MỤC LỤC
1.Giới thiệu chung 2
2.Phương pháp Repertory Grid 2
2.1.Lựa chọn yếu tố 3
2.2.Rút ra những kiến lập 7
2.2.1.Các phương pháp 7
2.2.2.Một số lưu ý khi thực hiện 12
2.3.Liên kết các yếu tố và kiến lập 14
2.4.Phân tích dữ liệu 15
2.4.1.Phân tích một lưới dữ liệu 15
2.4.2.Phân tích nhiều lưới dữ liệu 19
3.Ứng dụng trong đánh giá cảm quan 22
3.1.Mô tả các thuộc tính của bao bì phomai dựa trên một bản từ vựng đồng thuận 23
3.2.Một tài liệu về phương pháp Repertory Grid để đánh giá sự chấp nhận của người tiêu dùng
Úc về sản phẩm thực phẩm sản xuất theo công nghệ mới 24
3.3.Sử dụng phương pháp Repertory Grid và mô tả lựa chọn tự do để đánh giá tính chất cảm
quan của các món tráng miệng vani – sữa 27
3.4.Cảm nhận về bánh mì: So sánh giữa người tiêu dùng và người thử đã qua huấn luyện 28
3.5.Cảm nhận của người tiêu dùng Argentina đối với thực phẩm biến đổi gen 29
4.Kết luận 31
Tài liệu tham khảo 32
Phương pháp Repertory Grid
Elvira, 2005), cảm nhận của người tiêu dùng về thực phẩm được chế biến theo công nghê
mới (C.G. Russell và D.N. Cox, 2004), yaourt (V.P. Tu, D. Valentin, F. Husson , A. Sutan ,
D.T. Ha và C. Dacremont, 2007 ), chocolate (McEwan và Thomson;1998), sự ưa thích và
cảm nhận của trẻ em về các loại rau củ (Irene, Monika và John, 2000).
Bài báo cáo này sẽ cung cấp một cái nhìn khái quát về phương pháp RepGrid, các
cách thực hiện cũng như ứng dụng trong cảm quan của phương pháp này.
2. Phương pháp Repertory Grid
Về cơ bản, repertory grid sẽ bao gồm một chuỗi các yếu tố (elements) đại diện cho
nội dung của lónh vực cần nghiên cứu, một chuỗi các kiến lập (constructs) là các sự giống
nhau hay không giống nhau có thể xảy ra giữa các yếu tố, và hệ thống liên kết yếu tố với
các kiến lập sẽ đánh giá các yếu tố dựa trên sự sắp xếp lưỡng cực của mỗi kiến lập. Trong
Phương pháp Repertory Grid
Lê Thò Ngọc Hương 3
phân tích cảm quan yếu tố (element) chính là mẫu thử, sản phẩm mà ta cần phân tích, các
kiến lập (construct) chính là những thuật ngữ mô tả của người thử.
RepGrid được thực hiện theo các bước: lựa chọn yếu tố, rút ra các kiến lập, liên kết
các yếu tố, kiến lập và phân tích dữ liệu. Lựa chọn yếu tố là chọn ra các đối tượng đại diện
cho nội dung của lónh vực cần nghiên cứu. Trong bước rút ra các kiến lập ta sẽ giới thiệu
cho người thử các yếu tố và yêu cầu họ so sánh các yếu tố với nhau từ đó người phỏng vấn
sẽ rút ra được các kiến lập. Liên kết yếu tố với kiến lập chính là việc yêu cầu người thử
đánh giá yếu tố dựa trên sự sắp xếp lưỡng cực của mỗi kiến lập, sau bước này ta sẽ thu
được các bảng đánh giá hay lưới dữ liệu (grid). Cuối cùng các lưới dữ liệu này sẽ được
phân tích thông qua các công cụ thống kê để thu được kết quả mà ta mong muốn.
2.1. Lựa chọn yếu tố
Yếu tố có thể là con người, sự vật, sự kiện, hoạt động phụ thuộc vào lónh vực mà
đối tượng nghiên cứu cần được phân tích, đánh giá .Có hai cách để lựa chọn yếu tố. Cách
thứ nhất là nhà nghiên cứu sẽ đưa ra những yếu tố. Cách thứ hai là yêu cầu người tham gia
đưa ra những yếu tố.
Có một số lý do cho rằng nên để nhà nghiên cứu đưa ra yếu tố (Reger,1990). Thứ
nhiệt độ giới thiệu mẫu, dụng cụ chứa mẫu, bao nhiêu mẫu có thể được thử trong một buổi
thử, liệu người thử có phải thanh vò giữa các lần thử hay không, các mẫu sẽ được nuốt hay
nhổ ra… Ngoài ra cần phải đảm bảo tính vô danh giữ các mẫu bằng cách mã hóa mẫu.
