản là những khoản tín dụng được đảm bảo bằng bất
động sản, bao gồm tín dụng ngắn hạn với các hoạt động cho vay sửa chữa,
xây dựng nhà và tín dụng dài hạn với hoạt động cho vay để mua đất đai, nhà
cửa, căn hộ, trang trại và ngay cả hoạt động mua bất động sản ở nước ngoài.
“Tín dụng nhà ở” là khoản cho vay bất động sản được cung cấp cho
khách hàng cá nhân nhằm mục đích mua nhà cửa, căn hộ, được xác định là
khoản vay trả góp trong thời gian dài và là khoản vay theo món có tài sản
đảm bảo.
Với những định nghĩa như trên, tín dụng nhà ở được xác định là một
sản phẩm trong hoạt động tín dụng của ngân hàng, do đó phải tuân thủ mọi
nguyên tắc và quy trình cho vay của hoạt động tín dụng nói chung và tín dụng
nhà ở nói riêng.
1.2.2.2 Chính sách thuế
a) Thuế bất động sản
Các nhà khoa học cho rằng, việc bảo tồn, phát triển và sinh lợi của
BĐS có liên quan mật thiết với việc đầu tư, nâng cấp, mở rộng hạ tầng kinh
tế, đường sá, cầu cống, khu công nghiệp tập trung, điện, nước, an ninh, quốc
phòng, trật tự xã hội có tác dụng làm tăng giá trị BĐS. Do vậy, người sở hữu
và sử dụng BĐS được hưởng lợi ích công cộng trên đây cần có sự đóng góp
để trang trải chi phí công cộng do Nhà nước đã bỏ ra.
Thuế BĐS khuyến khích người sử dụng BĐS có hiệu quả hơn, ít nhất là
bù đắp được số thuế đã nộp cho Nhà nước. Ngoài ra, việc đánh thuế BĐS sẽ
làm hạn chế ý thích tiết kiệm, tích lũy bằng BĐS và khuyến khích tăng tiêu
dùng hoặc đầu tư SXKD, qua đó góp phần thực hiện tốt chủ trương kích cầu
để thúc đẩy phát triển KT-XH.
15

liên quan đến BĐS chuyển nhượng. Thuế đăng ký BĐS có thể tính theo một
mức thuế nhất định, một tỷ lệ hoặc theo biểu lũy tiến từng phần.
* Vai trò của thuế bất động sản trong việc quản lý thị trường BĐS: (1) Thuế
BĐS tham gia vào việc điều tiết cung và cầu về BĐS, bình ổn giá cả trên thị
trường BĐS. Bằng việc ban hành các luật thuế, Nhà nước sẽ quy định đánh
thuế hay không đánh thuế, đánh thuế cao hay thấp vào các hành vi nắm giữ,
chuyển dịch BĐS. Thông qua đó, tác động hoặc làm thay đổi quan hệ cung
cầu về BĐS góp phần vào việc bình ổn giá cả; (2) Thuế BĐS tác động đến
việc sử dụng BĐS có hiệu quả, hạn chế đầu cơ; (3) Với mức thuế suất hợp lý,
thuế BĐS sẽ khuyến khích các giao dịch BĐS chính thức, khắc phục tình
trạnh giao dịch “ngầm”, các hành vi trốn tránh nghĩa vụ tài chính gây thất thu
cho NSNN; (4) Thuế BĐS là công cụ để điều hòa thu nhập, thực hiện công
bằng xã hội trong sử dụng và chuyển dịch BĐS; (5) Thông qua thuế BĐS,
Nhà nước thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát đối với việc quản lý, sử dụng,
kinh doanh BĐS, từ đó chủ động điều tiết lượng cung trên thị trường BĐS.
b) Chính sách thuế đối với nhà ở cho người thu nhập thấp
Doanh nghiệp hoạt động theo pháp luật Việt Nam nói chung và các
doanh nghiệp đầu tư xây dựng nhà ở cho người thu nhập thấp nói riêng phải
đóng góp các khoản thuế: Thuế thu nhập doanh nghiệp; thuế giá trị gia tăng;
thuế môn bài; thuế xuất nhập khẩu; thuế tài nguyên; thuế tiêu thụ đặc biệt;
thuế sử dụng đất (đối với doanh nghiệp có tài sản là quyền sử dụng đất); phí
và các khoản lệ phí khác. Trong đó, thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế
cơ bản, chủ yếu mà doanh nghiệp phải đóng, mức thuế phổ biến là 28% và
các mức thuế ưu đãi là 20%, 15%, 10% tùy theo từng điều kiện cụ thể. Đối
với doanh nghiệp xây dựng các dự án xây nhà cho người TNT được hưởng
17
mức thuế giá trị gia tăng 0%, thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 10% và
được miễn thuế sử dụng đất trong thời hạn 3 năm kể từ khi được giao đất.
1.2.2.3 Chính sách giá
a) Giá thành sản phẩm của doanh nghiệp

