ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHẢN VĂN
■ ■ • ■
________
***
________
_____
ĐẶNG XUÂN KHÁNG
CẢI CÁCH GIÁO DỤC VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG
CHỦ YẾU ĐỐI VỚI Sự PHÁT TRIÊN
KINH TẾ - XÃ HỘI NHẬT BẢN
(TừMINH TRỊ DUY TẦN ĐẾN THỜI KỲ SAU
CHIẾN TRANH THÊ GIỚI THỨ HAI)
CHUYẾN NGÀNH: LỊCH s ử CẬN ĐẠI VÀ HIỆN ĐẠI
M ã số: 5.03.04
LUẬN ÁN TIẾN S ĩ LỊCH s ử
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
G S . V Ũ D Ư Ơ N G N IN H
HÀ NỘI - 2003
MỤC LỤC
A- PHÂN MỚ ĐÃU
1. Ý nghĩa khoa học và mục đích nghiên cứu của đề tài
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
3. Phạm vi và phương pháp nghiên cứu
4. Kết quả và đóng góp của luận án
5. Nguồn tư liệu
6. Kết cấu của luận án
B- PHẨN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CẢI CÁCH GIÁO DỤC THỜI MINH TRỊ DUY TÂN
1.1. Nước Nhật và nền giáo dục Nhật Bản trước thời M inh Trị
1.2. Công cuộc Duy tân Minh Trị
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
■
m
107
113
123
123
129
147
156
156
167
183
190
191
210
107
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
1.1.
Số lượng các trường trong thời Tokygavva. 26
1.2.
Số học sinh đến trường trung bình hàng năm. 26
1.3.
Tỷ lệ người biết chữ những năm cuối thời kỳ Tokugavva.
27
1.4.
Số lượng chuyên gia nước ngoài đến Nhật Bản thời kỳ đầu
Minh Trị.
Thực trạng lớp học khổng đúng tiêu chuẩn (1949).
135
2.3.
Tỷ lệ học sinh theo học trung học bậc cao.
140
2.4.
Tổng số sinh viên hệ đại học ngắn hạn.
143
2.5.
Số sinh viên và giáo viên trong các trường đại học và đại
học viện.
149
2.6. Trình độ học vấn trong công nhân.
150
2.7.
Xu hướng học ỉên trong thanh thiếu niên Nhật Bản.
151
2.8.
Những thay đổi trong cơ cấu cư dâ
152
3.1.
Giáo dục nghĩa vụ ở một số nước (đến 1958).
161
A- PHẦN Mỏ ĐẨU
1. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ MỤC ĐÍCH NGHIÊN c ứ u CỦA ĐỂ TÀI
1.1. Vào nửa sau của tháng 8 năm 1945, trong khung cảnh hoang tàn vì
bại trận, ngay cả người Nhật lạc quan nhất cũns không nghĩ rằng họ lại có
được đất nước giàu có như ngày nay. Nhưng họ đã nhanh chóng thích nghi với
một thực tế không thể phủ nhận, để rồi 20 năm sau, v à o năm 1968, GNP c ủ a
Nhật Bản đã vượt Đức, vươn lên đứng hàng thứ hai thế giới tư bản, sau Mỹ.
chất gia đình, tự phát. Nhờ việc du nhập chữ Hán từ Trung Hoa, người Nhật đã
sáng tạo ra chữ viết riêng cho mình. Tuy nhiên, một nền giáo dục mang tính
quốc gia vẫn chưa được hình thành.
- Từ th ế kỷ VIII đến năm 1600 là thời kỳ giáo dục có tổ chức. Học tập
văn minh Trung Hoa, Nhật Bản đã công bố đạo luật về việc tổ chức nền giáo
dục 2 cấp trên quy mô toàn quốc. Những trường học đều đã được xây dựng ở
trung ương và địa phương.
- T ừ năm 1600 đến ỉ 868, Nhật Bản đặt dưới sự chi phối của chính
quyền dòng họ Tokugawa. v ề giáo dục, các tướng quân của dòng họ
Tokugawa có công to lớn trong việc khuyếch trương nền giáo dục Nhật Bản.
