1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA QUỐC TẾ HỌC
HOÀNG THỊ NGỌC DIỆP QUÁ TRÌNH MỞ RỘNG LIÊN MINH CHÂU ÂU
TỪ GÓC NHÌN LIÊN VĂN HÓA
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH QUAN HỆ QUỐC TẾ
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH QUAN HỆ QUỐC TẾ
MÃ SỐ: 60 31 40 NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC : TSKH. LƢƠNG VĂN KẾ
HÀ NỘI – 2013
3
Mục lục
1. Mục đích, ý nghĩa của đề tài
3
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
4
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5
2.3. Những cố gắng của Liên minh châu Âu trong việc thúc đẩy và mở
rộng liên kết văn hóa
37
2.3.1. Mục tiêu và vai trò của chính sách văn hóa EU
37
2.3.2. Quá trình hoạch định chính sách văn hóa chung của EU
41
2.3.2.1. Chính sách văn hóa chung EC thời kỳ trước năm 1992
41
4
2.3.2.2. Chính sách văn hóa chung EU thời kỳ sau năm 1992
42
2.3.3. Các hoạt động và chương trình văn hóa của EU
47
2.3.3.1. Tổng quan về các chương trình văn hóa của EU
50
2.3.3.2. Chương trình nghị sự về văn hóa của EU
52
2.3.3.3. Năm châu Âu về đối thoại liên văn hóa
56
Chƣơng 3 : THÁCH THỨC VÀ TRIỂN VỌNG CỦA HỘI NHẬP VĂN
HÓA Ở EU
59
3.1. Kết quả thu được từ chính sách văn hóa chung EU
59
3.2. Thách thức của hội nhập văn hóa ở EU
nhiều vấn đề cần phải đƣợc đặt ra. Nổi bật hơn cả là vấn đề giải quyết cuộc khủng
hoảng nợ công hiện nay, vấn đề có liên quan đến xây dựng một chính sách đối nội
đối ngoại chung của EU, hay là vấn đề mà đôi khi ngƣời ta còn tránh né nhƣng
không thể không đề cập đến là việc giữ gìn tính đa dạng của các nền văn hóa châu
Âu trong khi vẫn hình thành một nền văn hóa chung châu Âu và mở rộng phạm vi
ảnh hƣởng của văn hóa châu Âu ra các quốc gia và khu vực khác trên thế giới. Để
làm đƣợc điều này, không thể không dựa trên nền tảng di sản văn hóa chung của
châu Âu mà liên quan đến nó là các vấn đề về liên kết văn hóa, ngôn ngữ, giáo
dục…
Tìm hiểu quá trình mở rộng của Liên minh châu Âu từ góc nhìn liên văn hóa,
những chính sách mà Liên minh châu Âu đã đặt ra, quá trình thực hiện chính sách,
những kết quả đã đạt đƣợc cũng nhƣ những thách thức phải đối mặt của EU về vấn
đề thúc đẩy sự chung sống giữa các nền văn hóa trong bối cảnh nhất thể hóa EU cần
có những bƣớc tiến sâu hơn và quá trình toàn cầu hóa diễn ra ngày càng mạnh mẽ
để hiểu thêm về tổ chức khu vực thành công nhất thế giới. Từ đó rút ra những kinh
6
nghiệm về xử lý vấn đề văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa có thể áp dụng cho
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (Association of Southeast Asian Nations –
ASEAN). Đồng thời, tìm hiểu về văn hóa EU để hiểu rõ hơn về đối tác chiến lƣợc
EU nhằm đƣa ra những biện pháp thúc đẩy hơn nữa mối quan hệ ASEAN – EU nói
chung cũng nhƣ quan hệ Việt Nam – EU nói riêng.