Trong nghiên cứu của Luis và Elvira (2005) về đánh giá tính chất cảm quan của
các món tráng miệng vani – sữa, hai ông đã thực hiện RepGrid trên 8 sản phẩm có mặt
trên thò trường Tây Ban Nha được mua từ các siêu thò. 5 mẫu có thành phần bao gồm tinh
bột và các phụ gia tạo cấu trúc như chất tạo đặc và 3 mẫu còn lại có chứa trứng. Mẫu thử
được bảo quản trong tủ lạnh ở nhiệt độ 4 1
o
C trước khi tiến hành thí nghiệm, và các mẫu
thử đều còn nằm trong hạn sử dụng , thường là 2 đến 8 tuần.
Bảng 1: Thành phần của 8 mẫu thử
Mẫu
Thành phần chính
Chất tạo cấu trúc
Chất tạo màu
1
Sữa nguyên, lòng
đỏ trứng, kem
Bột bắp
Tartrazine, cochineal-red A
2
Sữa nguyên, bột
sữa gầy, kem, jelly
Tinh bột biến tính
Tartrazine, cochineal-red A
3
Sữa nguyên, kem
Carrageenan, tinh bột
biến tính
Carrageenan, guar gum,
tinh bột biến tính
Mixed carotenes
Phương pháp Repertory Grid
Lê Thò Ngọc Hương 5
sữa gầy, kem
Mẫu thử được đựng trong những chén nhựa màu trắng với thể tích 30ml được lấy
trực tiếp từ tủ lạnh ở nhiệt độ 5 1
o
C, và được mã hóa bởi ba chữ số ngẫu nhiên,. Các mẫu
được đánh giá liên tục và khoảng thời gian nghỉ giữa hai mẫu liên tiếp là 30s. Đối với mỗi
mẫu thì những thuộc tính về hình thức bên ngoài sẽ được đánh giá trước, sau đó ngưới thử
sẽ được yêu cầu đánh giá mùi vò bằng cách nhấp một ngụm và cuối cùng là đánh giá về
cấu trúc với ngụm thứ hai. Nước thanh vò sẽ được cung cấp giữa các lần thử mẫu.
Đối với yếu tố được trình bày dưới dạng hình ảnh thì việc chuẩn bò mẫu sẽ trở nên
rất đơn giản. Theo Irene, Monika và John (2000) thì quá trình chuẩn bò mẫu cũng như cách
thức thử mẫu sẽ ảnh hưởng rất lớn đến cảm nhận của người thử đến mẫu thử. Ví dụ như
người thử không có kinh nghiệm trong việc thử mẫu hoặc họ không thích thử mẫu.
Trong nghiên cứu về cảm nhận và sự ưa thích của trẻ em vùng tây Scotland về rau
củ, Irene, Monika và John (2000) đã trình bày mẫu dưới dạng hình ảnh. Tám loại rau củ
thường được sử dụng nhất ở Scotland được chọn để nghiên cứu bao gồm đậu trắng, carrot,
cà chua, đậu Hà Lan, bắp non, bắp cải, súp lơ, củ cải. Trong đó cà chua, carrot, súp lơ và
củ cải ở dạng tươi chưa qua chế biến, còn đậu trắng, bắp non ở dạng đóng hộp và đậu Hà
Lan ở dạng lạnh đông. Các sản phẩm này được giới thiệu với người thử qua hình ảnh,
không nếm mẫu. Do người thử trong nghiên cứu này là trẻ từ 8 đến 10 tuổi nên việc đánh
giá qua hình ảnh sẽ dễ dàng được sự đồng ý của nhà trường cũng như phụ huynh để các em
tham gia thí nghiệm hơn là đánh giá qua việc thử mẫu. Ngoài ra những vấn đề như bảo
quản mẫu, vận chuyển mẫu đến nơi thí nghiệm cũng được loại bỏ và sự tiêu chuẩn hóa các
mẫu giữa những người thử cũng được đảm bảo. Và một yếu tố quan trọng nhất trong việc
Các bản giới thiệu
A. Sản phẩm biến đổi gen với mục đích hạ giá thành sản phẩm. Ví dụ, thòt gà
bình thường có giá $1.70/kg trong khi thòt gà biến đổi gen có giá $1.10/kg.
B. Rau trái biến đổi gen với mục đích có thể tiêu thụ quanh năm. Ví dụ, cà chua
và dâu có thể ăn vào mùa động, và bắp có vào mùa đông và màu xuân.
C. Thực phẩm có nguồn gốc từ thực vật ( cà chua, gạo, đậu nành…) được biến
đổi gen nhằm mục đích nâng cao giá trò dinh dưỡng như tăng hàm lương vitamin,
tăng khả năng tiêu hóa. Ví dụ, gạo bình thường không chứa vitamin A, gạo biến đổi
gen có chứa một lượng vitamin A cần thiết cho nhu cầu hàng ngày.
D. Thực phẩm có nguồn gốc từ động vật (thòt heo, thòt cừu, thòt bê, thòt gà, cá…)
biến đổi gen để tăng gái trò dinh dưỡng như hàm lượng béo thấp, chứa protein dễ
tiêu hóa. Ví dụ, thòt heo chứa hàm lượng chất béo và cholesterol cao, đối với thòt
heo biến đổi gen thì hàm lượng này giảm đi một nửa.
