giải pháp tài chính phát triển khoa học - công nghệ trong các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên ở việt nam - Pdf 24

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TÀI CHÍNH
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
]^
TẠ MINH HÙNG
GI¶I PH¸P TμI CHÝNH PH¸T TRIÓN
KHOA HäC - C¤NG NGHÖ TRONG C¸C C¤NG TY
TR¸CH NHIÖM H÷U H¹N MéT THμNH VI£N ë VIÖT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TÀI CHÍNH
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
]^
Tôi xin cam đoan bản luận án là công trình nghiên
cứu khoa học độc lập của tôi. Các tư liệu, tài liệu được
sử dụng trong luận án có nguồn dẫn rõ ràng, các kết quả
nghiên cứu là quá trình lao động trung thực của tôi. TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Tạ Minh Hùng
MỤC LỤC

Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ VÀ GIẢI PHÁP
TÀI CHÍNH PHÁT TRIỂN KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ TRONG CÁC
CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN 12

Chương 2: THỰC TRẠNG GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH PHÁT TRIỂN
KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ TRONG CÁC CÔNG TY TRÁCH NHIỆM
HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN Ở VIỆT NAM
60
2.1. KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH CHUYỂN ĐÔI DOANH NGHIỆP NHÀ
NƯỚC SANG CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH
VIÊN Ở VIỆT NAM 60
2.2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ TRONG
CÁC CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN 65
2.2.1. Hệ thống chính sách khuyến khích phát triển khoa học - công
nghệ trong doanh nghiệp 65
2.2.2. Thực trạng phát triển khoa học - công nghệ trong các công ty
TNHH một thành viên 78
2.3. THỰC TRẠNG GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH PHÁT TRIỂN KHOA HỌC -
CÔNG NGHỆ TRONG CÁC CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN
MỘT THÀNH VIÊN 88
2.3.1. Thực trạng giải pháp tài chính từ phía Nhà nước 88
2.3.2. Thực trạng giải pháp tài chính của các công ty trách nhiệm hữu
hạn một thành viên 106
Chương 3: HOÀN THIỆN GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH PHÁT TRIỂN
KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ TRONG CÁC CÔNG TY TRÁCH NHIỆM
HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN Ở VIỆT NAM 112
3.1. QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KHOA HỌC - CÔNG
NGHỆ TRONG CÁC CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT
THÀNH VIÊN 112
3.1.1. Những khó khăn, thách thức trong việc phát triển khoa học - công
nghệ
của các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên 112
3.1.2. Quan điểm phát triển khoa học - công nghệ trong các công ty
trách nhiệm hữu hạn một thành viên 118

NSNN

Ngân sách nhà nước

TNDN

Thu nhập doanh nghiệp

TNHH MTV Trách nhiệm hữu hạn một thành viên
UBND Ủy ban nhân dân DANH MỤC CÁC BẢNG Số hiệu
Nội dung Trang

Bảng 2.1: Quy mô vốn của các công ty TNHH MTV năm 2011 85

Bảng 2.2: Kinh phí hoạt động nghiên cứu - triển khai và đổi mới công
nghệ cho các công ty TNHH MTV, thời kỳ 2009-2013 86

Bảng 2.3: Kinh phí cho hoạt động nghiên cứu - triển khai và đổi mới
công nghệ của các công TNHH MTV trên địa bàn thành
phố Hà Nội, năm 2013 88


1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Đổi mới và nâng cao năng lực công nghệ là yếu tố then chốt quyết định sự
phát triển của Việt Nam về dài hạn. Ngoài đầu tư cho nghiên cứu - triển khai trong
các Viện nghiên cứu, trường đại học thì đầu tư cho nghiên cứu - triển khai trong các
doanh nghiệp giữ vai trò rất quan trọng hiện nay. Các nghiên cứu trên thế giới cũng
như ở Vi
ệt Nam đều khẳng định vai trò quan trọng của việc đầu tư cho nghiên cứu -
triển khai trong doanh nghiệp. Hơn nữa, sau một giai đoạn dài tăng trưởng dựa vào
chiều rộng, Việt Nam cần phải thay đổi mô hình tăng trưởng của mình. Theo báo cáo
chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu do WEF công bố thì năm 2009, Việt Nam đứng
thứ 75/133 và về chỉ số ứng dụng KH-CN trong các doanh nghiệp Việt Nam từ nhi
ều
năm nay luôn đứng ở tốp cuối cùng, năng lực công nghệ và khả năng sáng tạo công
nghệ của Việt Nam rất thấp. Đây chính là rào cản ảnh hưởng không nhỏ đến việc
nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia nói chung và của các doanh nghiệp Việt Nam
nói riêng.
Trong quá trình phát triển, nếu doanh nghiệp nào quan tâm đến phát triển
KH-CN sẽ góp phần tạo ra năng suất lao động cao hơn, chất lượng hàng hóa tốt