Nhiều trường học được mở ra từ thành thị tới nông thôn, cho phép một tỷ lệ cư
dân đáng kể cắp sách tới trường. Điều đó đã tạo cơ sở thuận lợi cho sự phát
triển nhảy vọt của nền giáo dục nước này ở giai đoạn sau.
- Từ 1868 đến 1912 là thời kỳ Nhật Bản đặt dưới sự lãnh đạo của Thiên
Hoàng M inh Trị. Cùng với những cải cách nổi tiếng trong thời kỳ này, nền
giáo dục hiện đại của Nhật Bản đã hình thành và được củng cố vững chắc.
2
- T ừ 1912 đến 1945 là thời kỳ mở rộng hệ thống giáo dục Nhật Bản và
thời kỳ giáo dục thời chiến. Sự phát triển khá nhanh của các trường đại học
trong thời gian này phản ánh một nhu cầu mới của giáo dục Nhật Bản.
- Từ năm 1946 là thời kỳ xây dựng hệ thống giáo dục dân chủ mới.
Mặc dù sự vận động, phát triển của nền giáo dục Nhật Bản là liên tục.
Nhưng những cải cách dưới thời Minh Trị và những năm đầu sau chiến tranh
thế giới thứ hai đã tác động mạnh m ễ nhất đến sự phát triển của nền giáo dục
nước này cũng như ảnh hưởng của nó đối với sự phát triển kinh tế - xã hội.
Nhờ những cải cách triệt để trong thời Minh Trị đã đặt cơ sở thực sự
cho việc hình thành nền giáo dục hiện đại của Nhật Bản. Toàn bộ hệ thống
giáo dục mới được xây dựng theo mô hình của phương Tây, từ tổ chức quản lý
đến việc sắp xếp hệ thống nhà trường và chương trình giảng dạy. Thông qua
một số sự kiện, bản luận án cho thấy một cách nhìn mới về thế giới của người
giá rất cao, làm cẩm nang cho những người nghiên cứu về Nhật Bản sau này
như cuốn Nippon, Nhật Bản thực vật chí, Nhật Bản động vật chí
Trong số các nhà nghiên cứu về Nhật Bản ở nước ngoài thì các học giả
Mỹ thành công nhất trong lĩnh vực này. Có hai thế hệ được coi là đặt nền
móng cho Nhật Bản học ở Mỹ. Thế hệ đầu tiên là con cái của các nhà truyền
giáo. Họ sinh ra ở Nhật, sống và học trong các trường học Nhật Bản. VI vậy
họ am tường về ngôn ngữ và mọi mặt của đời sống xã hội Nhật Bản. Thế hệ
thứ hai từng sống trong cơ quan ngoại giao Nhật Bản ở Tokyo hoặc học tiếng
Nhật rất giỏi trong các trường của hải lục quân Mỹ thời kỳ chiến tranh thế giới
thứ hai. Nhiều người thuộc thế hệ này quan tâm nghiên cứu vấn đề giáo dục c
Nhật Bản. Chẳng hạn, năm 1965 Hebert Passin, Giáo sư Đại học Columbis
cho xuất bản một cuốn sách nổi tiếng Society and Education in Japan được
4
V
dịch sang tiếng Nhật là Giáo dục và hiện đại hoá Nhật Bản [213]. Mặc dù
cuốn sách không thật đồ sộ, nhưng với 7 chương, tác giả đã trình bày một cách
hệ thống về quá trình hiện đại hoá nền giáo dục Nhật Bản từ thời Minh Trị
Duy tân. Tác giả cho rằng sự khác nhau của giáo dục Nhật Bản trước và sau
năm 1945 là ở phương thức đào tạo tinh hoa trước năm 1945 và việc đại chúng
hoá giáo dục bậc cao sau năm 1945. Passin cũng cho rằng trình độ học vấn
chính là tờ giấy thông hành để bước vào giới lãnh đạo các cấp. Một tác giả
khác, Richard Rubinger, là nhà giáo dục học so sánh đã nhận học vị Tiến sĩ
của Viện nghiên cứu Tokugavva qua cuốn sách Shiịuku (Tư thục) do ôns côna
bố ở Đại học Columbia năm 1979. Cuốn sách đề cập một cách sâu sắc về hệ
thống trường tư thuộc các trường phái khác nhau ở Nhật Bản trong thời kv
Tokugawa và cho rằng Trường tư đã mở cửa nước Nhật. Sau khi phân tích về
hai phái Hán học và Lan học trong các trường này, Richard R. đã chia thành 3
loại trường. Tư thục Quốc học là nơi đề cao chủ nghĩa dân tộc. Các tư thục kv
nghệ chung, là những trường giảng dạy mang tính thực tế. Loại tư thục thứ 3
là những trường có mục tiêu trực tiếp hành động. Đó là các trung tâm truyền
đất nước. Đây cũng là dịp nước Nhật nhìn lại thành quả của 100 năm phát
triển nói chung và trong lĩnh vực giáo dục nói riêng. Đồng thời, cũng từ lúc
này, Hội đồng Giáo dục Trung ương có nhiều nghiên cứu xây dựng mố hình
giáo dục Nhật Bản cho thế kỷ XXI.
