ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ĐẶNG THỊ VÂN CHI
VẤN ĐỀ PHỤ NỮ
TRÊN BÁO CHÍ TIẾNG VIỆT TRƯỚC
CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
HÀ NỘI - 2007
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3. Mục đích và phạm vi nghiên cứu 8
4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
10
5. Đóng góp của luận án
12
6. Bố cục luận án 13
Chƣơng 1: BỐI CẢNH XUẤT HIỆN “VẤN ĐỀ PHỤ NỮ” TRONG
XÃ HỘI VIỆT NAM
1.1. Vai trò và địa vị phụ nữ trong xã hội Việt Nam truyền thống 14
1.1.1. Những điều kiện tự nhiên và xã hội ảnh hưởng đến vai trò và địa vị phụ
nữ Việt Nam trong lịch sử 14
1.1.2. Ảnh hưởng của Nho giáo đối với địa vị phụ nữ Việt Nam 16
1.2. Những điều kiện mới của “vấn đề phụ nữ” 20
1.2.1. Tình hình xã hội 20
1.2.2. Ảnh hưởng của tình hình thế giới và sự xuất hiện của tư tưởng dân chủ
tư sản phương Tây ở Việt Nam 25
1.2.3. Ảnh hưởng của phong trào nữ quyền và giải phóng phụ nữ trên thế giới 27
1.3. Tình hình phụ nữ Việt Nam và sự xuất hiện "vấn đề phụ nữ" trong xã hội 34
1.3.1. Tình hình phụ nữ Việt Nam dưới chế độ thuộc địa 34
1.3.2. Sự xuất hiện “vấn đề phụ nữ “ trong xã hội 37
3.1.2. Các chính sách chính trị, kinh tế, văn hoá của Pháp và hệ quả của nó 97
3.1.3. Đường lối vận động phụ nữ của Đảng Cộng sản Việt Nam 100
3.2. Sự ra đời của tờ Phụ nữ tân văn và sự phát triển của dòng báo phụ nữ trƣớc
Cách mạng tháng Tám năm 1945 104
3.2.1. Báo Phụ nữ tân văn và quan điểm của giới trí thức đương thời về vấn đề
phụ nữ 104
3.2.2. Sự phát triển của dòng báo phụ nữ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 114
3.3.Vấn đề phụ nữ trên báo chí hợp pháp 127
3.3.1. Ảnh hưởng của khuynh hướng vận động nữ quyền tư sản 127
3.3.2. Vấn đề giải phóng phụ nữ 133
3.3.3. Vấn đề phụ nữ với văn học và nghệ thuật 143
3.3.4. Vấn đề mãi dâm 146
3.3.5. Ảnh hưởng của đường lối vận động phụ nữ của Đảng Cộng sản trên báo
chí hợp pháp 151
3.3.6. Những khuynh hướng mới của vấn đề phụ nữ trong thời kì Chiến tranh
Thế giới thứ hai 156
3.4.Vấn đề phụ nữ trên báo chí cách mạng 163
3.4.1. Vấn đề tuyên truyền và vận động phụ nữ tham gia cách mạng 163
3.4.2. Vấn đề tổ chức và hướng dẫn phụ nữ đấu tranh trong thời kì vận động
dân chủ 1936-1939 166
3.4.3. Vấn đề vận động phụ nữ tham gia phong trào giải phóng dân tộc trong
cuộc vận động Cách mạng tháng Tám 1945 174
TIỂU KẾT CHƢƠNG 3 180
CHÚ THÍCH CHƢƠNG 3 183
KẾT LUẬN 188
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN NỘI
DUNG LUẬN ÁN 199
TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ TRÍCH DẪN 201
- ANTC: An Nam tạp chí
- VM: Văn minh
- TD: Tiếng dân
- TC: Thần chung
- HTNB Hà thành ngọ báo
- PNTV: Phụ nữ tân văn
- PNTĐ: Phụ nữ thời đàm
- TB: Thời báo
- PH: Phong hoá
- ĐTTC: Đông Thanh tạp chí
- PNTT: Phụ nữ tân tiến
- ZB: Zân báo
- HCTV: Hoàn cầu tân văn
- ĐBM: Đàn bà mới
- TT: Tân thời
- TA: Tràng An
- VB: Việt báo
- DH: Dân hiệp
- VN: Việt nữ (1937)
- PN: Phụ nữ
- ĐB: Đàn bà
- TBCN: Trung Bắc chủ nhật
- HP: Hạnh phúc
- NKTB: Nam Kỳ tuần báo
- VNĐL Việt Nam độc lập
- GP Giải phóng
- DC Dân chúng
- CQ Cứu quốc
hội, nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng loài người, nếu không giải
phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa” [72, tr15].