n, giá thành hàng hóa rẻ hơn, đồng thời đáp ứng nhanh chóng, đa dạng nhu cầu
của thị trường. Theo tính toán của các nhà khoa học, nếu nước nào đầu tư cho KH-
CN khoảng 1 - 2% GDP thì KH-CN của nước đó đóng góp cho nền KT - XH
khoảng 30 - 40% GDP. Còn nếu nước nào đầu tư cho KH-CN trên 3% GDP thì
KH-CN đóng góp cho nền KT - XH trên 80% GDP [71], nghĩa là hầu hết các sản
phẩm của xã hội đều mang hàm lượng chất xám cao và chính là kết quả của nền
kinh tế tri th
ức mang lại.
Ở Việt Nam trong những năm vừa qua, Nhà nước đầu tư cho KH-CN còn

trong công tác của nghiên cứu sinh, đồng thời việc nghiên cứu đề tài này sẽ có ý
nghĩa không nhỏ cả về lý luận và thực tiễn ở Việt Nam hiện nay
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về phát triển KH-CN
trong doanh nghiệp nói chung, đặc biệt là trong các công ty TNHH MTV và vai trò
của các giải pháp tài chính đối với phát triển KH-CN trong các công ty TNHH MTV
100% vốn sở hữu Nhà n
ước.
Đề tài đi sâu phân tích, đánh giá tình hình phát triển KH-CN cũng như thực
trạng sử dụng các giải pháp tài chính phát triển KH-CN trong các công ty TNHH

3
MTV 100% vốn sở hữu Nhà nước giai đoạn 2009-2013. Qua đó, đề xuất và hoàn
thiện một số giải pháp tài chính đối với việc phát triển KH-CN để thực hiện được
mục tiêu từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh của các công ty TNHH MTV ở
Việt Nam giai đoạn đến 2020.
3. Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: phát triển KH-CN, các giải pháp tài chính đối với
việc phát triển KH-CN trong các công ty TNHH MTV 100% v
ốn sở hữu Nhà nước ở
Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu: các giải pháp tài chính đối với việc phát triển KH-CN
trong các công ty TNHH MTV 100% vốn sở hữu Nhà nước ở Việt Nam giai đoạn
2001-2013 (đi sâu phân tích thời kỳ 2009-2013).
- Phương pháp nghiên cứu: Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử, luận án sử dụng các phương pháp chung như: thu thập thông tin,
phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh đối chứng
để phân tích thực trạng sử dụng các
giải pháp tài chính phát triển KH-CN trong các công ty TNHH MTV. Trên cơ sở các
kiến thức đã tích lũy trong quá trình học tập và nghiên cứu, kết hợp với việc tham

hấp thụ các tiến bộ KH-CN mới và biến các thay đổi công nghệ thành hiện thực.
Điều
này rất quan trọng với các nước đang phát triển ngay cả khi các công nghệ này không
còn là mới trên thế giới (Kaldor, 1957; Solow, 1960).
Về vai trò của việc huy động và sử dụng nguồn tài chính đầu tư cho KH-CN
của doanh nghiệp cũng nhận được sự quan tâm của nhiều nghiên cứu. Trong một bài
báo về vốn đối với đầu tư nghiên cứu và phát triển của các doanh nghiệp của
Muoritsen.J cùng tập thể các tác giả (2001), các tác giả nghiên cứ
u mối quan hệ về
lượng của sự gia tăng đầu tư cho nghiên cứu và phát triển đối với tăng trưởng của
doanh nghiệp, về tầm quan trọng của việc đổi mới công nghệ đối với sự phát triển
của doanh nghiệp trong thời đại toàn cầu hóa và sự phát triển của nền kinh tế mới.
Cùng chủ đề nghiên cứu về mối quan hệ giữa quy mô vốn
đầu tư cho nghiên cứu và
triển khai với tốc độ tăng trưởng của các doanh nghiệp trên thế giới, nhưng tiếp cận
dưới góc độ quản trị quy trình đầu tư và sản phẩm đổi mới của doanh nghiệp, các tác
giả: Leitner.K và Warden C. (2003) đề xuất những giải pháp làm thế nào để nâng cao
hiệu quả của quá trình đầu tư cho nghiên cứu và triển khai của các doanh nghiệp, đặc
biệt quan tâm đến trường h
ợp của các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Các tác giả
Czarnitzki. D và Hussinger. (2004) trong một bài thảo luận đã phân tích mối liên hệ
giữa chi phí cho nghiên cứu phát triển và khả năng công nghệ. Để có được công nghệ
trước hết cần phải đầu tư cho nghiên cứu, tuy nhiên, các tác giả của công trình nhấn
mạnh, việc tăng chi cho đầu tư nghiên cứu chưa hẳn đã đem lại những kết quả như