Với ý nghĩa đó, và trên cơ sở tiếp thu kết quả nghiên cứu của các nhà khoa
học đi trƣớc, luận văn “Quá trình mở rộng Liên minh châu Âu – Từ góc nhìn liên
văn hóa” mong muốn góp phần nhỏ bé vào việc nghiên cứu về Liên minh châu Âu
dƣới một góc nhìn mới, hy vọng bản luận văn sẽ trở thành nguồn tài liệu tham khảo
bổ sung cho việc nghiên cứu về vấn đề này.
minh châu Âu. Trên cơ sở chọn lọc tƣ liệu, tham khảo các công trình nghiên cứu nói
trên, tác giả đã hoàn thành bản luận văn tốt nghiệp của mình.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài này chính là quá trình hình
thành và phát triển của tổ chức khu vực thành công nhất thế giới – Liên minh châu
Âu EU đƣợc soi sáng dƣới góc nhìn liên văn hóa. Trong đó, cũng cần phải tập trung
vào mối quan hệ tƣơng hỗ giữa nhân tố văn hóa với kinh tế và chính trị trong bối
cảnh toàn cầu hóa và hệ thống các chính sách văn hóa của EU nhằm hỗ trợ cho việc
giải quyết các vấn đề văn hóa trong liên minh.
4. Phương pháp nghiên cứu
Với việc xác định đối tƣợng nhƣ trên, luận văn đƣợc viết trên cơ sở vận dụng
phƣơng pháp nghiên cứu cơ bản nhƣ phƣơng pháp duy vật biện chứng, phƣơng
pháp duy vật lịch sử, phƣơng pháp so sánh, tuy nhiên, phƣơng pháp chủ đạo của
luận văn chính là phƣơng pháp nghiên cứu liên ngành. Sử dụng phƣơng pháp
nghiên cứu liên ngành, kết hợp giữa địa lý học, chính trị học, kinh tế học, văn hóa
học, triết học, là bởi tính tổng thể và phức hợp của đối tƣợng nghiên cứu. Quá trình
mở rộng EU dƣới góc độ liên văn hóa không thể nào chân thực và đầy đủ nếu chỉ
đƣợc soi sáng dƣới góc độ của phƣơng pháp nghiên cứu đơn ngành, bởi văn hóa,
kinh tế và chính trị có một mối quan hệ tƣơng hỗ đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu
hóa. 8
quan điểm về văn hóa đa dạng, thậm chí xung đột nhau, nhƣng ngƣời ta vẫn có thể
tìm thấy những điểm nhất trí chung từ cả phƣơng Đông và phƣơng Tây. Nghĩa gốc
của “văn hóa” trong tiếng Latinh là “trồng trọt”, “gieo cấy”, thể hiện bản chất của
văn hóa là một quá trình, luôn thay đổi, chịu tác động của nhiều yếu tố và không
đồng nhất. Theo nghĩa hẹp, văn hóa là toàn bộ sáng tạo mang ý nghĩa tinh thần của
con ngƣời nhƣ tƣ tƣởng, tôn giáo, tín ngƣỡng, ngôn ngữ, tri thức, phong tục tập
quán trong sinh hoạt (lao động, học hành, ăn, ở, giao tiếp, trang phục, nghỉ ngơi,
sáng tạo văn nghệ ) [27, tr. 322]. Theo nghĩa rộng, văn hóa là các hệ thống định
hƣớng chung dựa trên các giá trị và chuẩn mực, là cách thức hay khuôn mẫu hành
động để giải quyết vấn đề. Chúng tạo ra các ý tƣởng và động cơ hành động hợp
pháp trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội: đời sống cá nhân, kinh tế và chính trị.
Chúng cũng là xuất phát điểm của việc xây dựng và điều chỉnh hệ thống chính sách
công của quốc gia [61, pg. 59]. Vậy một đặc tính cơ bản của văn hóa là sự kết tinh,
sự đọng lại của lịch sử. Chừng nào một yếu tố chƣa trở thành truyền thống lịch sử,
thì yếu tố đó chƣa thể coi là văn hóa.