Nhưng vấn đề giải phóng phụ nữ và quyền bình đẳng nam nữ ở Việt Nam
được đặt ra từ khi nào?
Như một hệ quả của quá trình tiếp xúc văn hoá Đông-Tây, cùng với sự du
nhập những tư tưởng dân chủ tư sản từ bên ngoài, sự xuất hiện và có vai trò ngày
càng lớn của tầng lớp tiểu tư sản thành thị vào những năm đầu thế kỷ XX, trong xã
hội Việt Nam đã dần dần xuất hiện “vấn đề phụ nữ” bên cạnh các vấn đề xã hội 2
khác. Cũng lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, báo chí xuất hiện và cùng với sự
xuất hiện của báo chí, vấn đề phụ nữ được nêu lên với những tư tưởng mới như bình
đẳng nam nữ, nữ quyền và giải phóng phụ nữ.
Năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, vấn đề giải phóng phụ nữ, vấn
đề vận động phụ nữ tham gia vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc được Đảng
quan tâm hàng đầu. Năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam,
Cách mạng tháng Tám thành công đã chứng tỏ đường lối cách mạng đúng đắn của
Đảng, trong đó việc giải quyết vấn đề phụ nữ là một nhân tố quan trọng. Chính vì
vậy, nghiên cứu vấn đề phụ nữ không chỉ có ý nghĩa quan trọng góp phần nghiên
cứu lịch sử phụ nữ - một bộ phận của lịch sử dân tộc, mà còn làm sáng tỏ sự phát
triển quá trình nhận thức về vai trò và vị trí của phụ nữ trong xã hội nói chung, cũng
như sự tự nhận thức của chính bản thân phụ nữ về các vấn đề của giới mình.
Trong điều kiện xã hội Việt Nam, báo chí là lĩnh vực thể hiện rõ sự thay
đổi trong quá trình nhận thức về vấn đề phụ nữ, phản ánh quan điểm của tầng lớp
trí thức tư sản và tiểu tư sản, đồng thời cũng phản ánh cuộc sống sinh hoạt của
phụ nữ Việt Nam dưới chế độ thuộc địa. Bên cạnh đó, việc nghiên cứu quá trình
nhận thức vấn đề nữ quyền và giải phóng phụ nữ trên báo chí trước Cách mạng
tháng Tám còn có ý nghĩa làm phong phú thêm mảng lịch sử tư tưởng Việt Nam
thời kì cận đại.
phẩm viết về phụ nữ.
Trong những công trình nghiên cứu về phụ nữ trước Cách mạng tháng Tám
năm 1945, trước hết phải kể đến những bài viết của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trên báo
Người cùng khổ, trong cuốn Bản án chế độ thực dân Pháp, báo Thanh niên từ những
năm 1920. Những bài viết về Nỗi khổ nhục của người đàn bà bản xứ, Phụ nữ An
Nam và sự đô hộ của Pháp của Nguyễn Ái Quốc thời kì này đã cho thấy tình cảnh
bị áp bức, bóc lột và chà đạp nhân phẩm của phụ nữ ở các nước thuộc địa, trong đó
có Việt Nam. Trong các bài viết này, Người bước đầu gắn việc vận động giải phóng
phụ nữ với nhiệm vụ giải phóng dân tộc.