E. Các sản phẩm như yourt, bia, rượu, xúc xích khô…. qua quá trình lên men,
thực hiện biến đổi gen các vi khuẩn lên men để tăng các tính an toàn, dinh dưỡng.
Ví dụ, sử dụng các vi sinh vật biến đổi gen trong một số loại xúc xích khô thay cho
việc sử dụng háo chất bảo quản.
F. Biến đổi gen thực phẩm có nguồn gốc từ thực vật để cải thiện hình thức, mùi
vò và cấu trúc của chúng. Ví dụ, cam biến đổi gen ngọt hơn, nhiều múi hơn và ít hạt
hơn.
G. Thực phẩm có nguồn gốc từ động vật được biến đổi gen để cải thiện hình
thức, mùi vò và cấu trúc của chúng. Ví dụ, các phần thòt dai cứng sẽ mềm hơn nếu
tiến hành biến đổi gen đối với vật nuôi.
H. Các sản phẩm như yaourt, bia, rượu, xúc xích khô…. qua quá trình lên men,
thực hiện biến đổi gen các vi khuẩn lên men để cải thiện hình thức, mùi vò và cấu
trúc của các sản phẩm trên. Ví dụ, rượu làm từ vi khuẩn biến đổi gen có mùi vò trái
cây nhiều hơn.
Phương pháp Repertory Grid
Lê Thò Ngọc Hương 7
lời câu hỏi: “hai trong ba yếu tố nào giống nhau? Tại sao chúng giống nhau nhưng lại khác
yếu tố thứ ba và yếu tố thứ ba khác như thế nào so với hai yếu tố cùng loại?”. Việc xác
đònh những sự khác biệt và tương đồng là để đưa ra những kiến lập trái ngược nhau. Quá
trình này được lặp lại cho đến khi người nghiên cứu cảm thấy thỏa mãn với những kiến lập
đã được xác đònh. Nhà nghiên cứu có thể để người tham gia tự do đưa ra bất cứ kiến lập
nào. Mặt khác, người nghiên cứu có thể đưa ra một ngữ cảnh để tập trung sự chú ý của
người tham gia vào một vấn đề nào đó, ví dụ trong phân tích cảm quan ta có thể yêu cầu
Phương pháp Repertory Grid
Lê Thò Ngọc Hương 8
người thử chỉ tập trung vào những tính chất cảm quan như mùi vò, cấu trúc. Trong cảm
quan ngoài cách đặt câu hỏi mà Kelly đã nêu ra ở trên ta còn có thể yêu cầu người thử sắp
xếp theo mức độ ưa thích (Cox và Russel, 2004)hoặc quan tâm (Andrea và Guillermo,
2003)và giải thích lý do.
Một vấn đề được đặt ra là sẽ có bao nhiêu bộ ba được giới thiệu và thứ tự trình bày
của các bộ ba này. Nghiên cứu cho thấy rằng chỉ cần từ bảy đến mười bộ ba là đủ để gợi ra
tất cả kiến lập của người tham gia trong tất cả các lónh vực (Reger, 1990). Có nhiều cách
trình bày các bộ ba:
Các bộ ba mẫu được tạo ra một cách ngẫu nhiên từ tập hợp mẫu trong mỗi
lần giới thiệu.
Các bộ ba được giới thiệu liên tục bằng cách chỉ thay đổi một yếu tố tại một
thời điểm. Theo cách đó, bộ ba thứ nhất sẽ bao gồm yếu tố A, B và C; thứ
hai là B, C và D; thứ ba là C, D và E … cho đến khi tất cả yếu tố đều được
giới thiệu.
Bộ ba thứ nhất được tạo ra một cách ngẫu nhiên từ tập hợp mẫu.Bộ ba thứ
hai bao gồm một mẫu được chọn một cách ngẫu nhiên từ bộ ba thứ nhất và
hai mẫu còn lại cũng được rút ra ngẫu nhiên từ tập hợp mẫu còn lại (đã loại
trừ ba mẫu của bộ ba thứ nhất). Mẫu giống nhau giữa hai bộ ba đầu tiên bò
loại bỏ, một trong hai mẫu còn lại trong bộ ba thứ hai sẽ được giữ lại trong
bộ ba thứ ba, hai mẫu còn lại của bộ ba này được rút ra ngẫu nhiên từ tập
giới thiệu được in lên những tấm card và chọn ngẫu nhiên từ bảng 7. Với mỗi bộ ba, người
thử phải trả lời các câu hỏi “trong ba bản giới thiệu, bạn quan tâm đến bản nào nhất và tại
sao?” và “trong ba bản giới thiệu, bạn ít quan tâm đến bản nào nhất và tại sao?” Trong nghiên cứu về cảm nhận của người trung niên về thòt của Cox và Russel
(2004), người thử sẽ được giới thiệu lần lượt 7 bộ ba mẫu từ 14 mẫu thòt ban đầu. Ở mỗi bộ
ba, người thử được yêu cầu xếp hạng ba mẫu thòt theo sự ưa thích của họ từ thích nhất đến
không thích nhất và giải thích lý do.