Nói đến văn hóa là nói đến chỉnh thể hệ thống văn hóa của một quốc gia –
dân tộc, bao gồm một loạt các yếu tố: ngôn ngữ, tôn giáo – tín ngƣỡng, lễ hội dân
gian và hiện đại, phƣơng thức ứng xử, thói quen tâm lí, đời sống tình cảm và trí tuệ,
phong tục tập quán. Không gian văn hóa dân tộc là lãnh thổ quốc gia. Văn hóa dân
tộc là những nét bản sắc chung hiện hữu ở mọi vùng văn hóa, có ở tất cả hay đại đa
số thành viên của cộng đồng dân tộc.
Bản sắc là khái niệm độc lập đối với khái niệm văn hóa, nhƣng giữa chúng
có những tƣơng quan mật thiết. Theo cách hiểu tâm lý – xã hội học thì bản sắc
thƣờng có hai cách định nghĩa: thứ nhất, bản sắc là toàn bộ các đặc trƣng có thể
giúp phân biệt một cá thể này với mọi cá thể khác; thứ hai, bản sắc là toàn bộ các
10
11
xuyên biên giới và xây dựng tình đoàn kết; giao tiếp xuyên biên giới và đồng
nhất hóa văn hóa; cá nhân hóa và đồng nhất hóa bản sắc.
- Bản sắc khu vực mang tính lịch sử, nghĩa là những nét chung của khu vực có
thể biến đổi theo thời gian và không gian.
- Bản sắc khu vực hình thành bởi sự thu nạp yếu tố ngoại lai : khu biệt và kết
hợp giữa trung tâm và ngoại vi
- Bản sắc khu vực trong quá trình đan xen : khu vực hóa, tái dân tộc hóa, tái
khu vực hóa và toàn cầu hóa.
- Bản sắc văn hóa khu vực hình thành bởi hành động của giới tinh hoa xã hội.
- Bản sắc khu vực hình thành trong xung đột đồng thời với chủ nghĩa dân tộc
và xu thế toàn cầu hóa.
- Bản sắc khu vực hình thành trong xung đột giữa kiến tạo bản sắc và đánh
mất bản sắc khu vực.
- Bản sắc văn hóa khu vực hình thành nhƣ là kết quả của nền sản xuất xã hội
trong liên kết khu vực.
- Bản sắc văn hóa khu vực là kết quả của hệ thống truyền thông xuyên quốc
gia hiện đại.
Mọi thành quả văn hóa cũng nhƣ cấu trúc ngôn ngữ không thể nào tồn tại bất
biến qua mọi thời đại, mà trái lại, chúng thƣờng xuyên biến đổi. Một trong những
động lực của sự biến đổi đó là sự tiếp xúc giữa các nền văn hóa thông qua các cƣ
dân của họ. Có thể nói, chính tiếp xúc là động lực đem lại những biến đổi to lớn
trong cấu trúc của nhà nƣớc, của xã hội, tôn giáo, kinh tế, các hình thức cƣ trú, của
nghệ thuật và ngôn ngữ [27, tr. 400 ]. Vậy tiếp xúc văn hóa là gì? Tiếp xúc văn hóa
là hiện tƣợng hai hay nhiều nền văn hóa dân tộc / sắc tộc có sự truyền bá các yếu tố
văn hóa với nhau thông qua các cƣ dân của mình trong thực tiễn cộng cƣ và hành
động (sản xuất, buôn bán sản phẩm, giao lƣu, chiếm đóng) trên một khu vực địa lý
Huntington trong cuốn “Sự va chạm của các nền văn minh” cũng nhận xét rằng
“Ngƣời ta ghét cái không giống mình và yêu cái giống mình. Ngƣời ta gắn bó với
nhau bằng niềm tin và sự hiểu biết lẫn nhau, mà không gì đem lại cho ngƣời ta mối
tin cậy sâu đậm bằng khi họ gắn kết với nhau bằng một nền văn hóa, văn minh
chung”, “Con ngƣời tự xác định mình bằng dòng dõi tổ tiên, tôn giáo, ngôn ngữ,
13
lịch sử, hệ giá trị, phong tục và giáo thuyết. Họ xác định danh phận mình bằng cộng
đồng văn hóa: bộ lạc, bộ tộc, cộng đồng tôn giáo, quốc gia và ở mức độ rộng rãi
nhất là nền văn minh” [49, tr. 56]. S. Huntington cũng đƣa ra một loạt các ví dụ về
vai trò của văn hóa trong việc thống nhất các quốc gia cũng nhƣ nguyên nhân gây
chia rẽ và xung đột. Ông cho rằng một số các quốc gia đã đến với nhau do gắn kết
về hệ tƣ tƣởng nhƣng sau đó lại quay sang xung đột với nhau nhƣ trƣờng hợp Liên
Xô và Trung Quốc hay nhiều nƣớc thuộc Liên bang Xô viết cũ hay thậm chí xung
đột trong cùng một quốc gia nhƣ trƣờng hợp của Nam Tƣ hoặc có quan hệ căng
thẳng nhƣ ở Ukraina. Nguyên nhân là bởi họ thuộc các nền văn hóa khác nhau.
