Quá trình mở rộng lãnh thổ Mỹ trong thế kỷ XIX - Pdf 25

1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA THỊ HẰNG

QUÁ TRÌNH MỞ RỘNG LÃNH THỔ MỸ
TRONG THẾ KỶ XIX
LUẬN VĂN THẠC SỸ LỊCH SỬ
Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành: Lịch sử Thế giới
Mã số: 602250

Người hướng dẫn khoa học: TS. Trần Thiện Thanh

Hà Nội-2012
3

MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
2.Lịch sử nghiên cứu vấn đề
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.Phương pháp nghiên cứu
5. Bố cục luận văn

11
11
13
14

14

20

22
22
25

31 37
41
4

(1819)
2.3. Sáp nhập Oregon (1818-1846)- mở rộng lãnh thổ phía
Tây Bắc
2.4. Sáp nhập Texas (1845), hiệp ước Guadalupe Hidalgo
(1848)- mở rộng lãnh thổ phía Tây Nam
2.5. Thương vụ Gadsden (1854) - hoàn chỉnh biên giới phía
Tây Nam
2.6. Thương vụ Alaska(1867) và cuộc xâm chiếm Hawaii
(1898)-kết thúc quá trình mở rộng lãnh thổ
Chương 3: Tác động của quá trình mở rộng lãnh thổ đối với sự

80
83
88 5

PHẦN MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
Sau Chiến tranh giành độc lập (1773-1783), một đất nước tự chủ ở Bắc Mĩ
đã xuất hiện với tên gọi Hợp chúng quốc Mĩ. Thắng lợi của nhân dân Mĩ tạo điều
kiện cho nền kinh tế công thương nghiệp tư bản miền Bắc phát triển trên cơ sở kế
thừa những thành tựu cách mạng kĩ thuật mới với những tiềm năng to lớn như tài
nguyên, nhân công, đồng thời cũng bảo vệ quyền lợi của các chủ nô, mở đường
cho sự phát triển của chế độ nô lệ đồn điền ở miền Nam. Sự phát triển nhanh chóng
của hai mô hình kinh tế đặt ra yêu cầu bức thiết về một thị trường rộng lớn. Trước
yêu cầu đó, chính phủ Mĩ đã đề ra nhiều chính sách thúc đẩy sự phát triển đất nước
và thoả mãn cơn khát thị trường trong đó có Sắc lệnh Tây Bắc (1787). Sắc lệnh này
đặt nền tảng cho việc di dân đến những vùng đất mới, xác định đường ranh giới mới
cho nước Mĩ.
Tuy nhiên, Mĩ đang gặp rất nhiều khó khăn. Thứ nhất, sau khi giành độc lập,
nước Mĩ vẫn còn nhiều vấn đề phải giải quyết, như: khôi phục nền kinh tế, ổn định
đời sống xã hội, và đặc biệt là vấn đề xóa bỏ hay chấp nhận chế độ nô lệ. Thứ hai,
Mĩ đang bị kiềm toả bởi các nước Anh, Pháp, Tây Ban Nha và Nga ngay trong khu
vực Bắc Mĩ. Mặc dù Anh buộc phải công nhận nền độc lập của Mĩ (1783) nhưng
với thực lực yếu, nếu Mĩ không có chiến lược tốt có thể nền độc lập đó sẽ bị mất
vào tay của Anh hoặc Pháp. Trong khi đó, đến cuối thế kỷ XIX, thế giới đã được