Năm 1928, trước tình hình vấn đề phụ nữ đang ngày càng thu hút sự quan
tâm của xã hội và hình thành nhiều quan niệm khác nhau về vấn đề bình đẳng nam
4
nữ, Đặng Văn Bẩy xuất bản cuốn Nam nữ bình quyền tại Sài Gòn khẳng định vấn
đề nam nữ bình quyền là “hợp với đạo trời và đạo người”. Tác giả ủng hộ việc đề
xuất nam nữ bình quyền bởi trong gia đình Việt Nam, phụ nữ vẫn phải chịu thân
phận “chồng chúa, vợ tôi”. Theo tác giả: cần phải đẩy mạnh việc giáo dục phụ nữ,
cần nhận thức lại quan niệm về chữ trinh và ủng hộ hôn nhân tự do, đạo vợ chồng
cần phải như thế nào Năm 1929, Duy Tân thư xã ở Huế xuất bản cuốn Vấn đề
phụ nữ của Phan Bội Châu. Trong cuốn sách này, Phan Bội Châu đã lý giải
nguyên nhân lịch sử dẫn đến việc phụ nữ bị coi thường, bị coi là một loại hàng
hoá. Ông cũng phê phán phụ nữ Việt Nam hiện nay còn nhiều người thờ ơ với vận
mệnh đất nước, gắn khái niệm nữ quyền với tư tưởng dân quyền và đưa ra đề nghị
thành lập các tổ chức phụ nữ, liên kết các hoạt động của phụ nữ nhằm đẩy mạnh
phong trào vận động phụ nữ.
Từ sau năm 1930, trên báo chí công khai đương thời, cũng như các báo phụ
nữ chuyên biệt bắt đầu xuất hiện các bài nghiên cứu về địa vị của phụ nữ trong xã
hội Việt Nam truyền thống. Các bài nghiên cứu này chủ yếu khảo sát qua tục ngữ,
ca dao cổ và luật pháp thời phong kiến. Có thể kể tên một số tác giả như Phan Khôi,
Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Hải Trân, Đỗ Thiện, Hoàng Ngọc Phách Nhìn
nữ ở Việt Nam chỉ nhìn thấy cuộc vận động nữ quyền tư sản, bảo vệ gia đình tư sản
Cũng trong năm 1938, Nguyễn Thị Kim Anh viết cuốn Vấn đề phụ nữ, giới thiệu quan
điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về vai trò và địa vị của phụ nữ trong xã hội loài người,
đấu tranh với quan niệm hô hào nữ quyền một cách hời hợt, hướng dẫn phong trào phụ
nữ, giới thiệu về Cách mạng tháng Mười Nga và phụ nữ Xô Viết Có thể thấy rằng
những công trình trên phản ánh sự hình thành những khuynh hướng khác nhau về nhận
thức vấn đề phụ nữ trong xã hội Việt Nam .
Như vậy, cho đến trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, giới trí thức bắt
đầu nghiên cứu lịch sử phụ nữ Việt Nam, khảo sát tình trạng phụ nữ Việt Nam trong
xã hội phong kiến, xã hội thuộc địa, giới thiệu các quan điểm và học thuyết về phụ
nữ của các nhà tư tưởng nước ngoài Đặc biệt, vấn đề vai trò và địa vị phụ nữ trong
gia đình và ngoài xã hội, phụ nữ có vai trò gì trong công cuộc giải phóng dân tộc và
xây dựng xã hội mới đã được nêu ra và thảo luận sôi nổi trên báo chí.
6
Từ sau năm 1954, đánh giá đúng vai trò và vị trí của phụ nữ trong lịch sử
cũng như khả năng đóng góp của phụ nữ trong công cuộc xây dựng xã hội mới,
Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến nghiên cứu, giáo dục và vận động phụ nữ.
Nhiều tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lê nin và các lãnh tụ của Đảng và
Nhà nước ta viết về vấn đề phụ nữ và giải phóng phụ nữ được xuất bản làm cơ sở
lý luận cho việc nghiên cứu phụ nữ. Đến những năm 1970, một số công trình
nghiên cứu công phu và toàn diện về những đóng góp của phụ nữ trong lịch sử
dựng nước và giữ nước của dân tộc đã ra đời như: Truyền thống phụ nữ Việt Nam
(1972) của Trần Quốc Vượng, Phụ nữ Việt Nam qua các thời đại (1973) của Lê
Thị Nhâm Tuyết. Các công trình này đã đánh giá đúng vai trò và vị trí của phụ
nữ Việt Nam trong lịch sử, nêu bật những cống hiến to lớn của phụ nữ trong
công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.