Trong khi đó, những ngƣời bị chia rẽ về mặt ý thức hệ nhƣng đƣợc văn hóa gắn kết
lại tìm đến nhau nhƣ hai nƣớc Đức, Bắc Triều Tiên và Hàn Quốc. Tóm lại, tƣ tƣởng
văn hóa, có thể nói, chính là nguồn gốc của quá trình nhất thể hóa của nhiều tổ chức
khu vực, đặc biệt là EU. Ngay từ khi mới là ý tƣởng, yếu tố văn hoá đã góp phần
không nhỏ trong việc hình thành và phát triển của tổ chức khu vực thành công nhất
thế giới này.
Quá trình khu vực hóa, toàn cầu hóa đã làm nảy sinh một loạt vấn đề văn
hóa, trƣớc hết là sự ra đời của một hệ thống các khái niệm nhƣ đa văn hóa, đa dạng
văn hóa, liên văn hóa. Đa văn hóa là sự kết hợp nhiều bản sắc văn hóa ngay trong
một quốc gia. Đa dạng văn hóa là sự tồn tại nhiều nền văn hóa khác nhau trên thế
giới. Liên văn hóa là sự chung sống giữa các nền văn hóa trên bình diện quốc tế.
nhờ vô số các kênh truyền thanh và truyền hình quốc tế, nhờ sự phát triển mạnh mẽ
của kỹ nghệ giao thông nội địa và quốc tế, nhất là kỹ nghệ hàng không …, cơ hội
giao lƣu, giao tiếp đối thoại, học hỏi lẫn nhau giữa các nền văn hóa và các cộng
đồng văn hóa trên khắp hành tinh ngày càng gia tăng mạnh mẽ. Trong bối cảnh ấy,
toàn cầu hóa đã trở thành một xu thế lịch sử không thể tránh khỏi, lôi cuốn tất cả
các dân tộc, các nền văn hóa trên thế giới. Do vậy, giao tiếp liên văn hóa đã trở
thành một bộ phận không thể tách rời của đời sống xã hội đƣơng đại, trở thành lĩnh
vực đƣợc nhiều ngành khoa học quan tâm nghiên cứu, nhƣ nhân học, văn hóa học,
sử học, xã hội học, tâm lý học, …
Có thể nói, sự không hiểu biết hay hiểu biết không đúng về nền văn hóa khác
đều là những vấn đề không thể xem thƣờng của sự giao tiếp liên văn hóa. Chúng có
thể trở thành những nguyên nhân không thể lƣờng trƣớc dẫn đến các cuộc xung đột
không đáng có giữa các nền văn hóa khác nhau. Chúng ta không thể phủ nhận một
15
thực tế đáng buồn rằng, cho đến nay, trong thời đại toàn cầu hóa, ở nhiều nƣớc
thuộc khu vực châu Á cũng nhƣ trên thế giới, cũng chính vì những lý do nêu trên đã
khiến cho nhiều vấn đề đáng tiếc liên quan đến quan hệ giữa các nền văn hóa, các
cộng đồng văn hóa, các sắc tộc, các thế giới quan văn hóa khác nhau nảy sinh một
cách gay gắt. Đƣơng nhiên, đằng sau các vấn đề đó chính là sự thiếu vắng các tri
thức đầy đủ, sâu sắc về các cộng đồng văn hóa khác, đặc biệt là sự thiếu vắng thái
độ khoan dung văn hóa với thói quen tôn sùng giá trị văn hóa của mình và kỳ thị
các giá trị văn hóa khác.