Các nhà nghiên cứu đặc biệt là giới sử học Mĩ đã có nhiều công trình nghiên
cứu có giá trị. Trước tiên phải nói tới một số công trình mang tính tổng quan như
cuốn “Khái quát lịch sử nước Mĩ” của tác giả Howard Cincotta, hay cuốn “42 đời
tổng thống Mĩ” của William A Degregorio, “Lịch sử Mĩ” của Franck L. Schoell.
Đây là những tác phẩm mang tính khái quát, hệ thống những sự kiện diễn ra trong
lịch sử nước Mĩ từ khi lập quốc đến ngày nay. Qua những tác phẩm này, người đọc
có nhận thức tổng quan về lịch sử nước Mĩ. Một số cuốn sách khác như “Khái quát
về kinh tế Mĩ” của Robert L.Mc Can, Mark Perlman, William H. Peterson, cuốn
“Khái quát về địa lý Mĩ” của Stephen S.Birdsall, John Florin là những công trình
7

viết về từng khía cạnh cụ thể, trong đó có đề cập tới việc mở rộng lãnh thổ và những
tác động của nó đến nền kinh tế Mĩ.
Cuốn “Lịch sử Mĩ: Những vấn đề quá khứ” của Irwin Unger đề cập khá chi
tiết những sự kiện diễn ra trong quá khứ từ những người Mĩ đầu tiên đến khi có sự
xâm nhập của những người châu Âu vào châu Mĩ, đặc biệt là từ sau phát kiến địa lý
của Columbus năm 1492 cho đến khi Mĩ trở thành một nước đế quốc. Tác phẩm này
cũng đã đề cập tới từng giai đoạn phát triển của nước Mĩ đặc biệt là những vấn đề
liên quan đến quá trình mở rộng lãnh thổ của Mĩ như việc mua Louisiana, Florida,
Oregon, Texas, Alaska, Hawaii, đem đến cho người đọc cái nhìn tổng quan ứng
với những điều kiện lịch sử diễn ra ở giai đoạn đó. Bên cạnh đó, cuốn “America:
Past and Present” của các tác giả Robert A.Divine, T.H.Breen, George
M.Fredrickson cũng cho chúng ta thấy một bức tranh toàn cảnh về nước Mĩ từ thời
kỳ lập quốc cho đến hiện nay, đặc biệt là những sự kiện diễn ra vào thế kỷ XIX.
Hay cuốn “American history: The early years to 1877” của Donald A.Ritchie, cuốn
“History of the United States Vol. 2: Civil war to the Present” của Thomas V.
DiBacco, Lorna C.Mason, Christian G.Appy cung cấp những thông tin cụ thể về sự
phát triển kinh tế- xã hội và việc mở rộng lãnh thổ Mĩ trong nửa đầu thế kỷ XIX.
Những tác phẩm này đã đề cập những vấn đề hết sức căn bản và những ý đồ chính
trị của Mĩ trong thế kỷ XIX, và đồng thời bộc lộ những quan điểm của giới sử học

cầu mở rộng lãnh thổ Mĩ gắn với chính sách đối ngoại của các Tổng thống Mĩ ở
những thời kỳ khác nhau.
Tác phẩm “Louisiana Puchase” của Thomas Fleming, đề cập một cách chi
tiết quá trình trao đổi giữa Pháp và Mĩ trong việc mua Louisiana, những khó khăn
mà Pháp và Mĩ gặp phải trong suốt thời gian thương thuyết và những tác động của
tình hình thế giới và khu vực buộc Pháp phải chấp nhận bán vùng đất trên cho Mĩ.
Một nguồn tài liệu hết sức quan trọng khác là một số trang Website như:
www.avalon.law.yale.edu
,
www.mexica.net
,
www.earlyamerica.com
, www2.census.gov,
v.v Tại đây, chúng tôi khai thác và sử dụng những hiệp ước ký kết giữa Mĩ và các
nước châu Âu-kết quả của các cuộc thương thuyết về việc chuyển nhượng và sáp
9