Các nhà nghiên cứu giáo dục cũng đặc biệt quan tâm tới vấn đề này.
Một trong những nhà nghiên cứu giáo dục nổi tiếng nhất Nhật Bản là Giáo sư
Kaigo Tokiomi (Đại học Tổng hợp Tokyo). ô ng đã viết nhiều sách về lịch sử
phát triển của nền giáo dục Nhật Bản, trong đó có cuốn: Nền giáo dục Nhật
Bản (1868-1968). Một Giáo sư khác cũng của Đại học Tokyo là Ikuno Amano
đã công bố hàng chục tác phẩm đề cập các vấn đề khác nhau của giáo dục. Có
6
thể kể ra một số tác phẩm như : Giáo dục và thi tuyển (1982), Suy nghĩ vê' cải
cách giáo dục (1985), Nguy cơ giáo dục (1987), Nghiên cứu giáo dục cao
đẳng Nhật Bản hiện đại (1989), Bàn về trường chuyên nghiệp ch ế độ cũ
(1993), Q uan sát về giáo dục hiện nay (1993)
Ở Việt Nam, vào những năm gần đây các học giả quan tâm nhiều hơn
tới giáo dục của Nhật Bản trước nhu cầu ngày càng cao trong việc đào tạo
nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Tuy nhiên, chỉ có một cuốn sách viết về giáo dục Nhật Bản tương đối hoàn
chỉnh được xuất bản cách đây khá lâu vào năm 1965 ở Sài Gòn là cuốn Giáo
dục Nhật Bản hiện đại của Đoàn Văn An. Cuốn sách giới thiệu một cách khái
quát những bước phát triển của giáo dục Nhật Bản và cơ cấu của nền giáo dục
Nhật Bản hiện đại. Các tác phẩm gần đây hoặc trình bày một cách khái quát
như cuốn Lịch sử giáo dục thời Minh Trị Duy tân của PGS. Nguyễn Văn
Hồng, hoặc đề cập trong c ả i cách ở Nhật Bản trong những năm 1945-1951
của TS. Hoàng Minh Hoa, hoặc trình bày ở một góc độ khác như Chiến lược
con người trong phát triển kinh tế Nhật Bản ở giai đoạn thần kỳ 1951-1973
của TS. Lưu Ngọc Trịnh, hoặc các bài nghiên cứu của TS. Nguyễn Văn Kim,
Đặng Xuân Kháng
3. PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
4.2. Trên cơ sở nguồn tư liệu và các công trình nghiên cứu, luận án tiến
hành phân tích bối cảnh, mục tiêu và nội dung của cải cách giáo dục thời
Minh Trị và cải cách sau năm 1945.
4.3. Từ những cuộc cải cách giáo dục ở Nhật Bản luận án rút ra những
bài học kinh nghiệm có thể tham khảo phục vụ cho công cuộc đổi mới giáo
dục ở nước ta hiện nay.
8
5. NGUỚN T ư LIỆU
Luận án được sử dụng chủ yếu từ hai nguồn tư liệu: tiếng Nhật và tiếng
Việt. Ngoài ra, luận án cũng tham khảo một số sách tiếng Nga và tiếng Anh.