Ranh giới giữa khả năng hiểu biết và không hiểu biết về giao tiếp liên văn
hóa tùy thuộc vào mức độ tƣơng đồng và dị biệt của các thế giới quan văn hóa. Các
thế giới quan văn hóa càng tƣơng đồng với nhau thì khả năng hiểu chúng càng dễ
dàng. Ngƣợc lại, các thế giới quan văn hóa càng khác biệt thì cơ hội hiểu đƣợc
- Thứ hai, về mặt nhận thức, ngƣời trong cuộc phải có kiến thức về ngƣời khác
và hiểu biết về họ.
- Thứ ba, về mặt lý trí, ngƣời trong cuộc phải có kỹ năng thực tế trong những
tình huống liên văn hóa và biết sử dụng những năng lực tình cảm và lý trí để
giải quyết những tình huống đó.
Do vậy, để giải quyết các vấn đề liên quan đến sự khác biệt về nguyên tắc
giữa các thế giới quan văn hóa, đặc biệt là để tránh các nguy cơ xung đột giữa các
nguyên tắc không dung hợp nhau, cần phải vận dụng ba giải pháp cơ bản trong giao
tiếp liên văn hóa với những bối cảnh lịch sử, xã hội khác nhau.
Giải pháp đầu tiên là chấp nhận sự tồn tại hòa bình của các nguyên tắc khác
nhau hay các thế giới quan văn hóa khác nhau. Với giải pháp này, cần phải chấm
dứt việc phổ quát hóa các tiêu chí đánh giá của cộng đồng văn hóa mình, từ bỏ việc
chỉ trích các cộng đồng văn hóa khác và phƣơng thức sống của họ, tức là phải từ bỏ
mọi tranh cãi về sự khác nhau cơ bản giữa các cộng đồng văn hóa đó, về ƣu thế của
cộng đồng này so với cộng đồng khác, một khi các bên không thể đạt đƣợc sự đồng
thuận. Muốn vậy, phải tôn trọng và chấp nhận sự lựa chọn các phƣơng thức sống
khác, không coi chúng là sai, mà cùng lắm chỉ là khác với phƣơng thức sống của
mình mà thôi.
Giải pháp thứ hai là thuyết phục. Đây là một giải pháp khá phổ biến, thƣờng
đƣợc ngƣời ta vận dụng. Để thực hiện việc thuyết phục, truyền bá thế giới quan và
phƣơng thức sống của mình, của cộng đồng văn hóa mình, ngƣời ta thƣờng tìm cách
17
chứng minh tính đúng đắn trong thế giới quan của mình, của cộng đồng văn hóa
mình, đồng thời xem nó nhƣ là tiêu chí để phê phán và bác bỏ các thế giới quan
khác. Khi đó, nguy cơ xung đột văn hóa rất có thể lại xuất hiện. Do vậy, cùng với
biện pháp thuyết phục hòa bình, trong trƣờng hợp cực đoan, ngƣời ta còn sử dụng
của nền văn minh nhân loại.
Giải pháp thứ ba cho việc giải quyết sự xung đột giữa các cộng đồng văn
hóa đƣợc L.Wittgenstein đƣa ra là: hƣớng đến một thế giới quan phổ quát toàn cầu
dựa trên nền tảng nhân học chung của con ngƣời trong tất cả các nền văn hóa, tức là
dựa trên sự tƣơng đồng trong cách thức tƣ duy và hành động của con ngƣời với tƣ
cách bản chất loài; dựa vào sự dung hòa giữa các thế giới quan văn hóa và đặc biệt
là dựa vào việc tôn trọng tất cả các nền văn hóa khác nhau và bình đẳng với nhau.