nhập lãnh thổ Mĩ và các nguồn số liệu thống kê lịch sử có giá trị về: kinh tế, dân số,
tài nguyên của Mĩ.
Ở trong nước:
Nhiều nhà nghiên cứu cũng đã đề cập tới vấn đề này dưới những góc độ khác
nhau như cuốn “Lịch sử Thế giới Cận đại” của Vũ Dương Ninh và Nguyễn Văn
Hồng, cuốn “Lịch sử nước Mĩ” của Vương Kính Chi, cuốn “Hợp chủng quốc Hoa
Kỳ” của Đào Huy Ngọc, Nguyễn Thái Yên Hương, Bùi Thanh Sơn. Đây là những
tác phẩm đề cập khái quát tới vấn đề mở rộng lãnh thổ Mĩ. Cuốn “Nội tình 200 năm
Nhà Trắng” của Lý Thắng Khải đề cập cuộc sống và hoạt động chính trị của 43 đời
Tổng thống Mĩ từ Washington đến Bush (con). Cuốn sách này lấy các sự kiện trọng
đại trong lịch sử nước Mĩ cũng như là các sự kiện có ảnh hưởng lớn đến sự nghiệp
các tổng thống làm cơ sở để phân tích. Từ đó cho chúng ta thấy được sự biến đổi
của nền kinh tế-chính trị và xã hội Mĩ ở mỗi đời tổng thống.

số 2-2001 của tác giả Nguyễn Thái Yên Hương cho chúng ta thấy bản chất của việc
mở rộng lãnh thổ sang phía Tây của chính phủ Liên bang thông qua những chính
sách của chính phủ đối người bản địa Mĩ trong lịch sử cho đến ngày nay.
Tóm lại, các công trình trên, đặc biệt là những công trình nghiên cứu trong
nước đã đề cập đến quá trình mở rộng lãnh thổ Mĩ dưới nhiều góc độ khác nhau
song chưa mang tính hệ thống. Để hiểu rõ hơn và có cách nhìn khách quan hơn về
vấn đề này chúng ta cần phải nghiên cứu sâu và hệ thống hơn về quá trình mở rộng
lãnh thổ Mĩ từ sau chiến tranh giành độc lập đến cuối thế kỷ XIX, qua đó có thể
nhận thức sâu sắc về nguồn gốc và động lực dẫn đến sự phát triển của nước Mĩ hiện
tại.
Xuất phát từ việc muốn tìm hiểu, nghiên cứu chuyên sâu một trong những
vấn đề cơ bản nhất trong lịch sử của Mĩ trên cơ sở tài liệu hiện có, tôi quyết định
chọn nghiên cứu “Quá trình mở rộng lãnh thổ Mĩ trong thế kỷ XIX” làm đề tài
nhằm có một cách nhìn toàn diện hơn về nước Mĩ ở thế kỷ XIX. Đồng thời, góp
phần bổ sung nguồn tài liệu tham khảo trong việc nghiên cứu lịch sử nước Mĩ. Trên
cơ sở phân tích, tổng hợp tài liệu, luận văn sẽ hệ thống hóa vấn đề mở rộng lãnh thổ
của nước Mĩ trong thế kỷ XIX từ đó rút ra một số nhận xét về tác động của việc mở
11

rộng lãnh thổ đến nền kinh tế-chính trị-xã hội và văn hoá Mĩ cũng như đối với việc
hoạch định chính sách đối ngoại của Mĩ.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
-Đối tượng nghiên cứu: Quá trình mở rộng lãnh thổ của Mĩ trong thế kỷ XIX.
Để làm sáng tỏ vấn đề này, luận văn sẽ đề cập một số vấn đề liên quan như mối
quan hệ của Mĩ với các nước ở châu Âu như Anh, Pháp, Nga, Tây Ban Nha cũng
như những chính sách của Mĩ trong việc từng bước loại bỏ ảnh hưởng của các nước
này ở Bắc Mĩ nói riêng và châu Mĩ nói chung.
-Phạm vi nghiên cứu:
+ Về thời gian: Luận văn nghiên cứu “Quá trình mở rộng lãnh thổ Mĩ trong
thế kỷ XIX” cụ thể là từ năm 1803 với việc Mĩ sáp nhập vùng đất Louisiana thuộc