Sau năm 1975, đặc biệt từ cuối những năm 1980 trở lại đây, Trung tâm
nghiên cứu phụ nữ (sau thành Viện nghiên cứu Gia đình và giới) và tập san Khoa
học về phụ nữ (từ tháng 9/2006 đổi tên thành tạp chí Nghiên cứu Gia đình và
bức rõ ràng đối với phụ nữ Việt Nam. Mặc dù sự áp bức này khác nhau tuỳ theo
từng giai cấp, nhưng tất cả phụ nữ đều chịu ảnh hưởng ở mức độ nào đó” [238,
tr199], và đó là lý do đầu thế kỷ XX phụ nữ bắt đầu lên tiếng phản kháng. Ông
cũng quan tâm tới sự ra đời của các tờ báo Nữ giới chung, Phụ nữ tân văn, Hội
nữ công của bà Đạm Phương ở Huế, chủ nghĩa Mác và vấn đề phụ nữ, cũng như
sự bùng nổ của các cuốn sách và cẩm nang cho phụ nữ
Năm 1995, chương trình Đông Nam Á của Đại học Cornell ở Mỹ xuất bản
tập Essays into Vietnamese pasts (Những bài tiểu luận về Việt Nam xưa) trong
đó có bài: Printing and power: Vietnamese Debates over Women’s Place in
Society, 1918-1934 (Ấn phẩm và quyền lực: Các cuộc thảo luận ở Việt Nam xung
quanh vấn đề vị trí của người phụ nữ trong xã hội 1918-1934) của Shawn Mc
Hale. Bài báo đã phân tích ảnh hưởng của báo chí và sách trong thời gian đầu thế
kỷ XX đối với nhận thức của phụ nữ về vấn đề nam nữ bình quyền, cũng như ý
8
nghĩa của cuộc thảo luận trên hai tờ báo Nữ giới chung và Phụ nữ tân văn về vị
trí của phụ nữ trong xã hội.
Có thể nói, đây là hai công trình nghiên cứu hiếm hoi của học giả nước
ngoài có liên quan trực tiếp đến đề tài của luận án. Các tác giả cũng đồng thời là
những người đầu tiên đặt “vấn đề phụ nữ” trong bối cảnh những thay đổi về kinh
tế, xã hội và văn hoá ở Việt Nam thời kì cận đại. Tuy nhiên, hai công trình này
chủ yếu mới chỉ khảo sát hai tờ báo phụ nữ là báo Nữ giới chung và Phụ nữ tân
văn, trong khi hầu hết các báo xuất bản ở Việt Nam thời kì này đều có nhiều bài
viết về phụ nữ. Đặc biệt là sự xuất hiện của dòng báo phụ nữ, cũng như ảnh
hưởng của đường lối vận động phụ nữ của Đảng Cộng sản Việt Nam tới cuộc
thảo
luận trên báo chí thì chưa được khai thác bao nhiêu.
Năm 1997, chúng tôi đã hoàn thành bản Luận văn thạc sỹ với đề tài “Vấn
đề phụ nữ trên báo chí tiếng Việt trước và sau chiến tranh Thế giới lần thứ
nhất” (Qua trường hợp các tờ Đăng cổ tùng báo, Đông Dương tạp chí, Nam
của phụ nữ về các vấn đề phụ nữ trong thời kì đầu thế kỷ XX cho tới trước Cách
mạng tháng Tám năm 1945 thì hầu như chưa có ai nghiên cứu. Hơn thế, theo
chúng tôi, đây lại chính là điểm quan trọng để tạo nên những thay đổi căn bản
trong hành động của phụ nữ vì quyền lợi của bản thân họ. Như mọi người đều
thống nhất rằng: phụ nữ muốn được giải phóng, trước hết họ phải tự giải phóng
mình, cuộc đấu tranh đòi nữ quyền và giải phóng phụ nữ phải xuất phát từ nhận
thức của bản thân phụ nữ. Vì vậy, mục đích nghiên cứu của chúng tôi là tìm hiểu
“vấn đề phụ nữ” ở Việt Nam đã hình thành như thế nào trong một xã hội thuộc
địa nửa phong kiến, quá trình nhận thức của phụ nữ về các vấn đề của mình qua
báo chí tiếng Việt xuất bản ở Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám năm 1945.