Với giải pháp này, tất yếu diễn ra quá trình thay đổi, chuyển đổi và dần chấp nhận ở
tất cả các thế giới quan và phƣơng thức sống theo hƣớng tạo ra một thế giới quan
văn hóa toàn cầu. Thế giới quan này dựa trên sự thống nhất trong sự đa dạng của tất
cả các nền văn hóa, một sự thống nhất mà không loại trừ sự đa dạng của các nền
văn hóa, các thế giới quan văn hóa khác. [15, tr. 58]
Toàn cầu hóa không thể dựa trên sự cƣỡng bức hay sự áp đặt của một hay
một số nền văn hóa đối với tất cả các nền văn hóa khác; không chấp nhận sự ngạo
mạn của một nền văn hóa và sự rẻ rúng các nền văn hóa khác. Toàn cầu hóa chỉ có
thể thực hiện đƣợc thông qua quá trình giao tiếp liên văn hóa, thông qua sự đối
thoại đã đƣợc thể chế hóa giữa các nền văn hóa khác biệt nhau và bình đẳng với
nhau, thông qua sự chắt lọc những giá trị nhân văn và tinh hoa đƣợc thể hiện trong
tất cả các nền văn hóa hay các cộng đồng văn hóa. Muốn vậy, các đại biểu của mỗi
nền văn hóa, mỗi cộng đồng văn hóa hay thế giới quan văn hóa phải học cách thức
tƣ duy khách quan, đối xứng và phổ quát, chống lại cách thức tƣ duy chủ quan, phi
đối xứng theo kiểu “lấy cái tôi làm trung tâm”; học cách trở thành công dân thế giới
thông qua một nền giáo dục hƣớng đến xã hội công dân toàn cầu. Đƣơng nhiên,
việc thiết lập một thế giới quan văn hóa toàn cầu với tƣ cách nền tảng phổ quát cho
khả năng nhận biết liên văn hóa là quá trình lâu dài, cực kỳ khó khăn và phức tạp.
Quá trình này đòi hỏi nỗ lực và sự hợp tác của các đại diện của tất cả các thế giới
quan văn hóa, bởi việc thiết lập một thế giới quan văn hóa toàn cầu hiểu theo nghĩa
này không diễn ra một cách tự động.
lực hoạt động để quảng bá văn hóa của nƣớc mình ra thế giới. Ngƣợc lại, văn hóa
lại mở đƣờng cho các hoạt động kinh tế.
20
Việc truyền bá văn hóa cũng khác với hoạt động chính trị, vì mục đích của
truyền bá chính trị dƣờng nhƣ trực tiếp hơn, cụ thể hơn, mang tính thời sự hơn và có
quan hệ mật thiết với kinh tế hơn là với truyền bá văn hóa. Ngƣời ta thấy việc ký
kết các văn bản hợp tác văn hóa giữa các nƣớc phƣơng Tây và các nƣớc phi phƣơng
Tây, nhất là các nƣớc Hồi giáo, Khổng giáo thƣờng rất khó khăn, trong đó khó khăn
nhất là vấn đề về văn hóa phẩm. Điều đó nói lên sự gắn bó mật thiết giữa chính trị
và văn hóa. Sở dĩ thế là vì các giá trị cao nhất của chính trị chính là dựa trên giá trị
văn hóa. Chúng phản ánh niềm tin, lý tƣởng, đạo lý và nền tảng tinh thần của cả
một xã hội. Do đó, truyền bá văn hóa cũng có nghĩa là truyền bá chính trị, cho dù
không phải là hiện tƣợng văn hóa nào cũng mang tính chính trị, và ngƣợc lại. Sự
phân biệt một xã hội dân chủ, tự do và một xã hội toàn trị, chuyên chế thể hiện
chính ở mức độ khoan dung của các thể chế quốc gia đối với các giá trị văn hóa bên
trong các hiện tƣợng văn hóa cũng nhƣ chính trị. Vì thế, các nƣớc phƣơng Tây cũng
nhƣ mọi quốc gia có tiềm lực khác đều muốn thông qua truyền bá văn hóa mà nâng
cao uy tín, vị thế của nƣớc mình trên vũ đài chính trị thế giới. Nói theo ngôn ngữ
chính trị đƣơng đại là nâng cao vị thế quốc gia bằng sức mạnh mềm.