Chương 2: Quá trình mở rộng lãnh thổ Mĩ thế kỷ XIX
Đây là chương chính của luận văn. Vì vậy, nội dung chương 2 tập trung giải
quyết các vấn đề nghiên cứu đặt ra như: Thương vụ Louisiana (1803), Vấn đề
Florida (1819), sáp nhập Oregon (1846) và Texas (1845), cũng như các cuộc
thương thuyết giữa chính phủ Mĩ với chính phủ các nước Pháp, Anh, Tây Ban Nha,
Nga nhằm sáp nhập các vùng đất trên vào lãnh thổ Mĩ.
Chương 3: Tác động của việc mở rộng lãnh thổ đối với sự phát triển của Mĩ
Chương này phân tích những tác động của quá trình mở rộng lãnh thổ Mĩ tới
những chuyển biến trong xã hội Mĩ như sự thay đổi thành phần dân cư, chuyển biến
về kinh tế-xã hội, tác động đối với sự hình thành một số yếu tố cấu thành đặc điểm
văn hóa Mĩ, tác động đối với việc hình thành chính sách đối ngoại của Mĩ trong thế
kỷ XIX.

13

CHƯƠNG I
TÌNH HÌNH NƯỚC MĨ VÀ YÊU CẦU MỞ RỘNG LÃNH THỔ MĨ TRONG
THẾ KỶ XIX
1.1. Bối cảnh quốc tế và khu vực
1.1.2.Bối cảnh quốc tế
Sau cuộc cách mạng tư sản, nước Pháp rơi vào tình trạng không ổn định, các
tập đoàn tư sản thay phiên nhau nắm quyền. Bằng cuộc đảo chính ngày 9/11/1799,
năm 1804, Đế chế thứ nhất do Napoleon đứng đầu được thiết lập, đẩy nhân dân
châu Âu vào vòng xoáy chiến tranh tranh giành địa vị bá chủ kéo dài trên một thập

Bên cạnh đó, vào đầu thế kỷ XIX, trên cơ sở những thành tựu của cuộc cách
mạng công nghiệp đã thúc đẩy nền kinh tế tư bản chủ nghĩa ở châu Âu phát triển.
Với vai trò là “công xưởng thế giới”, nước Anh vươn lên vị trí đứng đầu nền kinh tế
thế giới cùng với quyền bá chủ trên biển khiến Anh cần có người đứng về phía
mình trong việc giải quyết các tranh chấp quốc tế. Với tính toán đó, Anh đã chọn
Pháp bởi lúc này Pháp đang bị các nước Nga, Áo, Phổ cô lập nên Pháp muốn dựa
vào Anh để phát triển. Điều này đã đẩy hai nước kình địch xích lại gần nhau bằng
“thoả ước thân thiện” và trở thành nhân tố chính chi phối tình hình châu Âu trong
những năm 30-40 của thế kỷ XIX. Song, những mâu thuẫn về kinh tế, chính trị và
thuộc địa giữa hai nước tư bản này trở nên gay gắt làm cho mối liên minh tan vỡ.
Tình hình phức tạp trong quan hệ quốc tế đầu thế kỷ XIX cũng đã tác động
lớn đến Mĩ. Mặc dù vào thời điểm này, vị thế của Mĩ trên trường quốc tế còn thấp
kém thậm chí là mục tiêu tranh chấp của Anh, Pháp và Nga nhưng Mĩ không để các
nước này lôi kéo vào các vụ tranh chấp quốc tế mà tận dụng cơ hội để phát triển đất
nước. Cuối thế kỷ XIX, đặc biệt là sau Nội chiến (1861-1865), kinh tế tư bản chủ
nghĩa Mĩ phát triển mạnh, việc lãnh thổ được mở rộng đã không đáp ứng được sự
phát triển đó. “Vận mệnh hiển nhiên” của Mĩ không chỉ dừng lại ở Bắc Mĩ mà còn
được mở rộng trên toàn thế giới. Cùng với Anh và Pháp, Mĩ đã bắt đầu tham gia
vào việc giành giật thị trường không chỉ ở Mĩ-Latinh mà còn sang cả châu Á-Thái
Bình Dương trước tiên là việc Mĩ chiếm Philippines (1898) từ Tây Ban Nha và
15