Bảng 6: Các bộ ba được giới thiệu
Bảng 7: Các bộ ba được giới thiệu
Phương pháp Repertory Grid
Lê Thò Ngọc Hương 11
Khơi gợi kiến lập bằng cách sử dụng bộ hai yếu tố (dyads of elements): Schuman và
Nickeson (1971) tranh luận rằng ta chỉ cần dùng hai yếu tố là đã gợi ra được các cực trái
ngược nhau. Phương pháp này được bắt đầu tiến hành bằng cách đặt câu hỏi như “hai yếu
tố này giống nhau như thế nào? Hay chúng có cùng chung một đặc điểm nào không?” Sau
đó ta lại tiếp tục hỏi về sự khác nhau giữa chúng như hai yếu tố này khác nhau như thế
nào? Việc giải thích sự khác nhau giữa chúng cho phép ta thấy được những cặp trái ngược
nhau, mỗi yếu tố được miêu tả sẽ cung cấp cho ta một cực của vấn đề.
Phép thử này được Irene, Monika và John (2000) áp dụng trong nghiên cứu về cảm
nhận và sự ưa thích của trẻ em vùng tây Scotland về rau củ. Người thử sẽ được giới thiệu
các cặp hình ảnh về các loại rau củ. Ở mỗi cặp hình họ được yêu cầu chỉ ra những điểm
Phương pháp Repertory Grid
Lê Thò Ngọc Hương 12
cứu đều biết được ý tường của những thành viên khác trong nhóm, từ đó họ có thể hiểu và
đánh giá được những quan điểm khác nhau trong nhóm mình.
Trong phân tích cảm quan, phương pháp RepGrid được sử dụng cho một dãy nhóm
người thử tập trung để tăng hiệu quả của việc thu thập dữ liệu. Lúc đầu RepGrid đòi hỏi
tốn nhiều thời gian để phỏng vấn từng người thử. Tuy nhiên, nếu sử dụng cho những nhóm
người tiêu dùng đònh hướng (focus group) có thể kết hợp được lợi ích thảo luận nhóm,
tương tác sẽ là lớn hơn và sẽ cho câu trả lời chung, giảm được độ lệch; thuận tiện hơn
trong việc so sánh thảo luận những sản phẩm với những mô tả của từng cá nhân. Mặt khác,
Colwill và McEwan (1992) so sánh kết quả của lập các nhóm tập trung và phỏng vấn từng
cá nhân đều cho cùng một bản đồ sản phẩm hay cùng một cách hiểu giữa 2 phương pháp
luận. Tuy vậy phương pháp này có một số hạn chế sau : những thành viên có cá tính mạnh
và có ưu thế có thể ảnh hưởng đến đònh hướng của cuộc phỏng vấn, thường thì người thử
chỉ có sự tiếp xúc hạn chế với sản phẩm hoặc sản phẩm không được tất cả người thử sử
dụng, ngoài ra việc đònh hướng cuộc phỏng vấn phần nào liên quan với tính chủ quan của
người điều khiển.
Cách này được sử dụng trong nghiên cứu về phomai của Pedro, Francisco, Jesus và
Marta (1998). Nhóm người thử sẽ được giới thiệu 4 bộ đôi của 4 sản phẩm phomai (bộ đôi
sau phải có một mẫu giống với bộ đôi trước như AB, BC, CD, DA) và được yêu cầu mô tả
sự giống và khác nhau về cấu trúc, mùi vò giữa hai mẫu với nhau. Sau khi tất cả thành viên
trong nhóm mô tả xong, trưởng nhóm sẽ bắt đầu tiến hành thảo luận để chọn ra những
thuật ngữ thích hợp nhất và đưa ra đònh nghóa cho từng thuật ngữ đó.
Nghiên cứu sự chấp nhận của người tiêu dùng Úc về sản phẩm thực phẩm sản xuất
theo công nghệ mới của Melanie Mireaux (2007) cũng sử dụng phương pháp thảo luận
nhóm để rút ra thuật ngữ từ những bộ ba.
2.2.2. Một số lưu ý khi thực hiện
Tiến hành phỏng vấn (facilitating the interview)
Trong đánh giá cảm quan thì trước khi phỏng vấn, người phỏng vấn nên “hâm
Kết thúc quá trình khơi gợi (ending the elicitation process)
Khi phải trả lời lần lượt các câu hỏi thì dần dần đối tượng sẽ biểu hiện sự mệt mỏi
và cảm thấy “bão hòa”. Họ cảm thấy khó khăn trong việc phát triển các kiến lập mới và
bắt đầu trả lời một cách hời hợt, mơ hồ. Nếu đến giai đoạn này mà ta đã thu thập được đủ
các thông tin và các yếu tố cần thiết thì nên kết thúc và chuyển sang giai đoạn tiếp theo.