5
mong muốn. Nguyên nhân của thực trạng này là do có thể việc định hướng quá trình
nghiên cứu không tốt, hoặc thiếu thông tin hoặc quá tập trung vào những lĩnh vực
vượt ra ngoài năng lực tài chính của doanh nghiệp dẫn đến gánh nặng tài chính mà
doanh nghiệp không thể tiếp tục theo đuổi. Với logíc đó, các tác giả khuyến nghị các

Nam. Trong cuốn “Kinh tế tri thức và thách thức đối với sự phát triển của doanh
nghiệp Việt Nam” (2004) tác giả Đặng Hữu tập trung bàn về kinh tế tri thức, có đề

6
cập đến năng lực công nghệ và sáng tạo của hệ thống doanh nghiệp Việt Nam trong
quá trình hội nhập và phát triển kinh tế tri thức. Tác giả nhấn mạnh, năng lực công
nghệ của doanh nghiệp Việt Nam thực sự yếu trước sức ép cạnh tranh của hội nhập
kinh tế quốc tế và sự phát triển kinh tế tri thức trên thế giới. Nguyên nhân chủ yếu là
phần lớn doanh nghiệp thi
ếu khả năng tự đầu tư để tìm kiếm nguồn công nghệ. Năng
lực công nghệ yếu kém cũng được coi là một thách thức của Việt Nam trong giai
đoạn tới theo các tác giả của cuốn “Kinh tế Việt Nam trên đường hóa rồng” (tác giả
Phạm Đỗ Chí - chủ biên). Nhận định này cũng được Ngân hàng thế giới nêu ra trong
các báo cáo phát triển Việt Nam 2005 và 2006.
Trong một nghiên cứu khác của Viện nghiên cứu kinh tế trung
ương (CIEM)
do TS. Lê Xuân Bá và TS. Nguyễn Thị Tuệ Anh chủ trì (2006) khi tính toán các nhân
tố ảnh hưởng tới tăng trưởng của Việt nam giai đoạn 1991-2005 các tác giả thấy rằng
khoa học công nghệ giữ vai trò rất hạn chế trong tăng trưởng. Theo nghiên cứu này
năng lực công nghệ của các doanh nghiệp Việt nam là rất yếu và đầu tư của doanh
nghiệp cho đổi mới công nghệ là rất ít, nhất là trong lĩnh vực công nghiệp. Theo đ
iều
tra của CIEM năm 2004 thì các doanh nghiệp ngành cơ khí - điện tử chỉ dành chưa
đến 1 % doanh thu cho các hoạt động nghiên cứu và triển khai công nghệ (nghiên
cứu - triển khai). Cao nhất là các doanh nghiệp thuộc nhóm ngành chế biến thực
phẩm với 2.9 % doanh thu năm 2003.
Ngoài ra, cũng có một số nghiên cứu làm thế nào để giải quyết vấn đề công
nghệ lạc hậu của các doanh nghiệp Việt Nam, qua đó có thể nâng cao được năng l
ực
cạnh tranh trong quá trình hội nhập như nghiên cứu của tác giả Hoàng Xuân Long