chính sách “mở cửa” Trung Quốc (1900). Nước Mĩ đã thực sự lớn mạnh và đóng
một vai trò quan trọng trong quan hệ quốc tế.
1.1.2. Bối cảnh khu vực
Cuộc chiến tranh giành độc lập của 13 bang thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ giành
thắng lợi, tác động mạnh mẽ tới phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân khu
vực Mĩ-Latinh. Cùng với sự suy yếu của Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha trong những
thập niên đầu của thế kỷ XIX, phong trào đấu tranh giành độc lập của nhân dân Mĩ-
Latinh phát triển mạnh. Tất cả các nước thuộc khu vực Mĩ-Latinh nói tiếng Tây Ban

dừng lại ở đó, cuối thế kỷ XIX, tổ chức Liên minh toàn châu Mĩ (1889) được thành
lập nhằm biến các nước Mĩ-Latinh thành một khối phụ thuộc vào Mĩ, buộc những
nước đó phải theo đường lối chính trị của Mĩ. Đồng thời dùng tổ chức này đấu tranh
chống lại thế lực của Anh ở khu vực này và nâng cao vị thế của Mĩ trên trường quốc
tế. Như vậy, bằng những thủ đoạn tinh vi núp dưới chiêu bài “độc lập dân tộc”,
“hợp tác và đoàn kết” nhân dân các nước Mĩ- Latinh, Mĩ đã dần tạo được chỗ đứng
ở khu vực và loại bỏ thế lực của các nước châu Âu, biến Mĩ- Latinh thành “sân sau”
vào đầu thế kỷ XX.
1.2. Tình hình nước Mĩ và yêu cầu mở rộng lãnh thổ Mĩ
1.2.1. Nước Mĩ nửa đầu thế kỷ XIX
1.2.1.1. Sự phát triển nền kinh tế tự chủ và yêu cầu mở rộng thị trường dân tộc
Sau Chiến tranh giành độc lập, Mĩ có điều kiện phát triển nền kinh tế tự chủ.
Với những lợi thế về lực lượng lao động, tài nguyên thiên nhiên, đất đai, bờ biển dài
với những hải cảng tốt, cùng với những thành tựu của cuộc cách mạng công
nghiệp diễn ra ở châu Âu nói chung và Mĩ nói riêng đã góp phần làm cho kinh tế Mĩ
phát triển nhanh chóng. Tuy nhiên, sau Chiến tranh giành độc lập, kinh tế Mĩ phát
triển theo hai con đường chủ yếu: công thương nghiệp, nông nghiệp trại chủ nhỏ ở
miền Bắc và kinh tế nông nghiệp đồn điền ở miền Nam.
Trước hết là công nghiệp, Mĩ là nước chịu ảnh hưởng mạnh mẽ cuộc cách
mạng công nghiệp diễn ra ở châu Âu mà đầu tiên là ở Anh suốt thế kỷ XVIII và
XIX. Đầu những năm 1800, cách mạng công nghiệp diễn ra ở Mĩ, ngành công
17

nghiệp nhẹ phát triển nhanh chóng, đặc biệt là công nghiệp dệt. Đặt nền móng cho
sự phát triển của lĩnh vực này là sự kiện năm 1789 Samuel Slater cho xây dựng nhà
máy kéo sợi ở Pawtucket gần sông sử dụng sức mạnh của 72 cọc suốt chạy bằng
sức nước trên cơ sở tái tạo lại hoạt động nhà máy kéo sợi của Arkwright. Năm
1800, bảy nhà máy tương tự được xây dựng gần các con sông. Cuộc cách mạng
công nghiệp đã thực sự diễn ra ở Mĩ. Hệ quả là, vùng Đông Bắc sớm trở thành trung
tâm công nghiệp của nước Mĩ bởi nơi đây có nhiều dòng sông chảy qua. Những cải