Cũng qua tư liệu báo chí, chúng tôi muốn góp phần tìm hiểu những thay đổi
trong đời sống của phụ nữ, phong trào phụ nữ và những đóng góp của phụ nữ đối
với cuộc đấu tranh chung của toàn dân tộc.
Phụ nữ là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học. Không những
thế, trong điều kiện cụ thể ở Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX cho đến Cách
10
mạng tháng Tám năm 1945, phụ nữ ngày càng trở thành một lực lượng quan
trọng trên tất cả mọi lĩnh vực: văn hoá, kinh tế, xã hội và chính trị. Vì vậy,
những vấn đề liên quan đến phụ nữ được đăng tải trên cả báo chí tiếng Pháp lẫn
tiếng Việt là hết sức phong phú. Do đối tượng nghiên cứu rộng lớn, bao quát
nhiều khía cạnh của cuộc sống, được phản ánh trên một khối lượng khổng lồ các
báo xuất bản bằng tiếng Việt trong khoảng thời gian gần một nửa thế kỷ, trong
khuôn khổ của một luận án tiến sĩ, chúng tôi không có tham vọng giải quyết tất
cả các vấn đề đặt ra liên quan tới phụ nữ. Với mục tiêu làm sáng tỏ quá trình
nhận thức của phụ nữ, cũng như của xã hội về những vấn đề như vai trò, địa vị
của phụ nữ trong xã hội, vấn đề nữ quyền và giải phóng phụ nữ , chúng tôi giới
hạn nghiên cứu và khảo sát của mình qua các bài báo có tính chính luận đề cập
tới quan niệm, nhận thức về vấn đề phụ nữ và một số tin tức có liên quan tới đời
sống phụ nữ Đối với các sáng tác văn học, chúng tôi chỉ khai thác một số tác
ký của các nhà văn, nhà báo tiêu biểu như Bốn mươi năm nói láo của Vũ Bằng,
Chúng tôi làm báo của Nguyễn Văn Trấn, Hồi ký Tô Hoài, Hồi ký Trần Huy Liệu,
Hồi ký Thanh Nghị, hồi ký của bà Trần Thị Như Mân , hoặc hồi ký của các nữ văn
sĩ Anh Thơ, Tùng Long , hồi ký của các nữ chiến sĩ cách mạng như Nguyễn Thị
Lựu, Bảo
Lương Nguyễn Trung Nguyệt, Tôn Thị Quế, Đường Thị Ân, Trương Thị Mỹ
Với đề tài “Vấn đề phụ nữ trên báo chí tiếng Việt trước Cách mạng tháng
Tám năm 1945”, nguồn tư liệu chính của chúng tôi là toàn bộ báo chí tiếng Việt từ
khi xuất hiện đến trước Cách mạng tháng Tám năm 1945. Tuy nhiên, do tình hình
lưu trữ tư liệu có nhiều hạn chế, nhiều tờ báo không còn được lưu trữ tại các thư
viện, nhiều tờ báo chỉ còn lưu trữ được một số năm, do đó chúng tôi chỉ có thể khai
thác được những tờ báo hiện còn lưu trữ trong các thư viện của Việt Nam. Một điều
rất may mắn là một số tờ báo phụ nữ quan trọng vẫn còn lưu trữ được khá đầy đủ
như tờ Nữ giới chung, Phụ nữ tân văn, Phụ nữ thời đàm, Phụ nữ tân tiến, Đàn bà
mới ; và ở bất cứ giai đoạn nào cũng có một số tờ báo quan trọng còn được lưu
12
giữ. Mặc dù không khảo sát được toàn bộ các tờ báo với đầy đủ các số báo, nhưng
với 102 tờ báo gồm hàng ngàn trang báo về phụ nữ trên đủ các loại tuần báo, nhật
báo, báo tin tức thời sự thông thường, báo chuyên biệt trong đó có hơn mười tờ
báo phụ nữ, chúng tôi hy vọng có thể dựng lại một cách khách quan quá trình nhận
thức của xã hội cũng như của phụ nữ về các vấn đề của phụ nữ.