Trong đó, nguồn tiếng Việt bao gồm sách và một số bài đăng trên các tạp chí
trong nước
6. KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, bản luận án kết cấu gồm 3 chương.
Chương 1: Cải cách giáo dục thời Minh Trị Duy tân.
Chương 2: Cải cách giáo dục sau chiến tranh thế giới thứ hai.
Chương 3: Nhận xét về cải cách giáo dục ở Nhật Bản và tình hình giáo
dục Nhật Bản hiện nay.
Phần phụ lục của luận án gồm các sự kiện giáo dục chính, các biểu,
bảng thống kê, sơ đồ, bản đồ, tranh ảnh, các thuật ngữ tiếng Nhật được sử
dụng trong luận án.
Do năng lực cá nhân và đề tài nghiên cứu lại rộng, chắc chắn nội dung
bản luận án không tránh khỏi những thiếu sót. Với tư cách là tác giả luận án,
tôi rất mong nhận được sự chỉ bảo của các giáo sư và các nhà nghiên cứu để
hoàn thiện công trình nghiên cứu của mình.
9
B. PHẨN NỘI DUNG
■
CHƯƠNG 1
CẢI CÁCH GIÁO DỤC
đại của quốc gia này mà chính là nhàn dân kiệt xuất và quá trình lịch sử đặc
biệt" [127, tr.ll].
Như vậy, nguồn tài nguyên con người hay nhân dân kiệt xuất chính là
thành quả không thể phủ nhận của quá trình giáo dục.
Vào khoảng 3 - 400.000 năm trước, lớp cư dân đầu tiên đã có mặt trên
quần đảo Nhật Bản, trong đó chủ yếu là nhóm cư dân thuộc chủng tộc
Mongoloid.
Do vị trí của Nhật Bản tương đối tách biệt nên đã ảnh hưởns một cách
sâu đậm đến bản sắc văn hoá của cộng đồng cư dân trên quần đảo này. Nền
văn hoá đầu tiên được xác định hình thành ở Nhật Bản trong khoảng 10.000-
300 năm trước Công nguyên là nền văn hoá Jomon (Thằng Văn). Tiếp đó là
nền văn hoá Yayoi (Di Sinh, 300 năm TCN - 300 năm sau CN). Người Jomon
và người Yayoi mặc dù vẫn còn trong trạng thái của xã hội công xã nguyên
thuỷ - sống dựa vào tự nhiên dưới thời Jomon và bắt đầu biết trồng lúa trong
thời Yayoi - nhưng đã bộc lộ sự khác biệt về hướng đi so với các quốc gia láng
giềng. Jomon và Yayoi là những giai đoạn lịch sử đặc biệt quan trọng của
Nhật Bản, đặt nền móng cho xã hội Nhật Bản sau này.
Về mặt giáo dục, tuy nước Nhật chưa có được chữ viết riêng làm công
cụ cho giáo dục, nhưng nhiều yếu tố văn hoá xuất hiện lúc này đã chi phối nền
giáo dục Nhật Bản đến tận bây giờ. Cùng với những biến đổi của lịch sử, nền
giáo đục Nhật Bản luôn luôn chuyển động cho phù hợp thời đại mới. Đặc biệt,
khi giáo dục Nhật Bản ở thời kỳ chưa được tổ chức thì điều này chủ yếu vẫn là
11
việc riêng của mỗi gia đình, lấy lời lẽ truyền dạy, khuyên răn nhau về đạo xử
thế lập thân theo quan niệm của Thần đạo.
Tuy nhiên, sau việc tiếp xúc với Trung Hoa, tư tưởng giáo dục vốn bị
chi phối bởi Thần đạo lại tiếp tục chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho siáo và
Phật giáo.