New York tới Albany với thời gian 32 giờ. Chuyến đi quay lại hạ lưu mất 30 giờ.
Tiếp nối thành công của tàu Clermont, nhiều tàu chạy bằng hơi nước đã đưa người
và hàng hoá dọc theo sông Mississipi và Great Lakes. Hệ thống đường thuỷ đã trở
thành tuyến đường thương mại nội địa quan trọng giúp việc lưu thông hàng hoá
được thuận tiện nhanh chóng. Hiệu quả của tuyến đường này được tiếp tục phát huy
với sự kiện một con kênh ngắn được xây dựng vào năm 1815. Việc chở hàng rõ
ràng đem lại hiệu quả cao hơn chuyên chở bằng đường bộ bởi trọng tải trung bình
của tàu thuỷ lớn hơn gấp 3 lần các xe chở hàng trên bộ. Tuy nhiên, tầm quan trọng
của việc xây dựng những con kênh nối các tuyến đường thuỷ chỉ được nhận ra khi
việc xây dựng kênh Eric hoàn thành năm 1825. Sự kiện này, đã đem lại lợi nhuận
khổng lổ cho New York vì kênh Eric mở ra tuyến đường thuỷ nối Great Lakes với
cảng New York trên bờ biển Đại Tây Dương. Nhờ đó, hàng hoá từ Đông Bắc được
chuyển tới miền Tây dễ dàng, nhanh chóng với giá thành rẻ nhất. Hệ quả là, thành
phố New York đã trở thành trung tâm chính cho việc chuyên chở hàng hoá tới Great
Lakes. Ngoài ra, việc xây dựng kênh Eric còn đem lại một thành tựu khác đó là liên
kết hệ thống đường thuỷ của Pennsylvania với Philadelphia. Ở Ohio và Indiana,
những con kênh này lại liên kết các cảng Great Lakes với sông Ohio và sông
Mississipi, còn những con kênh ở New Jersey được nối với Delaware và sông
Raritan. Qua đó, tạo nên sự liên kết chặt chẽ trong việc vận chuyển, giúp hàng hoá
lưu thông một cách nhanh chóng và thuận tiện.
Cùng với sự mở rộng các tuyến đường bộ và đường sông, đường sắt cũng là
tuyến đường hết sức quan trọng cho sự phát triển của công nghiệp Mĩ trong thế kỷ
19

XIX. Năm 1850, tuyến đường sắt đầu tiên được xây dựng với chiều dài 15.000 km,
đứng đầu thế giới. Sự phát triển mạng lưới giao thông vận tải ở Mĩ nửa đầu thế kỷ
XIX đã góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế Mĩ đặc biệt là sự mở rộng mạng lưới
thương mại nội địa, kích thích sự phát triển của thị trường dân tộc, gắn kết các vùng
miền với nhau. Bên cạnh đó, việc xây dựng các tuyến đường sắt cũng tạo lực đẩy
cho sự phát triển của ngành công nghiệp gang thép. “Sản xuất gang thép đã nhanh

triển kinh tế nông nghiệp, nhiều nông dân đã trở thành chủ trang trại một cách dễ
dàng. Điều này đã làm cho nông nghiệp Mĩ vào thế kỷ XIX có đặc điểm là ở miền
Bắc và Tây Bắc, kinh tế trại chủ nhỏ chiếm ưu thế còn ở miền Nam kinh tế nông
nghiệp đồn điền phát triển mạnh nằm trong tay các chủ nô. Các chủ trại nhanh
chóng tạo lập cuộc sống ổn định bằng việc sản xuất hàng hoá, cung cấp nguyên liệu
đáp ứng nhu cầu của kinh tế công nghiệp. Chỉ tính từ 1840-1860, sản xuất lương
thực ở các bang Tây Bắc tăng gấp 3 lần. Ngành chăn nuôi, theo đó cũng phát triển
cung cấp một lượng thịt lớn đáp ứng nhu cầu của thị trường. Nông nghiệp kết hợp
với trồng trọt và chăn nuôi đã đem lại cho những cư dân ở đây sự đảm bảo kinh tế
vững chắc.
Ở miền Nam, việc trồng bông cũng nhanh chóng phát triển đem lại nguồn lợi
kinh tế lớn cho các chủ đồn điền. Nhân tố cơ bản làm gia tăng năng suất trồng bông
ở miền Nam là việc nhập những loại bông mới, việc sáng chế ra máy tỉa bông của
Eli Whitney vào năm 1793 và nhu cầu về nguyên liệu bông. Đầu thế kỷ XIX, bông
trở thành một loại cây trồng có giá trị được ví như “vàng trắng”. Vì vậy, cây bông
được trồng khắp miền Nam song đặc điểm của loại cây này là làm cạn kiệt sự màu
mỡ của đất đai nhanh chóng nên đối với các chủ đồn điền miền Nam việc tìm kiếm
những vùng đất mầu mỡ trở nên cấp thiết. Việc mở rộng lãnh thổ sang miền Tây đã
làm diện tích trồng bông tăng “từ các bang miền nước thuỷ triều sang bờ biển miền
Đông qua miền Nam trũng thấp hơn tới vùng đồng bằng châu thổ sông Missisipi và
cuối cùng là tới bang Texas”[3, tr 174]. Năm 1820, Mĩ là quốc gia sản xuất bông
quan trọng nhất thế giới. Mỗi năm Anh nhập cảng 72% bông từ Mĩ. Đến năm 1850,
miền Nam nước Mĩ đã đạt hơn 80% sản lượng bông toàn thế giới. Song việc mở
21