Giá mua-bán tài sản nhà ở là giá thoả thuận giữa người mua và người
bán. Giá mua bán tài sản nhà ở thường được xác định một cách khách quan,
ngoại trừ những nguyên tắc về sử dụng đất đã được tuyên bố hợp đồng giao
quyền sử dụng đất. Đây là giá thịnh hành trên thị trường hay còn được gọi là
giá thị trường.
Giá thuê nhà ở là giá được xác định để cho thuê tài sản nhà ở trong
những thời hạn nhất định. Mức giá này thường được tính theo năm thuê. Tuỳ
vào cam kết hợp đồng giữa các bên về trách nhiệm mà mức thuê có thể khác
nhau dù tài sản nhà ở tương tự như nhau.
Đối với các dự án phát triển nhà ở cho người thu nhập thấp: được miễn
tiền sử dụng đất, tiền thuê đất. Trong quá trình phê duyệt quy hoạch chi tiết,
các dự án xây nhà ở cho người thu nhập thấp được phép điều chỉnh tăng mật
độ xây dựng và hệ số sử dụng đất, điều chỉnh quy định về diện tích tối thiểu
cho căn hộ; Các dự án xây nhà giá thấp được hưởng mức thuế giá trị gia tăng
0%, các doanh nghiệp được hưởng thuế suất thu nhập doanh nghiệp là 10%,
đối với các dự án xây dựng nhà giá thấp, được miễn thuế sử dụng đất trong
thời hạn 3 năm kể từ khi được giao đất. Các dự án xây dựng nhà cho người có
thu nhập thấp, chủ đầu tư sẽ được Nhà nước bố trí và giao các khu đất sạch đã
được giải phóng mặt bằng, có hệ thống hạ tầng kết nối, được cung cấp miễn
phí thiết kế mẫu, được hưởng tỷ lệ lãi định mức là 10% cho mỗi dự án thực
hiện. Do vậy, về nguyên tắc chi phí đầu vào giảm đáng kể nên giá nhà ở cho
19
người thu nhập thấp sẽ thấp hơn đáng kể so với giá nhà thương mại tương
đương.
1.2.3 Đánh giá hiệu quả chính sách tài chính phát triển nhà ở cho người
thu nhập thấp
Giải pháp tài chính phát triển nhà ở cho người TNT bao gồm nhiều
chính sách bộ phận. Khi thực thi các chính sách cần phải đánh giá để rút ra
các thông tin hữu ích cho các cơ quan quản lý về tác động của chính sách đối
với các chủ thể cũng như các cơ hội và những hạn chế ảnh hưởng đến việc

cụ thể
và/
hoặc
Kết quả
Mục tiêu
trung gian
và/
hoặc
Tác động
Mục đích
Tính hiệu quả: Tính hiệu quả của chính sách là sự so sánh đầu ra với
đầu vào hay là việc đo lường việc các đầu vào/nguồn lực kinh tế chuyển hóa
thành đầu ra như thế nào. Thông thường nói đến hiệu quả kinh tế là việc so
sánh giữa lợi ích với các kết quả.
Tính hiệu quả của chính sách được tính theo công thức sau:
Hiệu quả của
chính sách
=
Đầu ra
Đầu vào
và/
hoặc
Sự thực hiện
Đầu vào
Ngoài ra, khái niệm hiệu quả kinh tế- xã hội dùng để so sánh các lợi ích
kinh tế- xã hội với kết quả đạt được. Khái niệm này thường được sử dụng để
đánh giá tính hiệu quả của một chính sách kinh tế- xã hội.
Tính công bằng: Tính công bằng của chính sách là việc tạo các điều
kiện thuận lợi cho nhiều người bị thiệt thòi trong xã hội. Trong tài chính nhà ở
thông thường tiêu chí này được biểu thị bằng các chỉ tiêu về tổng quỹ nhà và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status