Việc truyền bá văn minh Trung Hoa sang Nhật Bản đã ảnh hưởng rất
lớn đến xã hội nước này, đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục. Nhưng khác với con
Bên cạnh việc truyền bá chữ Hán, Nho giáo và Phật giáo cũng lần lượt
được du nhập vào N hật Bản. So với Phật giáo thì N ho giáo truyền bá vào Nhật
Bản sớm hơn nhưng lại phổ cập chậm hơn vì mấy thế kỷ đầu Nho giáo chỉ hạn
chế trong giới thượng lưu. Một mặt do tiếng Hán đơn âm nhưng tiếng Nhật lại
đa âm nên người Nhật rất khó tiếp thu. Hơn nữa, chỉ những gia đình có thế
lực, giàu có mới đón được thầy về dạy cho con cháu mình. Mặt khác, số học
giả uyên bác kinh sử từ lục địa sang chỉ đủ cho nhu cầu của triều đình. Còn
thầy đồ, thầy cúng chủ yếu làm việc trong các sia đình quan lại, chùa chiền
nên dân nghèo không có điều kiện học hành, tiếp thu Nho học.
Trong khi đó Phật giáo truyền bá sang Nhật từ năm 538 lại nhanh
chóng được phổ biến trong nhân dân. Việc du nhập Phật giáo đã tạo ra môi
trường thuận lợi cho Nhật Bản tiếp thu văn minh Trung Hoa. Thái tử nhiếp
chính Shotoku (Thánh Đức, 574-622) là người nhận thấy điều này hon ai hết.
Hơn nữa, ông cho rằng việc học tập văn minh Trung Hoa không chỉ trông chờ
vào các Quy hoá nhân, mà Nhật Bản phải đưa người sang trực tiếp học tập,
mắt thấy tai nghe. Vì vậy, từ thời đại của Thái tử Shotoku, Nhật Bản đã bắt
đầu chương trình gửi học sinh đi du học một cách có tổ chức. Đã có ba đoàn
được cử đi dưới thời ông nhiếp chính. Chuyến đi đầu tiên khởi hành vào năm
13
607 do học giả Onono Imoko (Tiểu Dã Chu tử) đứng đầu, gồm nhiểu lưu học
sinh và hoà thượng Phật giáo. Trong số đó có 3 người lưu lại Trung Hoa hơn
30 năm sau mới về nước. Đó là lưu học sinh Takamuko Nogenri, hai hoà
thượng Minabuchino Shiyoan và Min. Sau khi về nước, M in và Takam uko
được triều đình phong kuninohakase (quốc bác sĩ) - một chức cố vấn chính trị
trong triều - để giúp triều đình tiến hành cải cách [PL,1.31]. Còn Minabuchi
đảm nhận việc dạy những kiến thức về Chu Hy cho hoàng tử Nakano Ooe
(Trung Đại Huynh) và Nakatomi Kamatari (Trung Thần Liêm Túc). Nhưng
Thái tử Shotoku chưa đi hết được con đường cải cách khi ông mất vào tuổi 49.
Vị Thiên hoàng mới Kotoku lên ngôi năm 645 đã tiếp tục sự nghiệp mà Thái
tử Shotoku còn đang dang dở.
kinh đô có nhiệm vụ chủ yếu là giảng dạy và nghiên cứu Tứ thư, Ngũ kinh.
Đến thời kỳ Heian (đầu thế kỷ IX ) trường có tất cả 4 khoa: Minh kinh (Triết
học Trung Quốc), K ỷ truyền (Lịch sử), Minh pháp (Pháp luật) và Toán. Học
sinh tất cả đều là con trai tuổi 13 đến 16, xuất thân từ các gia đình hoàng thân
quốc thích, giới quý tộc và một số thuộc gia đình học giả có nhiều cống hiến
cho đất nước. Ngoài 4 khoa đại học còn có 2 khoa tiểu học là khoa Toán và
Tập viết dành cho những học sinh nhỏ hon.
Quốc học là trường công ở các tỉnh. Trong thời Nara cứ 3-4 tỉnh đặt 1
trường. Nhưng từ cuối thời Nara đến thời Heian, mỗi tỉnh lập 1 trường quốc
học. Vào lúc này Nhật Bản chia thành nhiều Đạo. M ỗi Đ ạo gồm nhiều
Quốc (tương đương đơn vị tỉnh của Việt Nam) nên trường cấp tỉnh được sọi
là Quốc học. Những học sinh quốc học sau khi trải qua một kỳ thi có thể đỗ
vào đại h ọc ở k inh đô.
Có thể nói rằng, nếu thế kỷ VIII là thế kỷ mở ra bước ngoặt cho lịch sử
giáo dục Nhật Bản thì thế kỷ IX như một sự bùng nổ của giáo dục.