rộng diện tích trồng bông cũng đồng nghĩa với việc mở rộng chế độ nô lệ sang các
bang miền Tây.
Cây mía cũng là một cây trồng đóng vai trò hết sức quan trọng trong sự phát
triển kinh tế nông nghiệp Mĩ trong giai đoạn này.Chính việc mở rộng các đồn điền
trồng mía đã thúc đẩy công nghiệp sản xuất đường phát triển. Những vùng đất ẩm,

tồn tại của chế độ nô lệ đã thúc đẩy hoạt động buôn bán nô lệ da đen từ châu Phi
sang Mĩ và tạo điều kiện mở rộng chế độ nô lệ. Đầu thế kỷ XIX, sự dịch chuyển của
đường biên giới đã làm số lượng bang ở Mĩ tăng lên. Từ năm 1816 đến năm 1821, 6
bang mới được thành lập trong đó có 3 bang phát triển chế độ nô lệ là Mississipi,
Illinois và Maine. Điều này đồng nghĩa với việc chế độ nô lệ đã được mở rộng từ
miền Nam sang miền Tây. Việc độc canh cây bông đã làm cho đất đai ở miền Nam
suy kiệt, hơn nữa các chủ nô miền Nam không chịu áp dụng các thành tựu kỹ thuật
để cải tiến mà lại muốn mở rộng diện tích trồng bông sang những vùng đất mới mầu
mỡ. Trong khi đó, ở miền Bắc, công nghiệp phát triển mạnh cần có nơi cung cấp
nguyên liệu nên các chủ kinh doanh miền Bắc cũng muốn tìm đến những vùng đất
phì nhiêu để trồng ngô, lúa mì và chăn nuôi gia súc. Vào đầu thế kỷ XIX, sự tồn tại
chế độ nô lệ là một vấn đề phức tạp của nước Mĩ và khó có thể giải quyết ngay
được, bởi quyền lợi được thực hiện bình đẳng ở cả hai miền Nam, Bắc. Cho nên,
diện tích lãnh thổ càng được mở rộng thì càng khó tránh khỏi tranh chấp về việc tồn
tại hay không tồn tại chế độ nô lệ ở những bang mới. Tranh chấp đầu tiên giữa miền
Bắc và miền Nam diễn ra vào năm 1819 khi Missouri xin gia nhập liên bang. Kết
quả là hai miền Nam và Bắc đã đi đến “Thoả hiệp Missouri” vào năm 1820. Theo
đó, tại phía Bắc của bang này cấm nuôi nô lệ da đen còn ở phía Nam không cấm.
Trên thực tế thoả hiệp Missouri tiếp tục tạo điều kiện cho sự mở rộng chế độ nô lệ.
Tuy nhiên đến giữa thế kỷ XIX, sự tồn tại chế độ nô lệ đã bộc lộ rõ hơn hạn chế đối
với sự phát triển kinh tế tư bản Mĩ vì giới chủ nô không chịu cải tiến kỹ thuật cũng
như áp dụng các giống cây mới vào sản xuất dẫn đến sự phát triển mất cân đối giữa
các vùng kinh tế ở Mĩ.
Trước vấn đề đó, ngay từ năm 1787, chính phủ Mĩ đã ra Sắc lệnh Tây Bắc
cấm chế độ nô lệ ở Tây Bắc. Tuy nhiên, hiệu lực của sắc lệnh này rất hạn chế vì
23