1.3.2. Mối quan hệ giữa nhân tố văn hóa với kinh tế và chính trị ở bối cảnh châu
Âu hiện nay
Do những đặc điểm nhân chủng, môi trƣờng sống, trình độ phát triển, hệ tƣ
tƣởng và lịch sử đã quy định nên văn hóa mỗi nƣớc thành viên EU có những điển
hình riêng biệt. Ví dụ nhƣ sự khác biệt trong văn hóa luật pháp của các nƣớc châu
Âu lục địa và châu Âu hải đảo do những ảnh hƣởng từ môi trƣờng sống và từ trong
văn hóa German đã có tác động đến hệ thống bán lẻ thực phẩm và các nhà kinh
doanh cũng không thể bỏ qua yếu tố văn hóa để lập chiến lƣợc kinh doanh hiệu quả.
Nếu văn hóa German chịu ảnh hƣởng to lớn của tinh thần Tin Lành, trong đó
tính thực tiễn và tƣ lợi đƣợc đặt lên hang đầu, văn hóa Roman chịu ảnh hƣởng của
Cơ Đốc giáo La Mã với những giá trị cổ điển thì văn hóa Slave dƣờng nhƣ lại có
con đƣờng riêng trong kinh tế, ở đó tính tƣ lợi đƣợc đặt sau các giá trị tinh thần và
tập thể theo kiểu phƣơng Đông.
Mặc dù có sự khác nhau nhƣ vậy, nhƣng do điều kiện địa hình châu Âu bằng
phẳng, thuận tiện cho giao thông, tính cách ngƣời châu Âu vốn hƣớng ngoại cao,
thích giao lƣu, khám phá, tìm hiểu. Và không thể loại trừ điều kiện lịch sử là
22
khoảng 4 – 5 thế kỷ trở về trƣớc châu Âu là một thực thể kinh tế, chính trị và văn
hóa tƣơng đối thống nhất, các đƣờng biên giới giữa các lãnh chúa chƣa đƣợc phân
định rõ ràng, luôn biến động bởi sự sáp nhập và thôn tính. Chính những yếu tố này
đã tạo điều kiện cho sự giao lƣu văn hóa giữa các dân tộc châu Âu. Thêm vào đó,
quá trình hội nhập kinh tế khiến cho văn hóa phải chuyển động theo, cho nên, văn
hóa các khu vực đã sớm có sự giao lƣu, hòa trộn với nhau. Ví dụ nhƣ đối với hai hệ
thống luật của châu Âu lục địa và châu Âu hải đảo, khi ảnh hƣởng quyền lực của
Giáo hội La Mã và kèm theo đó là Luật La Mã đến với khu vực sử dụng luật án lệ ở
Anh và một số vùng thuộc Trung – Bắc Âu, những tinh hoa và ƣu điểm của dòng
Luật La Mã lập tức đƣợc thu nhận vào dòng luật tục Anh quốc và bị cải biến đi
trong đó để tạo ra một hệ thống pháp luật hỗn dung dƣới tên gọi Hệ thống luật
Anglo – Saxon.
Về sau này, khi Liên minh châu Âu EU đƣợc thành lập, sự giao lƣu văn hóa
diễn ra ngày càng mạnh mẽ, hầu nhƣ không còn sự khác biệt trong văn hóa Roman
và văn hóa German, hay nếu có thì cũng không còn rõ nét. Ở đây có một sự tác
tuổi nghỉ hƣu, tăng thuế, cắt giảm phúc lợi xã hội …) Từ diễn biến cuộc khủng
hoảng nợ công cũng nhƣ thái độ và biện pháp đối phó của các quốc gia EU, câu hỏi
đặt ra là khủng hoảng nợ công có nguyên nhân nào liên quan đến văn hóa hay
không?