15
Trong thế kỷ IX , lần đầu tiên, Khổng siáo chính thức được ghi vào
chương trình học. Đồng thời một số môn của Phật giáo cũng được đưa vào
giảng dạy. Sau khi triều đình chuyển về Heian (794), một trường đại học mới
đứợc xây dựng tại kinh đô. Giới quý tộc cũng đua nhau mở trường riêng cho
dòng họ mình, để con cháu có điều kiện học nhiều hơn. Tất nhiên các trường
này cũng phải là những cơ sở giáo dục đạt tới trình độ kiến thức của Đại học,
Kinh, Thư, sử, Truyện và từ, phú, thơ, ca theo âm luật của Hán văn.
Bước sang thế kỷ X-XII, Nhật Bản vẫn coi trọng việc học và những
người có học vấn cao bất kể thuộc tầng lớp nào. Thái độ này được Thái thượng
hoàng Shữakaw a (1158 - 1192) thể hiện rõ ràng. Ông không đưa lên chức vụ
cao những người ít học. Nhà nghiên cứu Nhật Bản nổi tiếng người Mỹ George
Sansom cho rằng tình hình này khác với Châu Âu. Vào lũc đó, ở Châu Âu việc
học chỉ dành cho giới tăng lữ. Một thường dân nào có học vấn uyên bác thì đó
là chuyện lạ và coi như ngoại lệ [137, tr.294]. Cùng trong thời gian này, xã hội
Nagasaki, Mạc Phủ còn cho phép thươns nhân Hà Lan và Trung Quốc cập bến
buôn bán.
Tất cả những chính sách đó đã siúp cho chính quyền duy trì được nền
độc lập, hoà bình và ổn định chính trị. Tuy nhiên, Tokugawa leyasu cho rằng:
muốn duy trì được chính quyền lâu dài thì chỉ dựa vào lực lượng quân sự là
không đủ mà còn phải có nền văn trị cũns cứng rắn khồnă kém đi kèm. Tronơ
bộ luật võ sĩ (.Bukeshohatto - Vũ gia chư pháp độ) ban hành nãm 1615 gồm 13
điều thì điều thứ I yêu cầu người võ sĩ phải chuyên tâm cả hai mặt võ đạo và
học vấn. Học vấn phải được tiếp nhận trước khi học võ. Những nơười kế tục sự
nghiệp của Ieyasu cũng có quan điểm như vậv. Việc khuyến khích phát triển
giáo dục trở thành đường lối xuyên suốt qua các đời tướns quán Mạc Phủ
Tokugawa. Trong đó, Nho học trở thành nền tảng của chính sách văn trị và
Tống học của Chu Hy được gọi là Kangaku (Quan học), môn giáo dục chính
của nhà nước. V ì vậy, ngay sau khi được ban chức Tướng quân, Ieyasu đã mòi
18
môn đệ của nhà Nho nổi tiếng đương thời Fujiw ara Seika (Đằng Nsuyèn Tinh
Oa, 1561-1619) và Hayashi Razan (Làm La Sơn, 1583-1657) làm rườns cột
cho chế độ trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, đến đời tướng quân thứ 3 Iemitsu
(Gia Quang, 1604 - 1651), ngành giáo dục mới chính thức lấy Nho giáo làm
quan học (quốc học). Dòng họ Lâm được kế tiếp nhau giữ chức Jukan (Nho
quan) điều khiển ngành quan học xây dựng trên lý thuyết của Khổng giáo và
Tống Nho. Tư thục của dòng họ Lâm (Lâm Gia Gia Thục) thành lập năm 1607
được chuyển về Gaoka (Nhẫn Cương) thuộc khu vực truns tâm Tokvo hiện nay,
đổi tên thành Shoheiiaka Gakưmonsho (Xươns Bình Phản Học Vấn sở) và trở
thành trung tâm đào tạo nho sĩ, giảng dạy Tốns học do Mạc Phủ trực tiếp quan
lý. Tất cả quan chức Mạc Phủ, các thủ lĩnh Đại danh và Tiểu danh (Shomvo)
[149, tr.258] xung quanh Edo đều phải luân phiên đến theo học từ 6 tháng đến
1 năm.