Hiến pháp Mĩ bảo vệ sự tồn tại của chế độ nô lệ, hơn thế nữa các chủ nô miền Nam
không chịu từ bỏ quyền lợi đã đem lại cho họ sự sung túc và giàu có. Mặc dù phong
trào đòi xoá bỏ chế độ nô lệ xuất hiện từ sớm nhưng phải đến năm 1808, Quốc hội

những ai giúp đỡ nô lệ bỏ trốn đều bị coi là phạm tội và bị phạt.” [6, tr 390] Thoả
hiệp năm 1850 khiến người dân miền Bắc bất bình sâu sắc vì rất nhiều người da đen
tự do sống ở miền Bắc sẽ bị trao trả lại miền Nam. Thoả hiệp 1850 bộc lộ rõ những
hạn chế trong việc quản lý đất nước của chính phủ và càng ngày càng gây nên sự
chia rẽ giữa miền Bắc và miền Nam.
1.2.2. Nước Mĩ nửa sau thế kỷ XIX
1.2.2.1.Nội chiến 1861-1865- kết thúc chế độ nô lệ ở Mĩ
Giữa thế kỷ XIX, sản xuất công nghiệp Mĩ đứng hàng thứ tư thế giới. Để
tăng cạnh tranh với các nước châu Âu, yêu cầu phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa
mang tính đồng bộ trong công nghiệp và nông nghiệp trở nên bức thiết. Trong khi
đó, sự tồn tại của chế độ nô lệ ở miền Nam là trở ngại lớn trên con đường phát triển
kinh tế tư bản chủ nghĩa của Mĩ bởi sự lạc hậu, yếu kém của mô hình này. Không
những thế, để bảo vệ chế độ nô lệ, những chủ nô miền Nam đã tìm cách cô lập và
khống chế sự phát triển của kinh tế công thương nghiệp trong nước bằng cách
không cho hàng hoá của miền Bắc thâm nhập vào thị trường miền Nam nhưng lại
nhập hàng hoá từ nước ngoài. Điều này, không chỉ ảnh hưởng nghiêm trọng tới lợi
ích của tư sản công thương miền Bắc mà còn gây tổn hại lợi ích quốc gia dân tộc và
khơi sâu thêm mâu thuẫn giữa tư sản công thương với chủ nô.
Năm 1854, mâu thuẫn giữa miền Nam và miền Bắc một lần nữa bùng nổ.
Khu vực bao gồm Kansas và Nebraska đã được định cư nhanh chóng, đòi hỏi phải
thiết lập những cơ quan chính quyền của bang. Lo sợ bị tổn hại quyền lợi, những
người chiếm hữu nô lệ ở Missouri phản đối việc Kansas trở thành lãnh thổ tự do, vì
nếu như vậy bang của họ sẽ bị bao vây bởi các bang cấm chế độ nô lệ (Illinois, Iowa
và Kansas). Để ngăn cản việc trên, họ đề xuất một dự luật sau đó được Chính phủ
thông qua với tên gọi “Đạo luật Kansas-Nebraska”, cho phép những người sống
trên lãnh thổ Kansas và Nebraska tự quyết định là bang tự do hay bang có nô lệ.
Quyết định này đã gây ra sự thù hận mới giữa miền Bắc với miền Nam. Kết quả là ở
Kansas đã diễn ra cuộc xung đột vũ trang đẫm máu giữa các chủ nô miền Nam và
những người chống chế độ nô lệ. Đạo luật này một lần nữa thổi bùng mâu thuẫn
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status