Với tư cách là một nguồn sử liệu, báo chí có mặt mạnh là phản ánh khá toàn
diện các sự kiện lịch sử vào đúng thời điểm sự kiện xảy ra, đồng thời thể hiện được
tính phong phú, đa dạng và phức tạp trong cách đánh giá các sự kiện của xã hội
đương thời đối với các sự kiện. Không những thế báo chí còn cung cấp thông tin
nhiều mặt của cuộc sống. Đặc biệt, để phản ánh nhận thức, quan điểm của cá nhân
hay một tầng lớp xã hội về các vấn đề thuộc lĩnh vực văn hoá tư tưởng thì báo chí là
một nguồn tư liệu trực tiếp đáng tin cậy.
Với đối tượng nghiên cứu là “Vấn đề phụ nữ trên báo chí tiếng Việt
cái nhìn toàn diện, khách quan và cụ thể, phản ánh trung thực thực chất, cũng như ý
nghĩa của vấn đề phụ nữ trên báo chí trước Cách mạng tháng Tám năm 1945.
5. Đóng góp của luận án
Là công trình đầu tiên nghiên cứu “Vấn đề phụ nữ trên báo chí tiếng Việt trước
Cách mạng tháng Tám năm 1945”, luận án có những đóng góp cụ thể sau:
Làm rõ quá trình hình thành cũng như thực chất của vấn đề phụ nữ trong xã hội
Việt Nam dưới chế độ thuộc địa của Pháp những năm trước Cách mạng tháng Tám
năm 1945; Vạch ra được quá trình nhận thức của phụ nữ nói riêng và của xã hội nói
chung về vai trò và địa vị của phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội. Đó là quá trình
nhận thức
từ thấp tới cao những khái niệm dân chủ tư sản về vấn đề phụ nữ như nữ quyền và giải
phóng phụ nữ.
- Cũng lần đầu tiên, cuộc đấu tranh trên lĩnh vực văn hoá tư tưởng giữa khuynh
hướng nữ quyền mác-xit với khuynh hướng nữ quyền tư sản được luận án khảo sát và
trình bày cụ thể, từ đó làm rõ vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam trong cuộc vận
14
động phụ nữ tham gia vào cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và vì sự tiến bộ xã hội
của nhân dân Việt Nam.
- Qua vấn đề phụ nữ trên báo chí, luận án nêu lên những thay đổi trong xã hội
Việt Nam từ gia đình tới lối sống, sinh hoạt văn hoá của tầng lớp tiểu tư sản thành thị
nói chung và của phụ nữ đô thị nói riêng dưới tác động của chính sách cai trị của Pháp
và ảnh hưởng của sự tiếp xúc văn hoá Đông- Tây.
- Luận án cũng phản ánh những đóng góp của phụ nữ trí thức vào sự phát triển
của phong trào phụ nữ cũng như đóng góp của họ và toàn thể phụ nữ trong phong trào
giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam.
- Cũng từ việc nghiên cứu vấn đề phụ nữ trên báo chí, luận án khẳng định vai
trò của báo chí trong việc định hướng nhận thức, tổ chức và hướng dẫn phụ nữ
trong công cuộc vận động giải phóng phụ nữ và giải phóng dân tộc .
- Tìm hiểu “vấn đề phụ nữ trên báo chí” cũng là góp thêm một nguồn sử liệu
làm cỏ, bón phân, tát nước Hình ảnh: “Trên đồng cạn, dưới đồng sâu, chồng cày,
vợ cấy, con trâu đi bừa” là hình ảnh tiêu biểu ở nông thôn Việt Nam.
Một đặc điểm khác trong lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam là do địa
bàn cư trú của người Việt nằm ở lưu vực những con sông lớn, có độ dốc cao, lũ lụt
thường xuyên xảy ra, nên từ hàng ngàn năm trước, để bảo vệ cuộc sống và mùa
màng, người Việt không thể không đắp đê, phòng lụt. Hơn nữa, bản thân nền kinh
tế nông nghiệp trồng lúa nước phụ thuộc rất nhiều vào hệ thống tưới tiêu. Vì vậy,
đắp đê, làm thuỷ lợi là công việc thường xuyên, đòi hỏi công sức của nhiều người,
đặc biệt là nam giới.