ưa ý thức đầy đủ vị trí, vai trò của công nghệ trong việc nâng cao
năng lực cạnh tranh; tình trạng chuyển giao công nghệ và trang thiết có trình độ thấp,
công nghệ loại thải của các nước còn xảy ra khá phổ biến, nhập khẩu công nghệ từ
các nước phát triển còn ít. Vấn đề đặt ra được đề cập dưới hai góc độ: (i) chuyển giao
công nghệ tiên tiến, hiện đại của nước ngoài vào Việt Nam; (ii) chuyển giao các công
ngh
ệ của Việt Nam vào các hoạt động sản xuất - kinh doanh, góp phần nâng cao đời
sống vật chất và tinh thần cho nhân dân
Với chủ đề liên quan đến hoạt động nghiên cứu - triển khai trong doanh
nghiệp đã có một số công trình nghiên cứu do NISTPASS (Viện Chiến lược và Chính
sách KH-CN), Bộ KH&CN chủ trì thực hiện. Trong đó có 3 công trình nghiên cứu
được xem là gần với những quan tâm của đề tài luận án:
Đề tài: “Nghiên cứu cơ sở khoa học cho việ
c xây dựng một số chính sách và
biện pháp thúc đẩy hoạt động đổi mới công nghệ và nghiên cứu - triển khai trong các
cơ sở sản xuất ở Việt Nam” của tác giả Trần Ngọc Ca (2000). Với việc lựa chọn phân
tích 2 mảng chính sách được xem là ảnh hưởng khá rõ tới hoạt động đổi mới công
nghệ và nghiên cứu - triển khai trong các doanh nghiệp đó là chính sách tài chính và
chính sách nhân lực đã cho rằng: (i) Mặc dù môi trường chính sách tài chính đã có

8
những tiến bộ nhất định trong thời gian qua, nhất là cơ chế khuyến khích đổi mới
công nghệ và nghiên cứu - triển khai trong các doanh nghiệp. Tuy nhiên, do việc soạn
thảo và ban hành một số văn bản chính sách còn vội vàng, nội dung quy định còn quá
chung chung và chưa thể hiện sự hiểu biết thấu đáo về đặc thù của hoạt động đổi mới
công nghệ và nghiên cứu - triển khai trong doanh nghiệp nên hiệu quả thực hi
ện còn
thấp; (ii) Chính sách về nhân lực có tầm quyết định quan trọng trong việc đổi mới
công nghệ và nghiên cứu - triển khai trong các doanh nghiệp, trong nhiều trường hợp
còn cấp bách hơn các chính sách tài chính; (iii) Hành vi đổi mới công nghệ và nghiên

trò của chính sách tài chính cho các dự án đổi mới công nghệ của doanh nghiệp nhỏ
và vừa đã khẳng định: cho đến hiện nay, phần lớn chính sách khuyến khích đổi mới
công nghệ ở doanh nghiệp nhỏ và vừa là những chính sách thông qua ưu đãi thuế
, tuy
cần nhưng chưa đủ. Bởi lẽ: (i) Các điều kiện để được hưởng chính sách ưu đãi
thường không rõ ràng nên khó áp dụng hoặc dễ bị áp dụng một cách tùy tiện; (ii) Đối
với các doanh nghiệp nhỏ và vừa để có thể được hưởng chính sách ưu đãi thường
phải qua nhiều thủ tục, phiền hà nên nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa không quan tâm;
(iii) Đây là chính sách ưu đãi theo kiểu có làm, th
ậm chí làm phải có kết quả mới
được hưởng chính sách ưu đãi nên nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa có ý tưởng đổi
mới công nghệ rất tốt nhưng không vượt qua được những giai đoạn ban đầu để được
hưởng chính sách ưu đãi. Một phát hiện khác trong nghiên cứu này đã đề cập đến loại
hình doanh nghiệp nhỏ và vừa do các nhà khoa học, các kỹ sư thành lập để triển khai
ý tưở
ng đổi mới, kết quả nghiên cứu của họ vào thực tiễn. Loại doanh nghiệp nhỏ và
vừa dựa trên nền tảng hoạt động KH-CN này hiện rất được quan tâm ở nước ta và đã
phát triển ở nhiều quốc gia trên thế giới
Đề tài: “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động nghiên cứu - triển
khai của doanh nghiệp” của tác giả Hoàng Văn Tuyên (2007) đã
đề xuất một khung
phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động nghiên cứu - triển khai của doanh
nghiệp gồm 6 yếu tố bên trong (gồm: quy mô doanh nghiệp; nguồn lực của doanh
nghiệp; sở hữu của doanh nghiệp; chiến lược và kế hoạch của doanh nghiệp; ban lãnh
đạo của doanh nghiệp và tập thể doanh nghiệp) và 14 yếu tố bên ngoài (gồm: chính
sách vốn cho phát triển KH-CN; chính sách đối với trạng thiết bị
phục vụ cho nghiên
cứu - triển khai của doanh nghiệp; ưu đãi thuế, ưu đãi tín dụng, chính sách nhân lực
KH-CN; sở hữu trí tuệ; cơ sở hạ tầng KH-CN quốc gia; áp lực cạnh tranh; quản lý
Nhà nước về KH-CN; xu thế phát triển KH-CN; một số cơ chế khuyến khích khác