Tuy nhiên cũng có một số đối tượng do có kinh nghiệm và khả năng ngôn ngữ tốt nên họ
không bò bão hòa và họ có thể tiếp tục quá trình này gần như đến vô hạn. Kết quả là ta thu
thập được một số lượng quá nhiều các kiến lập, điều này sẽ làm cho người thử rất mệt mỏi
trong giai đoạn liên kết các kiến lập và yếu tố dẫn đến thiếu chính xác trong quá trình
đánh giá, và việc xử lý dữ liệu sẽ trở nên phức tạp.
Loại bỏ các kiến lập (construct to be discarded)
Người phỏng vấn cần phải xem xét loại bỏ những kiến lập không phù hợp. Hunt
(1951) trong luận án tiến só của ông được hướng dẫn bởi Kelly, đã xây dựng một hệ thống
phân loại những kiến lập ít được sử dụng:
Các kiến lập chung chung, quá rộng không giúp ta phân biệt được các đối
tượng đã lựa chọn như con người, động vật, đàn ông, đàn bà.
Những kiến lập chỉ giới hạn trong một vài đối tượng không mang tính đại
diện.
Những khác biệt về mặt đòa lý như thành phố, nông thôn hay một đòa điểm
cụ thể nào đó. Việc nhận hay loại bỏ những kiến lập này còn tùy thuộc vào
mục đích nghiên cứu nhưng thông thường là không cần trong các thí nghiệm
về tâm lý.
Những kiến lập không liên quan đến lónh vực đang nghiên cứu.
Phương pháp Repertory Grid
Lê Thò Ngọc Hương 14
Những kiến lập cảm tính như “cả hai đều tốt bụng” hay “cả hai đều đáng
ghét”.
Trong đánh giá cảm quan, bước loại bỏ này không nên thực hiện ở giai đoạn rút ra
kiến lập mà nên thực hiện sau khi người thử đã liên kết kiến lập và yếu tố với nhau và
được sử dụng có thể là năm, bảy, chín hoặc mười một. Thang điểm tự do là thang điểm có
số giá trò trên thang điểm lớn hơn số lượng yếu tố. Một số ý kiến cho rằng sẽ có sự khác
biệt về mức độ tin cậy khi ta sử dụng thang tự do và thang điểm năm (Bell, 1990). Cũng có
ý kiến cho rằng thang điểm bảy có thể tiếp cận với đa số giới hạn phân biệt của người
tham gia và bất cứ điều gì trên thang điểm năm đều rất khó khảo sát trực quan được
(Stewart and Stewart, 1981).
Phương pháp Repertory Grid
Lê Thò Ngọc Hương 15
Trong một số trường hợp, yếu tố và kiến lập có thể không liên kết với nhau.
Trong một số trường hợp thì đối tượng không thể cho điểm các yếu tố chỉ đơn giản
bởi vì các kiến lập đó không phù hợp với một số yếu tố. Trong trường hợp này ta sẽ để
trống hay ghi N/A để ám chỉ rằng kiến lập không phù hợp với yếu tố. Tuy nhiên việc để
trống sẽ gây ra một loạt các rắc rối trong việc xử lý thống kê sau này khi phân tích dữ liệu
vì thế đã có hai cách được đề nghò để hạn chế các rắc rối trên:
Loại bỏ kiến lập đó: mặc dù đây là cách giải quyết hợp lý nhất nhưng như
vậy ta sẽ mất đi cơ hội phân tích nó cùng với các kiến lập khác cũng như
mất đi mối liên hệ về mặt ngữ nghóa giữa các kiến lập với nhau.
Chuyển đổi chỗ để trống thành giá trò điểm ở giữa trong thang điểm: đây
không phải là giải pháp chính xác lắm bởi vò giá trò điểm ở giữa có một
trọng số khác. Tuy nhiên, nó cho phép giữ lại kiến lập đó để phân tích. Nếu
ta lựa chọn cách này thì kiến lập đó cần được xem xét kỹ lưỡng sau này.
Một vấn đề khác có thể gặp trong khi thực hiện liên kết yếu tố và kiến lập là tồn tại
khả năng đối tượng không hiểu rõ về yếu tố để có thể đánh giá chúng dựa trên một kiến
lập nào đó. Trong trường hợp này thì ta cần nhấn mạnh rằng:
“Chúng tôi không chỉ quan tâm đánh giá những gì bạn hiểu và chắc chắn mà chúng tôi
còn quan tâm đến sự suy luận, tưởng tượng và trực giác mà bạn có. Vì vậy nếu bạn có bất
kì một ý tưởng gì thì không cần phải bận tâm xem liệu nó như thế nào mà hãy cố gắng
đánh giá nó bằng 1 giá trò trên thang điểm”
Có thể đối tượng sẽ từ chối việc đánh giá cho điểm cho đến khi nào họ thật chắc
và ×)
Trong phương pháp này ta sẽ so sánh từng phần tử với nhau, nếu cùng dấu với nhau
thì là 1, khác dấu là 0, sau đó cộng tổng lại. Ví dụ, ta so sánh E1 với E2, E3, ….