Ngoài ra, với vị trí là chiếc cầu nối giữa lục địa châu Á rộng lớn với vùng
Đông Nam Á hải đảo, Việt Nam thường xuyên bị đe dọa bởi nạn ngoại xâm. Có thể
nói, hiếm có một quốc gia nào trên thế giới trong lịch sử tồn tại và phát triển của
mình lại phải tiến hành chống ngoại xâm nhiều lần và trong nhiều thế kỷ như Việt
Nam. Do đó, nam giới luôn luôn bị huy động vào nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ Tổ
quốc.
16
Như vậy, nếu như làm thuỷ lợi và chống ngoại xâm là hai nhân tố cơ bản tạo
nên sự cố kết cộng đồng và là điều kiện thúc đẩy nhà nước hình thành sớm ở Việt
Nam, thì đó cũng chính là nguyên nhân làm cho phụ nữ Việt Nam phải gánh vác
thêm nhiều trách nhiệm đối với gia đình và làng xóm. Đó là khi nam giới thường
xuyên phải vắng nhà vì bị huy động đi làm thuỷ lợi và đi đánh giặc bảo vệ tổ quốc
thì phụ nữ phải đảm đang, gánh vác mọi việc từ lao động sản xuất ngoài đồng ruộng
cho tới nuôi dạy con cái, chăm sóc cha mẹ già Ca dao xưa có nhiều câu phản ánh
thực tế này:
“Chàng ơi phải lính thì đi
Cửa nhà sau trước đã thì có em”
“Anh đi em ở lại nhà
Hai vai gánh vác mẹ già con thơ”.
Hay: “Anh đi theo chúa Tây Sơn,
Việt Nam là những người có vai trò to lớn trong nền sản xuất gia đình và xã hội, và
điều này mặc nhiên đã góp phần tạo nên địa vị của họ trong xã hội. Bằng nhiều cách
tiếp cận khác nhau, gần đây khuynh hướng chung của các nhà khoa học đều cho
rằng người phụ nữ có địa vị cao trong gia đình truyền thống Việt Nam. Điều này
không những được phản ánh qua tư liệu lịch sử mà còn được khắc hoạ trong các
truyền thuyết, ngôn ngữ và các phong tục, tập quán, tín ngưỡng, văn hoá dân gian
vẫn còn được lưu giữ đến ngày nay, bất chấp ảnh hưởng khá sâu của Nho giáo vào
đời sống chính trị trong xã hội Việt Nam truyền thống. Đó cũng là lý do dẫn đến
một số ý kiến phản đối phong trào đòi nữ quyền và giải phóng phụ nữ thời kì đầu
thế kỷ XX vì cho rằng ngay trong thời kì phong kiến, phụ nữ Việt Nam đã có nữ
quyền.
1.1.2. Ảnh hƣởng của Nho giáo đối với địa vị của phụ nữ Việt Nam trong lịch
sử
Nho giáo là một học thuyết chính trị xuất hiện ở Trung Quốc từ thời
Xuân Thu (722-481TCN). Tuy mỗi thời kì, mỗi triều đại, Nho giáo chia thành
nhiều khuynh hướng khác nhau, nhưng về cơ bản, Nho giáo lấy thuyết “Tam
18
cương” làm trụ cột trong việc trị nước. “Tam cương” là ba mối quan hệ cơ bản
trong xã hội: vua - tôi, cha - con và vợ - chồng. Quan hệ vua - tôi đề cao chữ trung,
nhấn mạnh vào nghĩa vụ của bề tôi đối với vua; quan hệ cha - con đề cao chữ hiếu-
nhấn mạnh vào nghĩa vụ của con đối với cha; quan hệ vợ - chồng đặt người phụ nữ
vào địa vị phụ thuộc người đàn ông là chủ và là chồng trong gia đình.
Theo Nho giáo, phụ nữ phải giữ đạo “tam tòng” và trau dồi “tứ đức”. “Tam
tòng” với nội dung: Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử (khi chưa
lấy chồng, ở nhà thì phải theo cha, khi lấy chồng thì phải theo chồng và khi chồng
chết phải theo con trai) rõ ràng đã tước đoạt quyền tự do của người phụ nữ.
Quan niệm về “tứ đức” xuất hiện lần đầu tiên trong sách Nữ giới của bà Ban
Chiêu
1