đánh giá các chính sách quản lý của Nhà nước tác động tới hoạt động đổi mới công
nghệ và nghiên cứu - triển khai của doanh nghiệp; nghiên cứu việc huy động và sử
dụng các ngu
ồn tài chính đầu tư phát triển KH-CN trong các doanh nghiệp Việt Nam
nói chung trong những năm qua Tuy nhiên, cho đến nay chưa có đề tài nào nghiên
cứu một cách tổng hợp cả lý thuyết và thực tiễn về các giải pháp tài chính phát triển
KH-CN trong các công ty TNHH MTV ở Việt Nam. Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài
này sẽ có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Trên cơ s
ở nghiên cứu và hệ thống hoá những vấn đề lý luận và thực tiễn, bản
luận án đã có những đóng góp sau:

11
- Hệ thống hoá và làm rõ hơn những vấn đề lý luận về phát triển KH-CN trong
các công ty TNHH MTV và vai trò của các giải pháp tài chính đối với phát triển KH-
CN trong các công ty TNHH MTV
- Phân tích, đánh giá một cách toàn diện về phát triển KH-CN cũng như thực
trạng sử dụng các giải pháp tài chính phát triển KH-CN trong các công ty TNHH
MTV giai đoạn 2001-2013 (đi sâu phân tích thời kỳ 2009-2013); đánh giá những kết
quả đạt được cũng như hạn chế và nguyên nhân hạn chế của việc sử d
ụng các giải
pháp tài chính phát triển KH-CN trong các công ty TNHH MTV trong những năm
vừa qua.
- Trên cơ sở những định hướng, quan điểm về phát triển KH-CN trong các
công ty trách nhiệm hữu hạn ở Việt Nam giai đoạn 2014-2015 và đến 2020. Qua đó,
đề xuất và hoàn thiện các giải pháp tài chính phát triển KH-CN trong các công ty
TNHH MTV ở Việt Nam trong những năm tới.
6. Kết cấu của đề tài nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình khoa học củ

cũng được tổ ch
ức và hoạt động giống như công ty TNHH MTV (một chủ sở
hữu). Luật Doanh nghiệp (1999) chỉ quy định công ty TNHH MTV là tổ chức;
Luật Doanh nghiệp (2005) đã phát triển và mở rộng cả cá nhân cũng có quyền
thành lập công ty TNHH MTV.
Theo đó, công ty TNHH MTV là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá
nhân làm chủ sở hữu (gọi là chủ sở hữu công ty). Chủ sở hữu công ty chịu trách
nhiệm về các khoản nợ và ngh
ĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn
điều lệ.
1.1.1.2. Đặc điểm của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
- Một là, do một thành viên là tổ chức hoặc cá nhân làm chủ sở hữu, chịu
trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi
số vốn điều lệ của công ty (trách nhiệm hữu hạn).
- Hai là, chủ s
ở hữu công ty chỉ được quyền rút vốn bằng cách chuyển
nhượng một phần hoặc toàn bộ số vốn điều lệ cho tổ chức hoặc cá nhân khác;
trường hợp rút một phần hoặc toàn bộ vốn đã góp ra khỏi công ty dưới hình thức
khác thì phải liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác
của công ty.
- Ba là, công ty TNHH MTV có tư cách pháp nhân kể từ ngày được c
ấp
Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và cũng như người chủ sở hữu, công ty chịu

13
trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác trong kinh doanh trong
phạm vi số vốn điều lệ của công ty (trách nhiệm hữu hạn).
- Bốn là, công ty TNHH MTV không được quyền phát hành cổ phần. Tuy
nhiên, giống như công ty TNHH hai thành viên trở lên, công ty này được huy
động vốn trên thị trường chứng khoán, kể cả việc chào bán chứng khoán ra công