Điểm cao nhất sẽ là 8 (bằng với tổng số yếu tố trong bảng) và thấp nhất là 0. Sau khi
so sánh tất cả các cặp phần tử E với nhau ta sẽ thu được một ma trận như sau:
Phương pháp Repertory Grid
Lê Thò Ngọc Hương 17 Từ ma trận trên ta sẽ tìm ra những cặp thành phần có số điểm cao và xếp những cặp
này lại với nhau (số điểm càng cao thì càng gần nhau). E1 với E5 và E7 đều có điểm 8 ,
E2 với E4 và E8 có điểm 7 nên chúng sẽ được xếp lại gần nhau.
Đối với những hàng C (kiến lập) ta cũng làm tương tự như trên.
Với 8 mẫu, nếu một yếu tố nào có số điểm nhỏ hơn 4 thì ta phải đảo ngược yếu tố đó.
Ở đây ta thấy C2, C4 và C8 có nhiều số điểm thấp nên tả sẽ đảo ngược những kiến lập
này. Sau khi đảo ngược ta thu được bảng sau:
R là dấu hiệu của những mô tả đảo ngược.
Ta thu được ma trận tương quan:
Phương pháp Repertory Grid
Lê Thò Ngọc Hương 18 Nếu dữ liệu dưới dạng số (sử dụng thang điểm để đánh giá), thì ta cũng đi so sánh
từng phần tử, bằng cách trừ chúng với nhau và tính tổng của hiệu này. Đối với cột yếu tố
Lê Thò Ngọc Hương 19
Chỉ có một số ít những thành phần chính ban đầu thường xuyên chòu trách nhiệm
cho phần lớn phương sai cùa dữ liệu và những thành phần này thường được giữ lại cho việc
giải thích sau đó.
Kết quả của PCA là một ma trận chùm yếu tố không quay. Chùm yếu tố có thể
quay nếu khó giải thích chùm không quay. Mục đích quay là để nhận được một phương án
PCA có cấu trúc đơn giản. Trong một cấu trúc đơn giản, các biến số được tải nhiếu vào
một thành phần chính đơn giản. Khi đã nhận được một cấu trúc đơn giản thì ta tiến hành
giải thích những thành phần chính. Thực hiện điều này bằng cách mô tả mối quan hệ giữa
các biến số phụ thuộc với nhau (các từ mô tả) và với các thành phần chính được giữ lại.
Những mô tả tải nhiều (hoặc dương hoặc âm) lên một chiều cụ thể để giải thích chiều đó
(Urban và cộng sự, 1987). Một thuộc tính được tải nhiều nghóa là gì? Hatcher và Stepanski
(1994) đề nghò những mức tải lớn hơn 0,4 là có ý nghóa. Tuy nhiên, Stevens (1986) chặt
chẽ hơn, đề nghò những mức tải quan trọng phải gấp đôi giá trò của hệ số tương quan có ý
nghóa đối với kích thước mẫu đặc trưng. Một đề nghò khác nữa là chỉ nên dùng những thuộc
tính được tải nhiều để mô tả tính chất của mỗi thành phần chính. Một quan điểm khác là
tất cả các mức tải đều có ý nghóa, những mức tải nhỏ (gần số không) có nghóa là nhân tố
không liên hệ gì đến các biến số đó và điều này có thể là một thông tin hữu ích khi giải
thích các thành phần chính.
Cuối cùng, dựng đồ thò của mẫu (vật thể hay sản phẩm) trong không gian dữ liệu
được mô tả bằng các thành phần chính giữ lại. Tỷ số của các yếu tố tính chó mỗi mẫu để
xác đònh vò trí trên các cấu tử giữ lại. Về mặt cảm nhận, những mẫu nằm xa nhau trên bản
đồ thanh phần chính khác với những mẫu nằm gần nhau (Coxon, 1982; Schiffman và cộng
sự, 1981).
Phương pháp này được thực hiện trên máy tính với sự giúp đỡ của các phần mềm
chuyên dụng như INGRID, FLEXIGRID của Finn Tschudi, REPGRID của Mildred Shaw
và Brian Gaines… hay ta có thể tính toán và xử lý số liệu trên phần mềm R , Mathlape…
2.4.2. Phân tích nhiều lưới dữ liệu
a. Phân tích Procrustes khái quát
thành viên trong không gian hai hay ba chiều. Cũng có một giải pháp Procrustes với số
chiếu lớn hơn ba, nhưng thường không thể giải thích được. Cấu hình hào hợp được giải
thích tương tự như bản đồ PCA. Ngoài ra có thể lập giản đổ không gian dữ liệu của từng
thành viên trong nhóm và so sánh các thành viên đó với nhau. Giản đồ vò trí của các thành
viên trong không gian hòa hợp cho phép chuyên gia cảm quan xác đònh chiều nào quan
trọng hơn đối với những thành viên đó. Cũng có thể lập giản đồ các từ mô tả do từng thành
viên sử dụng trong không gian hòa hợp. Cách giải thích những mô tả này tương tự như các
mô tả trên giản đồ PCA.
b. Phân tích đa yếu tố
MFA là phương pháp phân tích đồng thời các quan sát được mô tả bởi nhiều tập
biến (Escofier and Pagès, 1990, 1994). MFA đưa ra một hình ảnh thống nhất của tất cả các
tập biến và mối quan hệ giữa các tập biến với nhau.