Có thể nhận thấy các nƣớc rơi vào khủng hoảng nợ công, xét về vị trí địa lý
chủ yếu thuộc khu vực Nam Âu, và đều là các nƣớc hải đảo và bán đảo. Ngƣời dân
các nƣớc này, dƣới ảnh hƣởng của điều kiện tự nhiên có tính cách cởi mở, hƣớng
ngoại nhƣng hành động thiên về cảm tính, thêm vào đó là văn hóa kiểu gia đình trị
ăn sâu trong tƣ duy, những điều đó có tác động không nhỏ đến văn hóa quản lý
trong kinh tế, phần nào là nguyên nhân dẫn đến những yếu kém nội tại của các nền
kinh tế này. Trong khi đó, các nền kinh tế lớn khác của EU mà điển hình là nƣớc
Đức với những chuẩn mực văn hóa nổi bật là: tính định hƣớng công việc, vấn đề rõ
ràng, rành mạch; tính định hƣớng quy tắc; tính thẳng thắn / chính xác; giữ khoảng
cách giữa các cá nhân; tính kiềm chế có tính chủ quan; tính kế hoạch thời gian và
tách bạch giữa lĩnh vực cá nhân và công việc; với vai trò lãnh đạo EU của mình, có
trách nhiệm với cộng đồng châu Âu thể hiện ý muốn tiếp tục phổ quát mô hình quản
lý kinh tế của mình nhƣ một hình mẫu cho các nƣớc khác. “Văn hóa ổn định” nhƣ
24
một từ khóa trong kỷ luật ngân sách, là bí quyết quan trọng đảm bảo sức khỏe và
mức độ ổn định cho nền kinh tế quốc gia.
Văn hóa là một khái niệm rộng lớn và lâu đời. Cùng với quá trình toàn cầu
hóa, khu vực hóa, nhiều khái niệm mới liên quan đến văn hóa đƣợc hình thành,
không loại trừ khía niệm liên văn hóa. Giao tiếp liên văn hóa là một phần không thể
thiếu của quá trình toàn cầu hóa, dù bản thân giao tiếp liên văn hóa là một hiện
tƣợng không mới mẻ. Quá trình toàn cầu hóa dƣờng nhƣ cũng là một tác nhân khiến
cho mối tƣơng quan giữa nhân tố văn hóa với kinh tế, chính trị đƣợc nhìn nhận một
mô hình liên kết khu vực là Liên minh châu Âu EU.
Châu Âu là mảnh đất của những cuộc chiến tranh triền miên, các dân tộc
đánh lẫn nhau và liên minh với nhau để tranh giành đất đai, tài nguyên, áp đặt sự
thống trị đối với các quốc gia láng giềng. Nhƣng Châu Âu cũng là nơi nảy nở sớm
nhất ý tƣởng lành mạnh liên kết các quốc gia trong quy mô châu lục vì một cuộc
sống chung hòa bình, phồn thịnh. Sự tồn tại của đế chế La Mã đã làm cho nhiều
ngƣời mơ ƣớc về sự thống nhất của một châu Âu Cơ Đốc giáo. Bƣớc vào thời kỳ
Khai sáng, ngƣời châu Âu đã mong muốn một sự thống nhất về mặt tƣ tƣởng –
chính trị với một thể chế quy củ chứ không đơn thuần chỉ về tôn giáo. Cuộc Chiến
tranh thế giới lần thứ nhất bùng nổ từ châu Âu nhƣ là biểu hiện sự thắng thế của
việc cạnh tranh tàn khốc với việc đặt lợi ích quốc gia – dân tộc lên trên hết và cũng
là biểu hiện sự thất bại của tham vọng thúc đẩy hợp tác và liên kết châu Âu bằng
bạo lực. Nhƣng cũng chính chiến tranh khốc liệt cùng những hậu quả khủng khiếp
của nó lại đánh thức nhu cầu liên kết chính trị và kinh tế châu lục một cách mạnh
mẽ.
Chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra nhƣ một biểu hiện ngông cuồng muốn
dùng vũ lực thống nhất châu Âu và cả thế giới, đặt nó dƣới sự cai quản của một dân