14
thuật vượt qua sự giới hạn trong hay ngoài nước từ các công ty, các trường đại
học, các viện nghiên cứu, các phòng thí nghiệm, các doanh nghiệp khoa học ươm
tạo công nghệ… đến những nơi có nhu cầu tiếp nhận công nghệ nước ngoài vào
trong nước.
C ụ thể, chuyển giao công nghệ diễn ra từ một ngành này sang một ngành
khác, từ một tổ chức này sang một tổ chức khác ở quy mô quốc tế, giữa các nước
phát tri
ển, giữa các nước đang phát triển, giữa các nước phát triển và các nước
đang phát triển. Chuyển giao công nghệ có thể được thực hiện theo nhiều hình
thức khác nhau. Thông qua việc thực hiện đầu tư FDI, chuyển giao công nghệ từ
công ty mẹ sang công ty con, hoặc chuyển giao công nghệ từ các chi nhánh của
các công ty nước ngoài sang các công ty nội địa (gọi là lan tỏa công nghệ). Chính
FDI tạo ra hiệu quả kỹ thuật của các công ty ở các nước tiếp nhậ
n vốn đầu tư
Việc áp dụng phương thức chuyển giao công nghệ sẽ đem lại lợi thế cho
công ty vừa không phải đầu tư ngay từ giai đoạn đầu của phát triển một công nghệ
mà còn được sử dụng ngay công nghệ khi nó đã được ứng dụng rộng rãi. Như vậy,
sẽ tránh được nguy cơ rủi ro khi một công nghệ được nghiên cứu ra lại không có
tính ứng dụ
ng, hoặc không có khả năng tiếp cận được với thị trường.
Trước đây, Việt Nam quan niệm chuyển giao công nghệ một cách đơn giản
như việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật, ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào sản xuất
và đời sống. Điều này đã dẫn đến cách hiểu không đầy đủ, coi quá trình chuyển
giao công nghệ thuần túy chỉ là việc áp dụng m
ột cách máy móc những công nghệ
đã có sẵn, mà không cần có những cố gắng về kiến thức và năng lực, coi nhẹ các
quan hệ về sở hữu trí tuệ, quyền phát minh sáng chế.
V ấn đề chuyển giao công nghệ được công bố lần đầu tiên trong Luật Đầu

- Tìm nguồn cung cấp và đặt mua thiết bị (gồm cả phầ
n mềm tối thiểu cần
thiết kèm theo).
- Tiếp nhận, đưa thiết bị (cả phần mềm) về nước.
- Lắp đặt, vận hành; theo dõi, đánh giá; điều chỉnh, bổ sung theo yêu cầu mới.
Các bước nêu trên liên quan mật thiết với nhau. Các chủ đầu tư chịu trách
nhiệm chính với toàn bộ quá trình nhập công nghệ. Cần lưu ý là, đối với nước
nhập khẩu công nghệ không nên chỉ ch
ọn mua công nghệ qua giới thiệu, quảng
cáo, môi giới mà rất cần tiếp xúc trực tiếp với nơi cung cấp, quan sát tận mắt công
nghệ cần nhập với sự tham gia thực sự của các nhà quản lý có kinh nghiệm và các
chuyên gia giỏi về công nghệ. Để tránh việc nhập khẩu về những dây chuyền công
nghệ không phù hợp, không đồng bộ, tính năng công nghệ thấp (độ chính xác gia
công thấp, suất tiêu hao năng lượng - nguyên v
ật liệu cao, gây ô nhiễm môi
trường…), thiết bị đã lạc hậu nhưng được chỉnh trang và nâng cấp lại… Đây chính
là thực trạng mà nhiều nước đang phát triển gặp phải, cuối cùng những nước này

16
có thể trở thành những bãi rác công nghệ, hoặc phải tốn nhiều chi phí cho việc
khắc phục những hậu quả của việc nhập khẩu công nghệ không phù hợp.
Sự tiến bộ công nghệ của nền kinh tế đất nước được thực hiện bằng cách
kết hợp đẩy mạnh nhập khẩu công nghệ ở nước ngoài và tự phát triển, sáng tạo
công nghệ tiên tiến trên nền t
ảng các công nghệ nhập khẩu. Trong thời kỳ đầu của
quá trình CNH, HĐH đối với một quốc gia đang trong quá trình phát triển như
Việt Nam thì việc nhập khẩu công nghệ tiên tiến của nước ngoài là phương pháp
vừa tiết kiệm thời gian, vừa tiết kiệm chi phí nếu lựa chọn hiệu quả được những
công nghệ có mức độ tiên tiến thích hợp với giá thành hạ trong quá trình nhập
khẩu.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status