Vào năm 1691 Mạc Phủ còn tiến hành xây dựng trons khuôn viên
trường nhà Văn miếu để thờ Khổng Mạnh và các tiên Nho. Đồns thời yêu cầu
mình cũng phải xây dựng Thánh Đường và trường học. Một mô hình trường
mới xuất hiện.
Loại trường học mới này được gọi là Hanko (Phiên hiệu), nghĩa là các
trường học của phiên, trấn. Các trường phiên hầu hết được xây dựng theo mô
hình trường do Mạc Phủ trực tiếp quản lý. Trường phiên duy trì chế độ đẳng
cấp nghiêm ngặt và Nho giáo cũng là môn học chính thức. Ngoài ra còn một
số môn như ngữ pháp, tập làm văn, thuật viết chữ đẹp, lịch sử Nhật Bản và
Trung Hoa. Tuy nhiên chương trình giáo khoa khác nhau tuỳ theo đối tượng
học sinh. Thí dụ, với võ sĩ lớp trên không quan tâm đến môn toán, vì tính toán
chỉ cần thiết cho các thương nhân. Đối với võ sĩ lớp dưới, việc học toán là cần
thiết. Còn võ sĩ lớp giữa là môn học không bắt buộc. Chương trình giảng dạy
về quân sự cũng vậy. Thuật đánh kiếm, bắn cung, cưỡi ngựa được giảng dạy
19
cho con em võ sĩ lớp trên. Nhưng đối với con em võ sĩ lớp dưới phải dạy kỹ
thuật đánh tập đoàn, nhu thuật, giáo thuật
Từ cuối thế kỷ x v in , đa số trường đều mở thêm môn học mới như y
học Trung Hoa, Tây y hoặc môn học về phương Tây, tiếng Anh Do sớm
tiếp xúc với phương Tây, nên các thủ lĩnh Đại danh có tư tưởng cấp tiến hơn
so với Mạc Phủ. V ì vậy, chương trình Âu học cũng được giảng dạy sớm hơn
trong các trường phiên. Nhưng lĩnh vực quan tâm nhất của Nhật Bản lúc này
vẫn là khoa học quân sự của phương Tây. Theo quan điểm chính thức của Mạc
Phủ, Âu học chắc chắn là thiết thực, nhưng về lĩnh vực đạo đức và sự trác
tuyệt của phương Tây chắc chắn không bằng Nhật Bản, nên nó không thích
hợp với giai cấp lãnh đạo. Từ đó, Sakumashi Yozan (Tá Cửu Gian Tượng Sơn
1811 - 1864) nhà Nho học và binh học cuối thời Tokugawa, đã khái quát bằng
một câu rất nổi tiếng mà sau này được vận dụng vào thời Minh Trị: "Đạo đức
phương Đông, kỹ thuật phương Tây". Cũng chính từ quan niệm ấy, ở rất nhiều
phiên, khi tiếp nhận Âu học người ta chỉ giới hạn trong lĩnh vực kỹ thuật.
Nhìn chung, kiến thức dạy ở các trường phiên phản ánh rất rõ mục tiêu
bổi dưỡng cho võ sĩ lớp trên những tư chất của người lãnh đạo mà trước hết là
Shijuku hoặc Juku (trường tư thục). Trong công trình nghiên cứu của mình,
Richard Rubinger, nhà nghiên cứu giáo dục nổi tiếng của Mỹ, viết rằng
Shijuku đã mở ra nước Nhật hiện đại. Theo Hebert Passin, vào cuối thời kỳ
Mạc Phủ, ít nhất có khoảng 1.500 tư thục các loại. Dựa theo Jiro Namata, H.
Passin còn đưa ra những con số cụ thể là: năm 1829 có 407 trường. Vào năm
1853 con số này là 1066 và tăng lên thành 1528 vào năm cuối cùng của chế độ
Mạc Phủ (1867). Trong những năm đầu thời kỳ Minh Trị, trước khi áp dụng
chế độ giáo dục hiện đại, số lượng có giảm đi một chút, gồm 1374 trường vào
năm 1870 và 1182 trường vào năm 1871 [213, tr.29].
21