MFA làm việc theo nguyên tắc sau:
Đối với mỗi dữ liệu, MFA thực hiện các PCA riêng biệt. Tức là đối với dữ liệu thứ
nhất (tập biến có chứa K1 biến), quan sát i được biểu diễn thành một điểm trong không
gian R
K1
. R
K1
là không gian có K1 chiều, mỗi chiều được xây dựng tương ứng với một biến
trong tập biến. Như vậy, các quan sát được mô tả bởi tập biến thứ nhất được biểu diễn
trong không gian R
K1
, tạo thành đám mây
1
I
N
. Tương tự, các quan sát được mô tả bởi tập
biến thứ j (tập biến chứa Kj biến) được biểu diễn thành đám mây
j
Trong không gian R
K
, chiếu
I
N
lên không gian con R
K1
ta thu được đám mây
1
I
N
.
hình ảnh thống nhất của thông tin từ mỗi thành viên trong không gian hai hoặc ba chiều.
Điều quan trọng nhất của phân tích Procrustes cho phép người phân tích xác đònh các thuật
ngữ do một thành viên sử dụng mà các thành viên khác cũng dùng để đánh giá cùng tính
chất cảm quan đó. Ví dụ, nếu một hội đồng đánh giá kem hương vani, có thể có một đại
lương bao gồm các thuật ngữ của các thành viên như “mốc”, “đất”, “bẩn”, “tủ lạnh cũ”…
Trong trường hợp này nhà khoa học cảm quan có thể nhận ra đây chính là những tính chất
liên quan đến hương vani khi bổ sung vào kem. Chính vì tránh được việc huấn luyện hội
đồng nên thí nghiệm có thể hoàn thành nhanh hơn và ít tốn kém chi phí. Ngoài những ưu
điểm trên phương pháp lưới thông tin Repertory Grid còn có một số hạn chế sau. Thời gian
để tiến hành thí nghiệm thường kéo dài và phân thành nhiều đợt thí nghiệm, điều này làm
cho người thử rất mệt mỏi. Việc lựa chọn khoảng thời gian tiến hành thí nghiệm phải được
tính toán thật kó. Không quá ngắn vì nếu quá ngắn thì không thu được tất cả các thuật ngữ,
cũng không quá lâu vì sẽ làm người thử mệt mỏi, mất đi yếu tố nhiệt tình dẫn đến kết quả
đánh giá không chính xác. Ngoài ra phải mất một khoảng thời gian để tạo ra các phiếu
điểm khác nhau cho từng cá nhân ngưới thử. Và vấn đề cơ bản là việc phân tích dữ liệu sẽ
giảm thông tin dẫn đến chỉ còn một vài đại lượng với sự mất mát lớn các chi tiết. Những
kết quả của RepGrid chỉ ra sự khác biệt sơ bộ giữa các sản phẩm nhưng chúng không chỉ
rõ những sự khác nhau nhỏ giữa các sản phẩm, điều mà những nhà phát triển sản phẩm
mới rất quan tâm.
Trong phân tích cảm quan phương pháp RepGrid được sử dụng rất linh hoạt và đa
dạng tùy thuộc vào mục đích của nhà nghiên cứu. Sau đây sẽ là một số nghiên cứu áp
dụng phương pháp RepGrid với những cách tiến hành thí nghiệm khác nhau.
Phương pháp Repertory Grid
Lê Thò Ngọc Hương 23
3.1. Mô tả các thuộc tính của bao bì phomai dựa trên một bản từ
vựng đồng thuận (Jane M. Murray và Conor M. Delahunty, 1999)
Mục đích của nghiên cứu này là tìm ra những thuật ngữ mô tả thuộc tính bao bì
phomai. Những tính chất bên ngoài của bao bì được xem là những kích thích về hình thức
vì vậy người thử chỉ sử dụng thò giác và không sử dụng khứu giác, vò giác cũng như những
(vocabulary development sessions).
Mở rộng từ ngữ (Vocabulary Development Sessions)
Người thử sẽ tham dự 3 buổi đánh giá, thời gian dài nhất của mỗi buổi khoảng 1
tiếng. Trong buổi đầu tiên, người thử sẽ được cung cấp bản danh sách các thuật ngữ riêng
Phương pháp Repertory Grid
Lê Thò Ngọc Hương 24
lẻ và bản danh sách các nhóm thuật ngữ của họ. Tiếp tục thực hiện các bước đánh giá bộ
ba như trên, người thử sẽ sử dụng hai bản danh sách này để mô tả những điểm giống và
khác nhau giữa các loại phomai ( 12 mẫu phomai). Trong buổi thứ hai, những thuật ngữ
được sử dụng nhiều và được đánh giá là quan trọng sẽ được đặt lên một thang đo với
những từ neo, người thử được yêu cầu đánh giá các loại phomai dựa trên cường độ nhận
biết của chúng. Buổi thứ ba, 3 người thử được cung cấp một bản danh sách đã được chỉnh
sửa và tiếp tục đánh giá cường độ nhận biết của chúng.
Bằng cách này, những thuật ngữ đồng nghóa, trùng lấp hoặc dư thừa sẽ được phát
hiện và loại ra khỏi danh sách và một bản từ vựng về đònh nghóa của 20 thuật ngữ mô tả
bao bì phomai Cheddar được xác đònh. Những bao bì thể hiện rõ nhất từng thuật ngữ cũng
được xác đònh. Ý nghóa của các thuật ngữ tương tự nhau đối với tất cả người thử và họ đánh
giá các thuật ngữ này theo cùng một cách. Nghiên cứu này chỉ đánh giá những tính chất
cảm quan về bao bì và nhãn hiệu không đánh giá về thực phẩm (phomai) nên ko có việc
thử mẫu.
3.2. Một tài liệu về phương pháp Repertory Grid để đánh giá sự
chấp nhận của người tiêu dùng Úc về sản phẩm thực phẩm sản xuất theo công
nghệ mới (Melanie Mireaux, David N. Cox , Amy Cotton, Greg Evans; 2007)
Mục đích của nghiên cứu là thăm dò sự chấp nhận những công nghệ mới trong thực
phẩm, Phương pháp Repertory Grid method được sử dụng tập trung vào 13 nhóm thuộc 2
nhóm tuổi (trẻ 20-40 tuổi và già 40-60 tuổi). 72 người được xem qua bản mô tả về 12 sản
phẩm sản xuất theo các kó thuật mới và đã được công bố, nhóm thành 4 bộ ba. Để thuận
tiện mhững người thử sẽ cho điểm trên thang điểm không cấu trúc trên mỗi máy ví tính
của mỗi người.
một vài loại thực phẩm ứng dụng công nghệ mới, sử dụng phép thử mô tả về 1 số loại thực
phẩm đặc trưng sử dụng những công nghệ mới này và với những sản phẩm đã có mặt trên
thò trường.
Phương pháp
Phương pháp RepGrid gồm 2 giai đoạn, đầu tiên xây dựng các đặc tính, thứ 2 là cho
điểm sản phẩm theo các tiêu chuẩn đó. Người thử sẽ được nhận bộ 3 mẫu. Trong thí
nghiệm này, bản mô tả và phương pháp sản xuất của mỗi sản phẩm cụ thể sẽ được cung
cấp để khuyến khích thảo luận. Người thử sẽ được yêu cầu sẽ xếp loại mô tả sản phẩm và
sẽ được yêu cầu giải thích lí do tại sao chọn sản phẩm này mà không chọn 2 sản phẩm còn
lại. Có thể đưa ra câu hỏi :” Sản phẩm này khác/giống với 2 sản phẩm còn lại ở chỗ nào?”.
Sau khi đã thống nhất ý kiến với nhóm, mô tả sẽ được viết lên bảng và được yêu cầu để
tìm điểm neo (anchor) cho mỗi mô tả.
Không giống như những nghiên cứu RepeGrid khác, sản phẩm không được đem từ
bộ 3 này qua bộ 3 khác do một số công nghệ chỉ sử dụng cho một số sản phẩm đặc trưng.
Tuy nhiên, người thử sẽ phải cho điểm tất cả các sản phẩm theo tất cả các mô tả mà người
thử có thể đưa ra, và việc phân tích phải bao gồm tất cả các sản phẩm.
Người thử
72 người mới được công ty nghiên cứu thò trường lựa chọn từ khu vực Adelaide,
phía nam nước Úc, được hỏi về độ tuổi, đã từng mua thòt bò, tôm, margarine và nước ép
cam và không tham gia bất cứ nghiên cứu tương tự trong vóng 12 tháng trước. Người thử
tình nguyện và sẽ nhận 40 đô Úc cho phí đi lại. Có 3 nhóm nam, 3 nhóm nữ thuộc độ tuổi
từ 20-40 và 4 nhóm nam và 3 nhóm nữ độ tuổi 41-60. Nghiên cứu được thực hiện bởi
CSIRO Health Sience và Nutrition Human Ethics Committee.
Sản phẩm
12 sản phẩm nhóm thành 4 bộ 3, mỗi bộ 3 gồm 3 sản phẩm thực phẩm tương tự để
đánh giá sự chấp nhận của mỗi công nghệ.